Trần lão cười ha hả nói: "Ý ông là, chúng ta chỉ có thể phát triển theo hướng máy bay ném bom chiến lược B-2 của Mỹ thôi sao?"
Lâm Bằng gật đầu đáp: "Đúng vậy, tôi cho rằng về tổng thể bố cục, nó nên là dạng cánh bay (flying wing). Chỉ có thiết kế cánh bay mới là phương án tối ưu nhất cho máy bay ném bom chiến lược tàng hình. Tất nhiên, chúng ta không nhất thiết phải sao chép hoàn toàn máy bay ném bom B-2, mà cần phải có sự sáng tạo, mang bản sắc riêng và đáp ứng đúng yêu cầu của chúng ta!"
Trần lão cười nói: "Tôi cũng nghĩ vậy. Chúng ta thực sự cần dựa trên nền tảng kỹ thuật hàng không hiện có cùng với nhu cầu tác chiến chiến lược của quốc gia để xác định xem máy bay ném bom tầm xa của chúng ta nên được thiết kế như thế nào. Chẳng hạn như kích thước, trọng lượng và tầm bay bao nhiêu? Các thông số kỹ thuật này đều phải tương thích với yêu cầu về năng lực răn đe chiến lược của quốc gia. Cậu nói tiếp đi."
Lâm Bằng trình bày: "Tôi cho rằng, thế hệ máy bay ném bom chiến lược tầm xa mới của chúng ta trước hết phải có khả năng bay liên lục địa, tầm bay ít nhất phải đạt 12.000 km hoặc xa hơn nữa. Như vậy, nó sẽ có bán kính tác chiến khoảng 5.000 km, cộng thêm tầm bắn của các loại tên lửa hành trình phóng từ trên không trong tương lai, tổng bán kính tác chiến có thể đạt 7.000 đến 8.000 km. Đây là yêu cầu tối thiểu, vì vậy việc chọn bố cục cánh bay sẽ mang lại ưu thế lớn về tầm bay và bán kính tác chiến."
Thực tế, bố cục cánh bay cũng giống như bố cục kiểu vịt (canard), đã xuất hiện từ rất sớm.
Chiếc máy bay đầu tiên trên thế giới, Flyer I của anh em nhà Wright, chính là sử dụng bố cục kiểu vịt.
Còn về bố cục cánh bay, sau khi Tiến sĩ Ludwig Prandtl công bố lý thuyết về cánh bay tại Göttingen vào năm 1918, bắt đầu có những người thử nghiệm thiết kế loại máy bay kỳ lạ không có thân và đuôi này.
Tất nhiên, vào thời điểm đó, việc thiết kế một chiếc máy bay cánh bay có thể bay ổn định là vô cùng khó khăn, nhưng điều đó không ngăn cản được niềm đam mê của các kỹ sư hàng không.
Bởi vì bố cục cánh bay giúp loại bỏ hoàn toàn thân máy, cánh đuôi ngang và cánh đuôi đứng, chỉ giữ lại phần cánh để chứa phi hành đoàn và hệ thống động lực, từ đó giảm thiểu lực cản khí động học xuống mức thấp nhất.
Nhà thiết kế máy bay người Mỹ Jack Northrop đã dựa trên các nghiên cứu năm 1924 để chế tạo ra chiếc máy bay cánh bay đầu tiên trên thế giới, thực hiện chuyến bay thử nghiệm vào năm 1926.
Năm 1929, nhà thiết kế máy bay nổi tiếng Northrop cũng đã thiết kế và chế tạo thành công một chiếc máy bay cánh bay, được đặt tên là "1929 Flying Wing".
Gần như cùng thời điểm đó, anh em nhà Horten ở Đức – những người cực kỳ say mê loại bố cục này – cũng đã thiết kế một loại tàu lượn cánh bay mang tên Ho I vào đầu những năm 30.
Sau khi gia nhập Không quân Đức, anh em nhà Horten bắt đầu cân nhắc việc ứng dụng cánh bay vào quân sự. Vào đầu những năm 40 của thế kỷ 20, họ bắt tay nghiên cứu tiềm năng của chiến đấu cơ cánh bay và thiết kế ra mẫu Ho 229. Mẫu máy bay này được định vị là máy bay ném bom chiến đấu, cũng là loại chiến đấu cơ cánh bay đầu tiên trên thế giới.
Loại máy bay có hình dáng chỉ gồm cánh mà không có thân, nơi thân và cánh hòa làm một này, không nghi ngờ gì chính là bố cục có hiệu suất khí động học cao nhất, bởi vì toàn bộ cấu trúc thân máy đều đóng vai trò là cánh, vừa tạo lực nâng vừa giảm thiểu tối đa lực cản.
Tuy nhiên, bố cục khí động học cánh bay là một dạng bố cục tĩnh không ổn định. Có sự khác biệt rất lớn giữa máy bay thiết kế theo nguyên lý tĩnh ổn định và tĩnh không ổn định.
Máy bay tĩnh ổn định trong quá trình bay, phi công có thể buông tay lái và chân điều khiển mà máy bay vẫn duy trì trạng thái bay ổn định.
Máy bay tĩnh không ổn định thì không có đặc tính này. Nói cách khác, nếu không có bất kỳ hệ thống điều khiển bay tự động hỗ trợ nào, phi công phải liên tục điều chỉnh các bề mặt lái để duy trì tư thế bay, tránh việc máy bay rơi vào trạng thái mất kiểm soát.
Trong thời đại chưa có máy tính, việc vận hành một chiếc máy bay có bố cục tĩnh không ổn định là điều gần như không thể. Vì vậy, các mẫu máy bay cánh bay của Đức đều không thể đưa vào sử dụng thực tế và đã gặp phải những sự cố nghiêm trọng trong quá trình bay thử.
20 chiếc Ho 229A chưa hoàn thiện cùng các phiên bản cải tiến mới nhất đã rơi vào tay quân Đồng minh. Tất nhiên, cùng với đó là toàn bộ dây chuyền sản xuất và tài liệu kỹ thuật về dự án cánh bay "Horten".
Northrop cũng từng thiết kế hai loại máy bay ném bom cánh bay là YB-49 và XB-35. Trong đó, XB-35 sử dụng động cơ cánh quạt và đã tiến vào giai đoạn tiền sản xuất.
YB-49 chỉ dừng lại ở giai đoạn nguyên mẫu. Cả hai loại máy bay ném bom cánh bay này đều bay thử vào cuối những năm 40 nhưng không thể đưa vào biên chế quân đội. Nguyên nhân là do những khiếm khuyết cố hữu trong hệ thống điều khiển của cánh bay; khi chưa có máy tính điều khiển bay hiện đại, loại máy bay này vẫn chưa đủ độ chín muồi. Chiếc nguyên mẫu YB-49 thứ hai thậm chí đã gặp sự cố nghiêm trọng, dẫn đến việc máy bay bị phá hủy và phi hành đoàn tử nạn.
Mãi cho đến cuối thập niên 70, tập đoàn Northrop mới tận dụng được những kinh nghiệm và kỹ thuật tích lũy từ dự án XB-35 và YB-49 để giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh dự án máy bay ném bom chiến lược thế hệ mới của quốc gia, từ đó chế tạo thành công máy bay ném bom tàng hình B-2 "Spirit".
Một điểm thú vị là sải cánh của máy bay ném bom B-2 cũng tương đương với YB-49, đạt mức 52,4 mét (58,52 mét), biến huyền thoại phi cơ cánh bay của Northrop trở thành hiện thực.
Máy bay ném bom B-2 sở hữu thiết kế cánh bay với thân và cánh hòa làm một, giúp giảm thiểu đáng kể lực cản nhiễu và lực cản cảm ứng. Toàn bộ khung thân máy bay hình thành một khối tạo lực nâng khổng lồ, cho phép cải thiện đáng kể thời gian bay, tầm hoạt động và tải trọng hữu ích. Chính vì vậy, dù B-2 trông không quá lớn nhưng tầm bay lại đạt tới khoảng 12.000 km.
Do đó, ưu thế của bố cục cánh bay là điều mà bất kỳ chuyên gia hàng không nào cũng nắm rõ.
Trần lão cười nói: "Vậy máy bay ném bom tầm xa của chúng ta nếu chọn sử dụng bố cục cánh bay, thì cần phải có thiết kế gì khác biệt so với B-2 mới có thể gọi là sáng tạo chứ?"
Lâm Bằng suy nghĩ một chút rồi đáp: "Tôi cho rằng chúng ta vẫn nên thiết kế máy bay ném bom tầm xa của mình có khả năng đạt tốc độ siêu thanh nhất định. Máy bay ném bom tàng hình B-2 vì sử dụng bố cục cánh bay thân ngắn sải cánh rộng nên không thể bay ở tốc độ siêu thanh. Nhưng chúng ta có thể cân nhắc tăng độ xuôi của cánh, kéo dài thân máy và trang bị bốn động cơ phản lực cánh quạt đẩy có buồng đốt tăng lực. Như vậy, có thể tính toán được rằng máy bay ném bom tầm xa của chúng ta sẽ có thân máy dài hơn B-2, đồng thời trọng lượng cất cánh tối đa cũng sẽ vượt qua con số 170 tấn của B-2, chúng ta có thể đạt tới trên 200 tấn. Nhờ đó, máy bay có thể mang theo nhiều nhiên liệu và vũ khí hơn, tầm bay lý tưởng khi không cần tiếp nhiên liệu trên không có thể đạt tới 13.000 km, với tải trọng vũ khí tối đa là 30 tấn."
"Hơn nữa, nhờ thiết kế độ xuôi cánh lớn cùng bốn động cơ có buồng đốt tăng lực, máy bay ném bom tầm xa sẽ có khả năng duy trì tốc độ siêu thanh trong thời gian ngắn, điều này cực kỳ hữu dụng khi cần đột phá phòng tuyến đối phương." Trong lòng Lâm Bằng cũng đang hồi tưởng lại hình ảnh máy bay ném bom tầm xa xuất hiện trong kiếp trước, quả thực vô cùng chấn động.
Trần lão không khỏi cảm khái: "Không tồi, nếu thực sự làm được như vậy, quốc gia chúng ta trong lĩnh vực máy bay ném bom chiến lược sẽ từ chỗ bám đuổi trở thành sánh vai, thậm chí là dẫn đầu tương lai! Thực ra ngay từ thập niên 70, quốc gia cũng từng có kế hoạch phát triển máy bay ném bom tầm xa, đáng tiếc là điều kiện khi đó chưa cho phép nên dự án cuối cùng phải hủy bỏ. Lần này khi đã quyết tâm khởi động lại, chúng ta nhất định phải làm cho bằng được!"