Chương 1199: An Trí
Trận quyết chiến "đập nồi dìm thuyền" của quân Tần tại Song Liên Thành cuối cùng đã khép lại trong sự bại vong thảm hại. Thành quả duy nhất họ đạt được là dùng mấy cỗ cường nỏ phá tan một đoạn hàng rào dài hơn trăm mét của đại doanh quân Minh, nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó. Mũi tiến công của quân Tần thậm chí còn chưa kịp chạm tới mặt đất bên trong đã bị bộ binh quân Minh áp chế hoàn toàn.
Khi đôi bên lao vào cuộc giáp lá cà, cường nỏ hay máy nỏ đều trở nên vô dụng. Thế nhưng, trong cuộc đối đầu thuần túy bằng sức người, quân Tần vẫn không tránh khỏi cảnh thảm bại. Những kẻ đủ sức xông lên vốn chẳng còn bao nhiêu, mà dẫu có vọt tới nơi, đối diện với những chiến binh Minh triều đang hồi sung mãn, được ăn no mặc ấm, tinh thần hăng hái, thì những binh sĩ Tần quân gầy guộc như que củi chẳng khác nào lấy trứng chọi đá, bị nghiền nát không thương tiếc.
Khi ánh bình minh ló rạng, chiến sự đã hoàn toàn chấm dứt. Quân Minh bắt đầu dọn dẹp chiến trường. Mặt đất vốn trắng tinh khôi sau trận tuyết đêm qua, giờ đây tựa như một thân thể ngọc khiết băng thanh bị tàn phá bởi những vết loét đầy mủ, khắp nơi là dấu vết hoang tàn của binh đao. Máu tươi loang lổ trên tuyết trắng, dù tuyết vẫn không ngừng rơi nhưng chẳng thể che lấp được những mảng đen đỏ nhức mắt. Những khối tuyết quyện máu đông cứng lại thành băng, bị bước chân binh lính đá lăn lóc trên mặt đất.
Binh sĩ quân Minh kéo thi thể quân Tần xếp thành từng hàng dài ngay ngắn. Mỗi khi tìm thấy di thể đồng đội, họ lập tức gọi người tới, cẩn trọng dùng vải trắng liệm lại rồi đưa về phía sau. Trên cổ mỗi binh sĩ Minh triều đều đeo một thẻ bài bằng sắt, khắc rõ tên họ, chức vụ cùng thông tin cá nhân. Quân Minh sẽ dựa vào đó để thu xếp việc hậu sự và ban phát tiền tuất cho gia đình.
Số lượng quân Tần còn sống sót cũng không ít.
Trong đó có khoảng năm trăm người chiến đấu đến cùng kiệt, hoàn toàn mất đi ý chí mà buông đao đầu hàng. Sau khi bị tước bỏ vũ trang, họ dưới sự giám sát của quân Minh đang lầm lũi thu lượm thi thể đồng ngũ. Lại có những người bị thương nhưng chưa chết, được quân Minh khiêng đi cứu chữa.
Vô số quân giới bị thu gom lại, chất cao như núi. Những thứ này vốn không lọt vào mắt xanh của quân Minh. Chúng sẽ được đưa vào lò rèn để nung chảy. Do chất lượng sắt thép không đạt chuẩn, kết cục của chúng là được đúc thành nông cụ. Những hung khí từng dùng để tước đoạt mạng người giờ đây lại hóa thành công cụ gieo mầm hy vọng, có lẽ đó cũng là chốn về tốt nhất của chúng.
Kẻ sống sót nhiều nhất lại là những lá chắn binh xung phong đi đầu. Họ không may sa chân xuống hố bẫy của quân Minh, nhưng cũng nhờ thế mà tránh được cơn mưa tên như châu chấu từ phía sau. Khi họ định bò lên, thi thể của đồng đội rớt xuống lại đè họ xuống đáy hào. Đến lúc họ bò ra được thì trận chiến đã vãn. Những kẻ ôm tâm thế tử sĩ, xông pha vào nơi mũi tên hòn đạn nhất, chẳng ai ngờ cuối cùng lại là những người còn giữ được mạng sống. Trên chiến trường, kẻ không sợ chết đôi khi lại là kẻ sống sót cuối cùng, nghe có vẻ nghịch lý nhưng lại là sự thật hiển nhiên.
Thi thể của Liên Thiệu Văn được tìm thấy tại nơi gần đại doanh quân Minh nhất. Ông ta đã đột phá tầng tầng lớp lớp phong tỏa, chỉ còn cách đích đến vài bước chân, nhưng lúc ấy sức lực đã cạn kiệt. Trên người găm hàng chục mũi tên, lại bị giáo dài đâm thủng lỗ chỗ, ông ngã xuống nhưng bàn tay vẫn nắm chặt thanh đao không rời.
Một đại tướng từng được Tần Phong hết lời khen ngợi, nếu không bỏ mạng tại đây, tương lai rất có thể sẽ trở thành một danh tướng lừng lẫy, nhưng giờ đây tất cả đều tan thành mây khói. Trần Thiệu Uy đứng trước di thể Liên Thiệu Văn, trầm mặc hồi lâu, sau đó dặn dò thuộc hạ thu liệm tử tế. Khác với sĩ tốt quân Tần thường bị chôn chung một hố, Liên Thiệu Văn xứng đáng có một cỗ quan tài và một tấm bia mộ đá trang nghiêm.
Khi nhận được tin Liên Thiệu Văn tử trận, Tần Phong cũng khẽ thở dài. Tần quốc dù đang trên đà sụp đổ, nhưng sau mấy đời kinh doanh, quả thực vẫn còn những trung thần mãnh tướng đầy khí tiết. Tiếc rằng họ đều phải cuốn theo dòng thác của lịch sử. Những chiến tích bi tráng của họ có lẽ sẽ được kẻ thù ghi nhớ, nhưng khi thế hệ này già đi, tên tuổi của họ cũng sẽ nhạt nhòa, chỉ còn là một vài nét bút đơn sơ trong sử sách.
"Bệ hạ, quân Tần ở Song Liên Thành có ba ngàn người, trừ số tử trận, hiện có hơn một ngàn hai trăm người bị bắt làm tù binh. Cộng thêm hơn hai trăm người Mã tướng quân bắt được trong thành, số tù binh lên đến một nửa. Trong đó có nhiều người trọng thương, hy vọng sống sót rất mong manh. Số còn lại xử trí thế nào? Có cần áp giải về đại bản doanh không?" Trần Thiệu Uy cung kính hỏi.
"Không cần!" Tần Phong xua tay, "Những người này vẫn còn nặng lòng với Tần triều, không thể biên chế vào quân ngũ ngay được. Cách tốt nhất là an trí họ tại chỗ. Chẳng phải trước đó Hoàng Nê Thôn đã tiếp nhận một nhóm thân quyến của quân nhân Song Liên Thành sao? Hãy đưa toàn bộ bọn họ tới đó. Ai còn người thân thì cho đoàn tụ, ai không còn thì coi như có chốn nương thân, có việc làm để mưu sinh."
"Bệ hạ, số lượng này không nhỏ, mà Hoàng Nê Thôn lại nằm ở phía sau quân ta, liệu có nảy sinh biến loạn không?" Trần Thiệu Uy lộ vẻ lo lắng.
"Biến loạn sao được?" Tần Phong cười lạnh, "Sau trận này, tin rằng họ đã hiểu rõ đại thế không thể vãn hồi. Kẻ sống sót dù có oán hận cũng chẳng còn gan đối đầu với ta nữa. Đợi khi ta hạ được Ung Đô, thời gian trôi đi, họ sẽ trở thành lương dân của Đại Minh thôi. Suy cho cùng, những gì chúng ta cho họ bây giờ và sau này, Tần triều không bao giờ cho nổi. Cứ để họ ở đó, chẳng phải có thương nhân đang mở mỏ than và xưởng lò ở núi Hoàng Nê sao? Hẳn là đang thiếu nhân lực."
"Mạt tướng đã rõ. Mạt tướng sẽ đưa những người bị thương nhẹ tới trước để phụ nữ và trẻ nhỏ ở Hoàng Nê Thôn chăm sóc. Còn những kẻ khỏe mạnh, mạt tướng định giam giữ thêm một thời gian để mài bớt nhuệ khí của chúng rồi mới thả ra. Dẫu sao đồng đội của họ chết dưới tay ta quá nhiều, lòng hận thù chắc hẳn còn sâu đậm."
"Ừm, ngươi cân nhắc như vậy là rất chu đáo, cứ thế mà làm." Tần Phong gật đầu hài lòng.
Tại Hoàng Nê Thôn, cuộc sống vẫn trôi qua lặng lẽ. Khi trời vừa hửng sáng, dân làng đã thức dậy. Tại gian bếp dựng tạm, khói bếp đã nghi ngút với canh nóng và bánh bao. Ăn xong, mọi người lại kéo nhau vào lán làm việc. Tuyết rơi trắng trời, gió rít từng cơn, cái lạnh dường như còn khắc nghiệt hơn trước, nhưng giờ đây họ đã có nhà cửa che mưa chắn gió, có áo bông, chăn ấm và mỗi ngày hai bữa cơm no. So với những ngày tháng khổ cực ở Song Liên Thành, cuộc sống hiện tại chẳng khác nào chốn thần tiên.
Trong gian lán lớn, mười mấy chiếc lò than tỏa nhiệt lượng ấm áp. Những chiếc ấm nước reo vui trên bếp. Những tiện nghi này đều có được từ sau khi vị "đại nhân vật" kia ghé thăm. Dân làng không biết người đó là ai, nhưng trong lòng luôn thầm cảm kích vì nhờ người mà cuộc sống của họ bớt phần cơ cực.
Đối với người Minh, tình cảm của người dân Hoàng Nê Thôn rất phức tạp. Họ vừa là kẻ thù, nhưng cũng lại là ân nhân cứu mạng giữa cơn bão tuyết, cho họ một con đường sống. Nhưng nghĩ đến người thân vẫn đang chiến đấu sinh tử ở Song Liên Thành, lòng họ lại thắt lại.
Đúng lúc đó, Thôn chính bước vào lán, vỗ tay ra hiệu rồi lớn giọng: "Thưa bà con, có một việc tôi cần thông báo để mọi người chuẩn bị tâm lý."
Mọi người ngẩng đầu nhìn. Thôn chính là một thương binh quân Minh phái tới, tính tình nghiêm nghị, khiến dân làng có phần e sợ.
"Cách đây vài ngày, quân Tần ở Song Liên Thành đã dốc toàn lực tấn công doanh trại quân Đại Minh ta." Nói đoạn, ông dừng lại một chút. Không khí trong lán bỗng chốc trở nên nặng nề, tiếng thở dốc dồn dập.
"Toàn bộ quân Tần đã bị tiêu diệt." Câu nói của Thôn chính như khiến không gian đóng băng. Có người rụng rời chân tay ngã quỵ xuống đất, người thì ôm mặt khóc không thành tiếng, kẻ thì tuyệt vọng nhắm nghiền mắt.
"Trong trận chiến này, một ngàn năm trăm người đã tử trận, nhưng một ngàn năm trăm người khác đã bị bắt làm tù binh." Thôn chính đợi cảm xúc của họ bình lặng lại đôi chút mới tiếp tục.
Lập tức, bầu không khí trong lán trở nên sôi sục. Những ánh mắt ánh lên tia hy vọng rực cháy. Họ đều là thân nhân của quân sĩ Song Liên Thành. Chết một nửa, sống một nửa, ai cũng mong người thân mình nằm trong số những kẻ may mắn kia. Dù làm tù binh, nhưng chỉ cần còn sống là còn hy vọng.
"Hoàng đế Đại Minh ta lòng dạ từ bi, đã hạ chỉ không truy cứu tội chống đối. Ngài lệnh cho những người này giải giáp về quê. Ba ngày sau, nhóm đầu tiên sẽ được đưa về Hoàng Nê Thôn chúng ta để an trí."
Thôn chính vừa dứt lời, trật tự trong lán hoàn toàn vỡ òa. Đó là sự kích động, là niềm vui sướng tột cùng sau khi trút bỏ được gánh nặng ngàn cân. Những tiếng tung hô "Hoàng đế bệ hạ vạn tuế" vang động như sấm dậy, khiến Thôn chính cũng phải giật mình. Ông không ngờ những người già yếu, phụ nữ và trẻ nhỏ này lại có thể phát ra âm thanh chấn động đến nhường ấy.