Chương 1092: Đại chiến sông Tú Thủy (1)
Trương Dụ hoành đao lẫm liệt đứng trên đại kiều bắc ngang qua sông Tú Thủy. Dưới chân ông, dòng nước cuồn cuộn gào thét, từng đợt sóng dữ dội tung bọt trắng xóa, cuốn theo vô số cành củi khô và lá mục xoáy mạnh về phía hạ du. Thỉnh thoảng, giữa dòng nước xiết ấy còn thấp thoáng xác súc vật hoặc thi thể của những kẻ xấu số chết đuối dập dềnh theo sóng nước.
Kể từ ba ngày trước, thám báo của hai quân Minh - Tần đã triển khai những đợt truy sát đẫm máu bên bờ tây sông Tú Thủy. Mỗi ngày đều có người ngã xuống. Có đôi khi, người ta còn thấy thi thể thám báo mặc quân phục đối phương trôi dạt từ thượng nguồn về, bị dòng nước bạc cuốn đi xa tít tắp. Trương Dụ, với trọng trách thủ vệ đại kiều, chỉ có thể đứng trên cao, trầm mặc nghiêng mình hành lễ tiễn đưa những đồng đội đã tử trận. Sóng nước hung hãn thế kia, tuyệt đối không thể xuống vớt, chỉ hy vọng tại những khúc sông lặng ở hạ lưu, quân bạn sẽ phát hiện và an táng cho họ.
Sông Tú Thủy danh không xứng với thực, chẳng hề thanh tú dịu dàng mà ngược lại vô cùng cuồng bạo. Đặc biệt khi bước vào mùa mưa dầm, vô số nhánh sông nhỏ đổ về khiến mực nước dâng cao đột ngột. Đại kiều Tú Thủy là một tòa bát khổng thạch kiều (cầu đá tám nhịp) hiếm thấy tại vùng biên cảnh nước Tần. Mặt cầu rộng rãi, đủ sức cho những xe ngựa tải trọng lớn lưu thông. Đây vốn là con đường huyết mạch nối liền Hổ Lao với nội địa Tần quốc.
Hiện tại, nơi đây hiển nhiên trở thành yếu điểm chiến lược mà hai bên tranh giành quyết liệt.
Năm ngày trước, Trương Dụ thống lĩnh năm trăm tướng sĩ tiến đến Tú Thủy, bắt đầu xây dựng phòng tuyến. Nhiệm vụ thượng cấp giao phó rất rõ ràng: Thủ vững đại kiều, tuyệt không để bất cứ kẻ địch nào vượt qua.
Nơi đầu cầu, hai tòa lô cốt cao tới bốn thước đã sừng sững mọc lên. Thân lầu màu xám tro thô ráp mang lại cho Trương Dụ một cảm giác an tâm lạ thường. Việc đầu tiên ông làm khi tới đây chính là dựng lên hai cứ điểm này. Do tầm quan trọng của đại kiều, vị trưởng quan của ông đã đặc cách vận chuyển từ tuyến trên tới mấy chục bao "thủy nê" (xi măng). Đây là thứ mà Trương Dụ lần đầu trông thấy. Kỹ thuật xây dựng của những người thợ đi cùng đám thủy nê này cũng khiến ông phải mở mang tầm mắt.
Đầu tiên là đào hố sâu. Đất ven sông ẩm ướt nên việc đào bới cực kỳ thuận lợi. Binh sĩ chỉ mất nửa ngày đã đào xong tám hố sâu cho hai tòa lô cốt. Dưới sự chỉ dẫn của thợ cả, họ cắm cốt thép xuống, bao quanh bằng khuôn mẫu, sau đó đem thủy nê trộn cùng cát đá và nước thành một thứ bùn nhão nhoét rồi đổ vào khuôn. Chỉ sau một ngày dưới ánh mặt trời gay gắt, tám trụ cột xám xịt đã sừng sững dựng lên.
Tiếp đó, từng khối đá xanh lấy từ dưới sông được thứ gọi là thủy nê kia gắn kết chặt chẽ với nhau. Bên ngoài lại được trát thêm một tầng thủy nê dày đặc. Chỉ trong ba ngày, hai tòa lô cốt đã hiện diện trước mắt Trương Dụ. Dù vẻ ngoài chẳng mấy mỹ quan, nhưng trong mắt Trương Dụ, đây quả thực là kiệt tác chấn kinh thiên nhân.
Phía sau lô cốt có thể trú quân, còn tầng trên được lắp đặt bốn đài cơ nỏ. Hai tòa lô cốt với tám đài cơ nỏ đủ sức phong tỏa một phạm vi rộng lớn. Trương Dụ hiểu rất rõ, đối với kẻ tấn công, tiến vào tầm bắn của cơ nỏ chính là bước chân vào tử địa không có lối thoát.
Nối liền hai tòa lô cốt là bức tường thành xây bằng đá xanh kiên cố. Phía sau đó lắp đặt hai cỗ cường nỏ hạng nặng. Loại cường nỏ này tốc độ bắn tuy không nhanh, nhưng uy lực vô song, viễn siêu các loại nỏ thông thường. Theo lời các đại tượng nghiên cứu ra loại vũ khí này, ngay cả cao thủ cấp Tông sư cũng không dám trực diện chống đỡ một kích chính diện.
Đây là loại khí giới mới vừa được phối cấp cho quân đội, hoàn toàn khác biệt với cường nỏ trước đây. Không còn thấy dây cung lộ ra ngoài, việc lên nỏ được thực hiện bằng trục quay tay, tên nỏ được đặt trong một ống đồng dài. Trương Dụ đã thử nghiệm một lần, trong vòng trăm trượng, nó có thể bắn xuyên thấu một thân cây đại thụ ôm không xuể. Uy lực kinh thiên động địa ấy khiến ông cũng phải rùng mình kinh hãi.
Loại nỏ này chuyên dùng để phá hủy thuẫn trận hoặc công cụ công thành của địch. Theo Trương Dụ thấy, bất kỳ khí cụ tấn công nào cũng khó lòng chống đỡ nổi một đòn của nó.
Trương Dụ vốn là người nước Sở, thuộc lứa binh sĩ đầu tiên tạo nên Bảo Thanh Doanh năm xưa. Trong số mấy ngàn lính Sở vượt biển năm ấy, đến nay chỉ còn lại chưa đầy hai ngàn người. Một nửa trong số đó vì thương tật mà xuất ngũ, số còn lại tiếp tục phục vụ trong Bảo Thanh Doanh. Năm ngoái, tướng quân Giang Thượng Yến đã mang đi tám trăm người. Hơn hai trăm người quyết định ở lại Đại Minh đều đã thành gia lập nghiệp, lấy vợ sinh con, bén rễ tại mảnh đất này.
Hiện nay, lực lượng chỉ huy nòng cốt của Bảo Thanh Doanh chính là những cựu binh như họ. Trương Dụ giờ đã là Đô úy, thống lĩnh năm trăm quân, bổng lộc đủ nuôi sống cả gia đình. Vợ ông vốn là tiểu thư của một gia tộc lớn tại quận Khai Bình, chẳng những không cần ông nuôi mà còn mang theo của hồi môn sung túc. Tâm nguyện duy nhất của nàng là mong ông thăng quan tiến chức, có một tiền đồ xán lạn trên chốn quan trường. Chính vì vậy, Trương Dụ trong quân ngũ cư xử rất hào sảng, năm trăm thuộc hạ đều từng nhận ân huệ của ông, đối với ông trung thành tuyệt đối. Đây cũng là đơn vị được công nhận có sức chiến đấu mạnh mẽ nhất Bảo Thanh Doanh. Nếu không, nhiệm vụ trấn giữ đại kiều Tú Thủy đầy hiểm nguy này đã chẳng rơi vào tay ông.
Rủi ro càng cao, báo đáp càng lớn. Chỉ cần giữ vững đại kiều chính là lập được đại công. Đây là lời của Doanh thống Trâu Chính đích thân căn dặn trước khi xuất quân. Dĩ nhiên, nếu để mất cầu, ông phải nộp đầu theo quân pháp.
Trương Dụ chẳng mấy bận tâm đến việc giữ cái đầu trên vai, bởi ông hiểu rõ, hoặc là thủ vững cầu lập công lớn, hoặc là chiến tử sa trường khi địch quân tràn qua. Một khi đã chết, việc có bị chém đầu hay không đâu còn ý nghĩa gì?
Chìa khóa của đại kiều Tú Thủy nằm ở chiến lược của quân Minh: Họ muốn kiềm chế bộ binh của Uyển Nhất Thu bên bờ tây, không cho quân Tần vượt sông quy mô lớn. Điều này sẽ khiến hai cánh quân Tần nhô cao, đội hình từ chữ "Phẩm" (△) biến thành chữ "Phẩm" ngược (▽). Khi đó, tiền phong Uyển Nhất Thu sẽ bị cô lập, không thể chi viện hiệu quả cho hai cánh, tạo điều kiện cho quân Minh chặt đứt liên kết và tiêu diệt từng bộ phận địch.
Mọi tàu thuyền dọc hai bờ Tú Thủy đều đã bị quân Minh phá hủy. Ngay cả những cánh rừng có thể dùng để đóng bè cũng bị phóng hỏa thiêu rụi. Uyển Nhất Thu muốn qua sông không phải chuyện dễ dàng. Dù sau này mực nước có giảm, quân lính có thể lội qua, nhưng quân nhu lương thảo đồ sộ làm sao vận chuyển?
Bởi vậy, chiếm đoạt đại kiều Tú Thủy là lựa chọn duy nhất của Uyển Nhất Thu. Và điều đó cũng đặt Trương Dụ vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc.
Rảo bước đến trước hai tòa lô cốt, Trương Dụ cầm sống đao gõ nhẹ vào mặt tường. Âm thanh phát ra khiến ông rất hài lòng. Trận mưa hôm qua từng làm ông lo lắng thứ thủy nê này không kịp khô, nhưng giờ xem ra nó rất kiên cố. Hơn nữa, hôm nay trời hửng nắng to, dưới sức nóng, những bức tường đá lại càng thêm cứng cáp.
Trên cầu, các binh sĩ giáp trụ chỉnh tề, dù mồ hôi đầm đìa vẫn giữ đúng quân dung. Phía trước, trên những gò đất cao, một nửa số sĩ tốt đang hò hét đẩy những phiến đá khổng lồ từ lòng sông lên, xếp thành những chướng ngại vật kiên cố trên đường.
Quân Minh hiện nay, ngoại trừ bộ binh hạng nặng của Khoáng Công Doanh, các Dã Chiến Doanh khác đều đã đổi trang bị. Những bộ khôi giáp nặng nề trước kia bị loại bỏ, thay bằng loại bán thân giáp nhẹ nhàng hơn. Dù chỉ bảo hộ những bộ phận yếu hại ở nửa thân trên, nhưng nó giúp giảm bớt gánh nặng cho binh sĩ, tăng cường linh hoạt trong tác chiến.
Là một tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm trận mạc, Trương Dụ hiểu rõ sự thay đổi nhỏ này mang lại lợi ích lớn thế nào cho sức chiến đấu của quân đội. So với tỏa tử giáp trước đây, loại bán thân giáp này ưu việt hơn hẳn.
Đẩy cửa bước vào gian phòng phía sau lô cốt bên trái, ông thấy một thanh niên đang bận rộn. Từng bao dược liệu, từng hũ thuốc thành phẩm được sắp xếp ngăn nắp trên giá gỗ. Hai bên tường đặt hai chiếc giường nhỏ, khiến không gian vốn chật hẹp càng thêm tù túng.
Vị thanh niên này là một trong những quân y của Bảo Thanh Doanh. Tuy không mặc quân phục nhưng vẫn có quân chức. Xuất thân của người này không hề tầm thường, tốt nghiệp từ Thái Y Thự tại Việt Kinh. Đó là nơi được đích thân các ngự y truyền thụ y thuật, ngay cả Thần y Thư Phong Tử danh chấn thiên hạ cũng là một trong những giảng sư. Tài năng của người này chắc chắn vượt xa đám thầy thuốc thông thường trong doanh.
Chàng trai trẻ này mới đến Bảo Thanh Doanh không lâu, vừa tốt nghiệp đã nung nấu ý chí lập công, chủ động xin ra tiền tuyến hiểm nguy nhất. Trâu tướng quân vốn không nỡ, nhưng vì cấp dưới khẩn thiết cầu xin, lại thêm Trương Dụ hết lời nài nỉ nên mới gật đầu đồng ý. Trước khi đi, vị tướng quân còn cảnh cáo Trương Dụ phải bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người này, dù Trương Dụ có chết cũng phải giữ cho vị quân y được bình an.
Trương Dụ dĩ nhiên vỗ ngực hứa hẹn. Trên chiến trường khốc liệt, có một đại phu y thuật cao minh chính là có thêm một mạng sống. Việc Đại Minh phân phối đại phu trực tiếp xuống từng đơn vị cơ sở khiến Trương Dụ vô cùng tâm đắc. Đãi ngộ này ở quân Sở năm xưa là điều không tưởng. Khi đó, chỉ khi đại chiến nổ ra mới chiêu mộ đại phu ở hậu phương, nhưng việc vận chuyển thương binh từ tiền tuyến về là cả một cực hình, biết bao huynh đệ đã trút hơi thở cuối cùng trên con đường ấy.
“Vương đại phu, chuẩn bị thế nào rồi?” Trương Dụ cười rạng rỡ. Ngay khi vị này vừa đến, ông đã huênh hoang tuyên bố với binh sĩ về y thuật cao siêu của đại phu từ Thái Y Thự kinh thành. Theo lời ông, chỉ cần không bị đập nát đầu, chỉ cần còn một hơi tàn, vị Vương Lăng Ba đại phu này đều có thể giật lại mạng sống từ tay Diêm Vương.
Đối với binh sĩ, đại phu của Thái Y Thự vốn chỉ dành cho các bậc đại nhân vật. Nay có một người như vậy ở bên cạnh, sĩ khí quân đội lập tức tăng cao, ai nấy đều cảm thấy tính mạng mình được thêm một tầng bảo hộ.
“Ta lại hy vọng sau khi khai chiến, những thứ này của ta đều không phải dùng đến!” Vị đại phu trẻ tuổi có chút ngượng ngùng, giọng nói ôn hòa nhỏ nhẹ nhưng đôi tay vẫn thoăn thoắt sắp xếp dao kéo ngăn nắp trên giá.
“Ta cũng mong thế, nhưng chiến trường đao kiếm không có mắt, sao tránh khỏi thương vong? Có Vương đại phu ở đây, huynh đệ chúng ta như được tiếp thêm một mạng rồi. Đến lúc đó phải làm phiền ngài vất vả.”
“Đây là phận sự của ta, sao dám nói lời vất vả!”