Tại căn cứ không quân của Hoàng gia Không quân nước Quá, một buổi diễn tập đối kháng trên không hữu nghị đang dần bắt đầu.
Đơn vị đầu tiên xuất trận là tiêm kích J-20 cùng tiêm kích Gripen. Tất nhiên, để tránh mang tiếng bắt nạt, lần này tiêm kích J-20 sẽ thực hiện bài tập một chọi hai, tức là Diệp Tử sẽ điều khiển một chiếc J-20 để khiêu chiến với hai chiếc tiêm kích Gripen của Hoàng gia Không quân nước Quá. Hơn nữa, lần này Diệp Tử vẫn không sử dụng máy bay cảnh báo sớm hỗ trợ, trong khi phía Gripen lại được trang bị một chiếc máy bay cảnh báo sớm Erieye để cung cấp dẫn đường trên không.
Thực ra nghĩ lại cũng phải, nếu là một chọi một mà cả hai bên đều không có máy bay cảnh báo sớm hỗ trợ, thì trận đấu gần như không có gì để bàn. J-20 là tiêm kích tàng hình thế hệ thứ năm, đối đầu với tiêm kích hạng nhẹ thế hệ 4.5 như Gripen, chẳng khác nào đang chơi đùa.
Điều thú vị lúc này là máy bay cảnh báo sớm KJ-200 của Không quân Trung Quốc và máy bay cảnh báo sớm Erieye của Hoàng gia Không quân nước Quá đều sử dụng radar cảnh báo dạng "cầu thăng bằng". Thậm chí trên mạng còn có tin đồn cho rằng KJ-200 là bản sao chép từ Erieye.
Kỳ thực, đây hoàn toàn là lời đồn nhảm. Mặc dù cả KJ-200 và Erieye đều sử dụng cấu trúc radar dạng cầu thăng bằng và thiết kế radar giống nhau – đều là radar AESA băng tần S, bao gồm hơn một trăm mô-đun T/R trạng thái rắn cùng hơn 4.000 đơn vị ăng-ten – nhưng chúng hoàn toàn không có mối liên hệ tất yếu nào. Dự án KJ-200 được khởi động từ năm 2003, về cơ bản không thể nào tiếp cận được công nghệ của Erieye.
Radar của KJ-200 có quy mô lớn hơn, cửa hút gió làm mát cũng lớn hơn nhiều, nên công suất hiển nhiên cao hơn. Hơn nữa, nền tảng máy bay mang theo cũng không cùng đẳng cấp. KJ-200 sử dụng máy bay vận tải hạng trung Y-9 với trọng lượng cất cánh tối đa gần 80 tấn, trong khi Erieye sử dụng máy bay chở khách hạng nhẹ hai động cơ, trọng lượng cất cánh tối đa chỉ hơn 20 tấn, chưa bằng một phần ba của KJ-200.
Loại radar cảnh báo dạng cầu thăng bằng này hiện đã lỗi thời. Vấn đề cốt lõi của cấu trúc này là có góc chết giám sát; phần đầu và đuôi máy bay tồn tại vùng mù radar, định sẵn là không có tương lai. Hiệu năng của nó kém xa so với các loại radar mảng pha quét điện tử chủ động kỹ thuật số như KJ-500. Mặc dù Erieye có cự ly dò tìm tối đa đạt 450 km, nhưng xét về phương diện hiệu năng thì khoảng cách quá lớn; Erieye thiếu chế độ tác chiến trên biển, khả năng tìm kiếm mục tiêu trên mặt biển không tốt.
Nó cũng không có chế độ tìm kiếm mục tiêu tầng thấp với tiết diện phản xạ radar nhỏ, còn về năng lực tác chiến điện tử thì Erieye hoàn toàn không có.
Hệ thống radar của Erieye có thể tích và trọng lượng rất nhỏ, có thể lắp đặt trên các loại máy bay chở khách cỡ nhỏ hoặc máy bay công vụ, tính năng trên giá thành rất nổi bật. Việc sử dụng thuận tiện, chi phí bảo trì rẻ là ưu thế của nó, nhưng hiệu năng lại rất hạn chế. Vì vậy, trong lần này, vai trò của máy bay cảnh báo sớm Erieye cực kỳ hạn chế, bởi vì nó rất khó phát hiện được các tiêm kích tàng hình như J-20 từ khoảng cách xa.
Tại đây, Diệp Tử cũng đã cẩn thận quan sát tiêm kích Gripen của Hoàng gia Không quân nước Quá, thậm chí còn được vào tận buồng lái để trải nghiệm trạng thái tĩnh.
Tiêm kích Gripen, cũng giống như tiêm kích J-10, sử dụng bố cục cánh vịt, nhưng nó nhỏ hơn J-10 rất nhiều. Đây là một mẫu tiêm kích hạng nhẹ điển hình, sử dụng một động cơ F414, trọng lượng cất cánh tối đa khoảng 14 tấn, trong khi tiêm kích J-10C sử dụng một động cơ nội địa, trọng lượng cất cánh tối đa lên tới 22 tấn. Có thể nói Gripen nhỏ hơn J-10C khoảng một phần ba, dù cả hai đều thuộc dòng tiêm kích thế hệ 4.5.
Về phía các phi công của Hoàng gia Không quân nước Quá, họ cũng đang quan sát tiêm kích J-20. Tuy nhiên, buồng lái của J-20 không được phép tham quan, nên họ chỉ có thể quan sát từ bên ngoài.
Trong mắt họ, J-20 trông giống như sự kết hợp giữa tiêm kích F-22 Raptor phóng đại và tiêm kích tấn công F-35. Nó sử dụng cửa hút gió DSI tương tự như F-35 nhưng phần gờ nổi lại khác biệt rõ rệt. Thực ra, các phi công không hề biết rằng đây chính là thiết kế cửa hút gió DSI "thanh thản ứng" do công nghiệp hàng không Trung Quốc sáng tạo độc quyền, có hiệu suất vượt trội hơn hẳn so với phần gờ nổi cố định trên F-35.
Tiêm kích J-20 khoác trên mình lớp sơn ngụy trang màu xám bạc, một đặc trưng của tiêm kích tàng hình, khiến nó toát lên khí thế ngạo nghễ giữa tầng không.
Và J-20 hoàn toàn có tư cách để ngạo nghễ, bởi nó là tiêm kích tàng hình thứ hai trên thế giới được đưa vào biên chế, thời điểm gia nhập hàng ngũ gần như đồng thời với F-35 và chỉ chậm hơn F-22 một chút.
Tiêm Oanh-8 sở hữu khung thân máy bay khổng lồ với tạo hình đậm chất khoa học viễn tưởng. Từ phần mũi máy bay hình thoi với các đường cắt góc cạnh, khoang lái tích hợp liền khối, hệ thống cánh đuôi toàn động cho đến cửa hút khí DSI, tất cả đều toát lên vẻ hiện đại, tựa như một tác phẩm nghệ thuật tinh xảo.
Mẫu Tiêm Oanh-8 này chính là tâm huyết của Lâm Bằng, cũng là thành quả nỗ lực của ngành hàng không Trung Quốc, xứng danh là một trong những chiến đấu cơ mạnh mẽ nhất thế giới.
Nói các phi công Không quân Hoàng gia Pakistan không ngưỡng mộ là điều dối lòng. Họ thừa sức nhận ra sức mạnh của dòng chiến đấu cơ tàng hình này; đây mới chính là chiến đấu cơ tàng hình thực thụ, và lần này họ đã hoàn toàn mất đi lợi thế.
Dù năm ngoái họ từng dễ dàng đánh bại tiêm kích J-11A của Không quân Trung Quốc, nhưng J-11A vốn chỉ là dòng chiến đấu cơ thế hệ thứ ba đời đầu, được lắp ráp từ linh kiện của dòng Su-27 mà ngành công nghiệp hàng không Trung Quốc nhập khẩu từ Liên Xô cũ, hiện nay đã gần như bị loại biên.
Năm ngoái, các phi công Không quân Hoàng gia Pakistan cũng từng bay thử J-11A và đi đến kết luận rằng: loại chiến đấu cơ thế hệ thứ ba đời đầu này quá kém cỏi, ngay cả khi tỉ lệ là một chọi sáu, chiến đấu cơ F-16 (Ưng Sư) vẫn có thể dễ dàng giành chiến thắng.
Nguyên nhân là bởi J-11A vẫn sử dụng thiết kế khoang lái từ thập niên 80, đầy rẫy các đồng hồ cơ học và nút bấm, hoàn toàn thiếu đi sự hiện đại hóa. Hơn nữa, radar trên máy bay vẫn là loại N001 đời cũ với hiệu năng rất hạn chế, tầm quét chưa đầy 100 km và độ chính xác thấp, thua xa radar trên F-16.
Về vũ khí, J-11A cũng không mấy ấn tượng. Tên lửa đối không R-27 là loại tên lửa dẫn đường bằng radar bán chủ động, sau khi phóng, máy bay vẫn phải tiếp tục duy trì chiếu xạ mục tiêu. Tên lửa tầm gần R-73 cũng đã quá lạc hậu, không thể so sánh với các loại tên lửa tầm trung và tầm xa tiên tiến được trang bị trên F-16.
Về khả năng cơ động, dù J-11A có thể thực hiện kỹ thuật "rắn hổ mang" (Cobra maneuver), nhưng động tác này hoàn toàn vô dụng trong không chiến tầm xa, nơi sự linh hoạt của F-16 chiếm ưu thế tuyệt đối.
Chính vì vậy, năm ngoái Không quân Hoàng gia Pakistan đã dễ dàng đánh bại J-11A. Thế nhưng, họ không ngờ rằng năm nay Không quân Trung Quốc lại phái đến Tiêm Oanh-8 và J-10, khiến áp lực đè nặng lên vai Không quân Hoàng gia Pakistan.
Ngay cả khi đối đầu với J-10, F-16 cũng không nắm chắc phần thắng, chưa nói đến Tiêm Oanh-8. Mặc dù mang danh là tiêm kích kiêm cường kích, nhưng thực tế năng lực không chiến của nó hoàn toàn nghiền nát các dòng chiến đấu cơ thế hệ 3.5.
Đây là sự chênh lệch đẳng cấp, tựa như mãnh sư có sự áp chế huyết thống tự nhiên đối với báo đốm vậy.