Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 286 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1993 Xoay chuyển cục diện (7)

❊ ❊ ❊

Vào năm 1993, tư duy chiến lược này mới chỉ manh nha, còn lâu mới thể hiện được một bố cục thành hình hay nghệ thuật kiểm soát thuần thục. Chỉ là tại một số khu vực kinh tế tương đối sôi động, những doanh nghiệp quốc doanh không có ưu thế bắt đầu bị "buông tay", những cải cách vốn bị cấm đoán trước đây nay đã nhận được sự mặc nhận và thử nghiệm. Tại Quảng Đông, danh từ mới "hạ cương" (thất nghiệp/nghỉ việc) lần đầu xuất hiện. Sau vài năm "giải phóng tư tưởng" đầy gian nan, những công nhân vốn làm "chủ nhân ông" suốt mấy chục năm trời bắt đầu chấp nhận hiện thực rằng họ không còn "cùng tồn tại hay diệt vong" với doanh nghiệp nữa.

Vào cuối năm, Nhà máy Vô tuyến điện Quảng Châu thuộc quốc doanh đang trên bờ vực phá sản đã cắt giảm 1.000 nhân viên, trong đó 330 người chọn cách chia tay triệt để với nhà máy. Nhà máy dựa vào số năm làm việc của họ để cấp "khoản bồi thường thâm niên" là 1.300 tệ mỗi năm. Từ đó, những công nhân này bước ra khỏi cổng nhà máy để tự tìm lối thoát. Cách làm "mua đứt thâm niên" này nhanh chóng được áp dụng rộng rãi, giá mua đứt ở các nơi không giống nhau, từ vài trăm tệ đến cả vạn tệ đều có. Nó trở thành phương thức chủ yếu nhất để "an trí" công nhân hạ cương khi các doanh nghiệp quốc doanh quy mô vừa và nhỏ phá sản hoặc bị tư nhân thu mua.

Ở vùng duyên hải phía Nam, công nhân nhìn chung có thể chấp nhận cách làm này, bởi tại những nơi đó, người ta sớm đã có "nghề tay trái". Khoản phí an trí ít ỏi kia trở thành vốn khởi nghiệp để họ buôn bán nhỏ hoặc tự kinh doanh. Thế nhưng ở phía Bắc, đặc biệt là các căn cứ công nghiệp cũ, người ta đã quen với việc "trói buộc" cuộc đời mình vào doanh nghiệp. Mô hình làm việc và sinh hoạt lấy xưởng làm nhà, truyền thừa qua nhiều thế hệ khiến họ gần như mất đi dũng khí và năng lực độc lập. Đáng sợ hơn cả là những nơi đó không có bầu không khí kinh doanh và khởi nghiệp, vì vậy mua đứt thâm niên thường đồng nghĩa với việc cuộc sống ổn định ở mức thấp biến mất và rơi vào cảnh "ngồi ăn rồi cũng lở núi". Cùng với sự tan rã dần dần của hệ thống doanh nghiệp quốc doanh, áp lực sinh tồn to lớn lan tỏa một cách đầy sợ hãi tại những nơi này. Trong cơn đau đớn của cải cách, tầng lớp dân nghèo thành thị dần dần xuất hiện.

Tại khu vực Chiết Giang, nơi kinh tế dân doanh sôi động nhất, một cuộc vận động cải cách định lượng doanh nghiệp tập thể đã âm thầm diễn ra. Đây là cuộc cải cách quyền sở hữu quy mô lớn đầu tiên trong lịch sử doanh nghiệp. Cái gọi là "cải cách định lượng" nghĩa là tài sản của một số doanh nghiệp tập thể ở hương trấn sau khi được định giá bằng "phương pháp thủ công", thì vốn tập thể sẽ rút lui toàn bộ hoặc một phần, người điều hành thông qua cách thức chuộc mua để giành lấy cổ phần chính của doanh nghiệp. Cải cách này xuất hiện sớm nhất tại hai huyện Ngọc Hoàn và Ôn Lĩnh thuộc Đài Châu, Chiết Giang, sau đó nhanh chóng lan rộng ra khu vực Ôn Châu lân cận, rồi tiếp đó được thử nghiệm rộng rãi trong các doanh nghiệp tập thể trên toàn tỉnh Chiết Giang.

Đây là một cuộc vận động cải cách quyền sở hữu không có quy phạm nghiêm ngặt. Trong việc định giá tài sản cụ thể, do thiếu tiêu chuẩn định lượng và hệ thống đánh giá, thủ pháp định lượng của các huyện thị vô cùng kỳ quái. Đa số doanh nghiệp áp dụng cách làm "ước tính đại khái". Một số huyện quy định cứng nhắc rằng tài sản tập thể cứ theo số liệu trên sổ sách mà tăng giá 40% để tính toán. Nhưng trên thực tế, khá nhiều doanh nghiệp sau nhiều năm phát triển, tài sản của họ đã sớm tăng giá gấp mấy lần, mấy chục lần. Một công ty vật tư nhẹ số 2 ở khu vực Ôn Châu đã thực hiện định lượng cải tạo toàn bộ hơn hai mươi doanh nghiệp trực thuộc, mà giá trị định giá tài sản lại lấy giá cố định năm 1990 làm chuẩn.

Phương án định lượng của một doanh nghiệp dệt may ở Thiệu Hưng là: Lấy 10% tài sản doanh nghiệp đem định lượng, quy đổi thành 500.000 tệ làm cổ phần tập thể. Hơn 200 công nhân trong xưởng mỗi người góp 5.000 tệ, người điều hành góp hơn 1 triệu tệ để thành lập một doanh nghiệp cổ phần với số vốn 2,5 triệu tệ. Sau đó, doanh nghiệp mới sử dụng miễn phí máy móc thiết bị của doanh nghiệp cũ, mọi chi phí đều do doanh nghiệp cũ gánh vác. Sau gần một năm vận hành, doanh nghiệp mới tạo ra lợi nhuận kinh người, còn doanh nghiệp tập thể cũ không có gì bất ngờ khi rơi vào tình trạng thua lỗ. Một năm sau nữa, doanh nghiệp mới dùng cái giá cực rẻ để "thôn tính" doanh nghiệp cũ. Đến khoảng năm 1996, 80% doanh nghiệp tập thể quy mô vừa và nhỏ ở tỉnh Chiết Giang đã hoàn thành cải tạo định lượng quyền sở hữu, hàng loạt triệu phú và tỷ phú xuất hiện.

Cải cách định lượng kiểu này rất khó đảm bảo sự công bằng, công khai, công chính, vì vậy trong quá trình thực hiện đã xảy ra rất nhiều tranh chấp. Theo báo cáo của phóng viên Tân Hoa Xã, tính đến cuối năm 1993, tỉnh Chiết Giang đã có hơn 2.000 doanh nghiệp thực hiện cải chế định lượng.

Cuộc cải cách quyền sở hữu diễn ra tại Chiết Giang này trong vài năm sau đó vẫn luôn nằm trong giai đoạn "vận hành ngầm", cải cách quyền sở hữu doanh nghiệp tập thể trên toàn quốc mãi đến năm 1998 mới thực sự bắt đầu toàn diện. Nó chưa bao giờ nhận được sự khẳng định công khai từ chính phủ, hơn nữa còn gây ra những tranh luận gay gắt trong giới lý luận. Có người chỉ trích đây là hình thức biến tướng của việc "chia chác tài sản tập thể", là "đi con đường tư hữu hóa". Lãnh đạo tỉnh Chiết Giang lúc bấy giờ đã có sự ủng hộ đầy khéo léo. Bí thư Tỉnh ủy Chiết Giang khi đó là Lý Trạch Dân đã phê duyệt trên một bản báo cáo đưa ra ý kiến phản đối cải cách định lượng rằng: "Đối với cải cách như thế này phải nhìn lại, tuy nhiên, không được đi con đường cũ."

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba