Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 314 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1985 Cuộc hoan lạc không tiết chế (2)

❊ ❊ ❊

Một trong những vấn đề của thời kỳ này là tư tưởng "ham lớn, chuộng ngoại", không phù hợp với tình hình thực tế đất nước. Một nhà máy cán thép ở Vũ Hán nhập khẩu thiết bị trị giá hàng chục triệu đô la Mỹ, nhưng do không giải quyết được vấn đề năng lượng nên đành để không trong thời gian dài. Tứ Xuyên bỏ ra 800 triệu nhân dân tệ nhập khẩu một dây chuyền sản xuất sợi vinylon từ Nhật Bản, sau khi xây dựng xong mới phát hiện nguồn cung khí đốt không đáp ứng nổi, dù có dồn toàn bộ khí đốt của Nhà máy Thép Trùng Khánh sang cũng không đủ duy trì một nửa công suất. Nhà máy phân bón Đại Khánh nhập khẩu một dây chuyền sản xuất từ Mỹ, cắt giảm nhân lực từ 1.520 người xuống còn 315 người, sau đó các vấn đề quản lý nảy sinh liên miên, trình độ kỹ thuật viên không đảm bảo được sự phối hợp chuyên môn, hai năm sau đành phải "cải cách quay ngược trở lại".

Thứ hai là tình trạng nhập khẩu mù quáng, tỷ lệ sử dụng thấp. Theo báo cáo của tờ "Quang Minh Nhật báo", năm 1987, thành phố Vũ Hán tiến hành tổng kiểm kê công tác nhập khẩu, phát hiện toàn thành phố có 87 doanh nghiệp sở hữu tổng cộng 911 thiết bị, trị giá 51 triệu nhân dân tệ, bị bỏ không trong thời gian dài, thậm chí có những kiện hàng còn chưa được mở ra. Tờ "Tuần báo Thương mại" (BusinessWeek) của Mỹ số ra ngày 15 tháng 12 năm 1987 ước tính, giá trị thiết bị nhàn rỗi tại các nhà máy Trung Quốc vào khoảng 20 tỷ nhân dân tệ, trong đó phần lớn là các thiết bị nhập khẩu từ hai năm trước.

Thứ ba là nhập khẩu thiết bị đồng bộ thì nhiều, nhập khẩu kỹ thuật thì ít. Theo thống kê của các học giả thời bấy giờ, trong cơn sốt nhập khẩu, thiết bị đồng bộ chiếm 80%, thiết bị đơn lẻ chiếm 17%, trong khi mục tiêu hàng đầu là nhập khẩu kỹ thuật chỉ chiếm vỏn vẹn 3%. Nhiều thiết bị sau khi nhập về, linh kiện thay thế và bảo trì vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào các công ty nước ngoài.

Thứ tư là nhập khẩu trùng lặp, thiếu quy hoạch. Khoảng năm 1985, Thượng Hải nhập khẩu tổng cộng 12 dây chuyền sản xuất tivi màu, hai năm sau chỉ còn 7 dây chuyền hoạt động, số còn lại đều bỏ không hoặc thanh lý. Hiện tượng này xảy ra nhan nhản ở khắp các ngành nghề và địa phương. Ngày 17 tháng 5 năm đó, tờ "Tham khảo Kinh tế" đã đăng trên trang nhất kết quả điều tra của Công ty Công nghiệp Ô tô Trung Quốc với tiêu đề "Tình trạng bố trí mù quáng và nhập khẩu trùng lặp trong ngành công nghiệp ô tô rất nghiêm trọng". Theo tính toán của công ty quản lý ngành này, đến năm 1990, sản lượng tiêu thụ ô tô hàng năm trên cả nước chỉ vào khoảng 900.000 chiếc, trong khi nhìn vào tình hình nhập khẩu hiện tại, sản lượng hàng năm khi đó sẽ lên tới 2 triệu chiếc. Ngoài ra còn tồn tại các hiện tượng như lắp ráp xe nguyên chiếc một cách mù quáng, cùng một kỹ thuật nhưng nhiều nơi nhập khẩu, dự án nhập khẩu trùng lặp rối rắm, không có sự phối hợp hỗ trợ lẫn nhau. Một số địa phương để dễ dàng tự phê duyệt dự án, còn áp dụng cách "chia nhỏ thành từng phần", khiến một số dự án lớn được triển khai từng đợt, dẫn đến cục diện nhập khẩu mất kiểm soát.

Trong cơn sốt nhập khẩu, tình trạng "vàng thau lẫn lộn" thường xuyên xảy ra. Tỉnh Thanh Hải thông qua một công ty thương mại tại Hồng Kông, nhập khẩu từ Ý và Tây Đức một bộ bơm bê tông, kết quả phát hiện đó là thiết bị cũ từ 30 năm trước. Toàn bộ thiết bị ngoài tấm biển tên là mới, các bộ phận khác đều đã mòn vẹt. Tháng 8, tờ "Văn Hối báo" của Thượng Hải đăng một bản tin dở khóc dở cười. Trong bài báo có tiêu đề "Tại sao 'đậu phụ ngoại' lại không ai đoái hoài", phóng viên viết: Cuối tháng 6, Nhà máy Sản phẩm Đậu nành Trát Bắc bỏ ra 1,6 triệu nhân dân tệ nhập khẩu từ Nhật Bản một dây chuyền sản xuất đậu phụ đóng hộp, vốn hy vọng nó sẽ làm phong phú thêm chủng loại đậu phụ và tăng lượng cung ứng ra thị trường. Ai ngờ, dây chuyền lắp đặt hơn một tháng thì rắc rối nối đuôi nhau kéo đến. Đầu tiên là giá thành đậu phụ quá cao; đậu phụ làm theo phương pháp truyền thống khi hỏng cùng lắm chỉ bị chua hoặc nổi lỗ, còn loại đậu phụ Nhật này cứ hỏng là thành một túi nước. Hơn nữa, thiết bị dây chuyền quá đắt đỏ, chỉ cần gặp một sự cố nhỏ, gọi điện sang Nhật thôi cũng đã tốn ít nhất 20 tệ. Phóng viên cuối cùng đành bất lực nói: Xem ra lần này đã phải đóng một khoản học phí đắt đỏ.

Từ năm 1985 đến 1987, cả nước nhập khẩu tổng cộng 115 dây chuyền sản xuất tivi màu, 73 dây chuyền sản xuất tủ lạnh, 15 dây chuyền sản xuất máy photocopy, 35 dây chuyền sản xuất nhôm định hình, 22 dây chuyền sản xuất mạch tích hợp, 6 dây chuyền sản xuất kính nổi. Chỉ riêng tỉnh Quảng Đông đã nhập khẩu 21 dây chuyền sản xuất vest, 18 dây chuyền đóng hộp, 22 dây chuyền sản xuất bánh mì thực phẩm, 12 dây chuyền sản xuất đồ nội thất. Trong đó điển hình nhất là việc 9 tỉnh thành cùng nhập khẩu từ Công ty Merloni của Ý 9 dây chuyền sản xuất tủ lạnh "Ariston" cùng một mẫu mã, giá mỗi dây chuyền là 30 triệu nhân dân tệ, năng lực sản xuất 300.000 chiếc mỗi năm. Trong một thời gian, Trung Quốc lần lượt xuất hiện "chín anh em Ariston": Mỹ Lăng (Hợp Phì), Bắc Băng Dương (Mẫu Đơn Giang), Bá Lạc (Nam Kinh), Viễn Đông (Thượng Hải), Hoa Ý (Cảnh Đức Trấn), Ngũ Châu (Trùng Khánh), Trường Lĩnh (Bảo Kê), Trường Phong (Lan Châu) và Trung Ý. Trong cơn sốt mua sắm đồ gia dụng sau đó, các doanh nghiệp này đều từng có thời huy hoàng, trở thành những "ông lớn" đóng góp thuế lớn cho địa phương. Vào thời kỳ cực thịnh, sản lượng của "chín anh em" chiếm tới 1/3 tổng sản lượng tủ lạnh cả nước. Thế nhưng 10 năm sau, 8 doanh nghiệp lụi tàn, chỉ còn lại duy nhất Mỹ Lăng.

Cơn sốt nhập khẩu năm 1985 về sau đã phải hứng chịu nhiều chỉ trích. Làn sóng nhập khẩu quy mô lớn khiến ngoại hối tiêu hao khủng khiếp, đến cuối năm, thâm hụt thương mại cả nước đạt mức kỷ lục 13,78 tỷ USD, tương đương 52% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, khách quan mà nói, cơn sốt nhập khẩu mất kiểm soát này đã tạo ra hiệu ứng to lớn đối với việc đổi mới công nghệ của ngành công nghiệp nhẹ Trung Quốc và sự khởi động của thị trường hàng tiêu dùng. Các công ty Trung Quốc thời đại này giống như một thiếu niên đang tuổi dậy thì lao vào một đồng cỏ đang mọc điên cuồng, bạn có thể nghe thấy tiếng xương cốt của cậu ta cùng với cỏ dại vươn lên mạnh mẽ. Sự phung phí năng lượng và nhiệt huyết quá độ dường như là điều không thể tránh khỏi.

Song song với việc nhập khẩu ồ ạt, theo quan sát của "Tuần báo Thương mại", trong năm này Trung Quốc còn bắt đầu thử nghiệm đầu tư ra nước ngoài. Bản tin tháng 11 tiết lộ: "Trung Quốc bắt đầu đầu tư ra nước ngoài. Điểm dừng chân đầu tiên là Hồng Kông, vốn đầu tư lên tới 6 tỷ USD, đứng thứ ba trong số các khoản đầu tư nước ngoài tại đây. Tập đoàn Tín thác Đầu tư Quốc tế Trung Quốc (CITIC) và hai doanh nghiệp Mỹ đã mua một khu rừng trị giá 35—40 triệu USD tại Washington để lấy gỗ xây nhà tại Trung Quốc. Đây là khoản đầu tư trực tiếp đầu tiên của Trung Quốc tại Mỹ".

Tuy nhiên, lúc bắt đầu, việc đầu tư ra nước ngoài có vẻ không thuận lợi lắm. "Tuần báo Tin tức" (Newsweek) đã đưa ra hai ví dụ về thất bại khi đầu tư tại Hồng Kông: "Hai công ty có gốc gác Bắc Kinh — Ngân hàng Trung Quốc và Công ty Tài nguyên Trung Quốc đã chi 22,8 triệu USD để mua 34,8% cổ phần của Công ty Conic. Sau đó, phía Trung Quốc cử quan chức vào hội đồng quản trị. Vài tháng sau, cổ phiếu của Conic bị đình chỉ giao dịch, bởi chủ tịch công ty này đã bán 10 triệu USD cổ phiếu của mình cho phía Trung Quốc, đồng thời dưới sự kiểm soát cá nhân, ông ta đã vay từ Conic 27,8 triệu USD. Một sự việc khác là một công ty vốn Trung Quốc ban đầu tuyên bố bỏ 1,2 tỷ USD mua 8 tòa chung cư đang xây dựng, nhưng sau đó lại tuyên bố từ bỏ. Hành vi này dẫn đến thị trường chứng khoán sụt giảm, công ty mất uy tín".

Những bản tin này, nhiều năm sau đọc lại chẳng thấy mới mẻ chút nào, nhưng vào khoảng năm 1985, thế giới vẫn quan sát thấy nỗ lực của một quốc gia xã hội chủ nghĩa vốn đóng cửa lâu ngày đang cố gắng tham gia vào cuộc chơi tư bản quốc tế, dù nỗ lực đó trông có vẻ hơi vụng về.

Gần như cùng lúc với vụ án ô tô Hải Nam bị trung ương chỉ đích danh ngăn chặn, trong nước lại bùng nổ một sự kiện kinh tế trọng đại khác. Tại tỉnh Phúc Kiến, nơi giáp ranh với Quảng Đông, đã xuất hiện vụ án thuốc giả Tấn Giang, dẫn trực tiếp đến việc Bí thư Tỉnh ủy Hạng Nam ngậm ngùi rời ghế.

Các doanh nghiệp hương trấn sản xuất thuốc giả ở Tấn Giang có tổng cộng 57 cơ sở, trong đó 45 cơ sở tập trung tại trấn Trần Đại. Đây chính là điển hình do Bí thư Tỉnh ủy Hạng Nam nâng đỡ, là trấn đầu tiên của Phúc Kiến có giá trị sản xuất công nông nghiệp vượt quá 100 triệu nhân dân tệ, được ca ngợi là "đóa hoa của Phúc Kiến". Từ năm 1980, các nhà máy thực phẩm tại địa phương bắt đầu trỗi dậy, vì theo đuổi lợi nhuận siêu ngạch, dần dần họ chuyển sang sản xuất thuốc. Các chủ tư nhân địa phương thông qua các công ty dược phẩm các cấp để thâm nhập vào kênh tiêu thụ đặc thù là "y tế công phí". Họ dùng ngân nhĩ kém chất lượng trộn với đường trắng, chế thành các loại thuốc giả như "thuốc hạ áp dạng bột", "thuốc trị phổi dạng bột", "thuốc bổ gan dạng bột"... để trục lợi bất chính. Phóng viên Tân Hoa Xã trong bài báo sau đó viết: "Các nhà máy thuốc giả phần lớn là do nông dân góp vốn cùng mở, họ không có kỹ thuật viên dược phẩm, không có cơ quan kiểm định chất lượng, cũng không có bất kỳ thiết bị sản xuất thuốc nào theo nghĩa hiện đại. Tất cả những gì họ sử dụng là bếp lò thô sơ, nồi sắt, đồ tre, còn nhà xưởng thì phần lớn là nhà dân cũ ở nông thôn, ruồi bay loạn xạ, rác chất đống, bàn đóng gói phủ đầy bụi. Những nhà máy loại này làm sao có được tư cách hợp pháp? Thủ tục thực ra rất đơn giản, chỉ cần đến thôn, trấn treo cái biển hiệu, thôn trấn trích lại 1% doanh số bán hàng là có thể lấy được tài khoản ngân hàng và con dấu".

Thuốc giả với chi phí thấp thông qua cách thức "lại quả" (hoa hồng) cao để thâm nhập vào hệ thống y tế công phí, tự nhiên mang lại lợi nhuận doanh nghiệp đáng ngưỡng mộ, trong khi chính quyền địa phương vì phát triển kinh tế mà mặc kệ. Đến đầu năm 1985, thuốc giả Tấn Giang đã trở thành cơn sóng dữ, đến cả trạm công thương của trấn cũng mở nhà máy sản xuất đồ uống bổ dưỡng để sản xuất và bán thuốc giả. Để sản xuất thuốc giả dưới danh nghĩa an toàn và hợp pháp hơn, người Tấn Giang còn nghĩ ra cách liên doanh. Họ hợp tác với một số nhà máy quốc doanh đang bên bờ vực phá sản ở Hạ Môn, Thiểm Tây, dưới danh nghĩa lập phân xưởng hoặc góp vốn để làm giả văn bản phê duyệt, sản xuất thuốc giả. Khi cánh cửa dục vọng đã mở ra, nếu không có sự ràng buộc của pháp luật, cái ác đầy trí tưởng tượng sẽ như cỏ dại mặc sức mọc tràn lan.

Ngày 16 tháng 6 năm 1985, tờ "Nhân dân Nhật báo" đăng một bản tin gây chấn động: "Vụ án thuốc giả Tấn Giang, Phúc Kiến gây kinh ngạc", phơi bày tình trạng và nguyên nhân sản xuất, tiêu thụ thuốc giả tại Tấn Giang. Bài báo cho biết các nhà máy tại địa phương sản xuất hơn 100 loại thuốc giả, tổng số hơn 100.000 thùng, doanh số 35 triệu nhân dân tệ, hơn 1.000 người tham gia sản xuất và bán thuốc giả. Ngoài ra còn làm giả 105 số phê duyệt thuốc của cơ quan hành chính y tế, tự ý in hóa đơn thuế. Sau đó, các cơ quan hữu quan liên tục thanh tra, truyền thông liên tục phanh phui, cả nước xôn xao. Tấn Giang trở thành từ đồng nghĩa với "thuốc giả" và "kẻ lừa đảo", đến mức một thời gian dài sau đó, người địa phương ra ngoài kinh doanh chỉ dám nói mình là người Tuyền Châu chứ không dám nhắc đến hai chữ "Tấn Giang". Trong cơn bão chống hàng giả này, Hạng Nam bị liên lụy, từ chức xuống đài.

Bắt đầu từ vụ án thuốc giả Tấn Giang, tại vùng nông thôn rộng lớn của Trung Quốc, việc có ý thức, có tổ chức, sản xuất quy mô lớn các loại sản phẩm giả kém chất lượng vẫn tiếp tục lan rộng trong 20 năm sau đó, chưa bao giờ bị triệt tận gốc. Nó trở thành con đường tắt để nhiều nơi thoát nghèo, trở thành chiêu bài để chính quyền địa phương chấn hưng kinh tế. Trong các nhà máy thuốc giả ở Tấn Giang, phần lớn người sáng lập và điều hành là cán bộ hương trấn địa phương, đặc điểm này trong tương lai cũng sẽ liên tục xuất hiện. Đạo đức kinh doanh chất phác vốn được lưu truyền hàng ngàn năm trong xã hội cơ sở Trung Quốc, từ lúc này đang bắt đầu dần dần suy đồi một cách đáng sợ. "Một đặc điểm chung của các sự kiện sản xuất hàng giả kém chất lượng ở nông thôn Trung Quốc là hành vi phạm tội mang tính khu vực, tức là nông dân của một ngôi làng nào đó cùng tham gia vào hoạt động làm giả. Tất cả mọi người đều biết rõ hành vi của họ sẽ dẫn đến hậu quả gì, sẽ gây ra tổn hại thế nào cho xã hội và người tiêu dùng, nhưng vì nhu cầu lợi ích, mỗi người đều vứt bỏ những ràng buộc đạo đức tối thiểu ra sau đầu. Một số chính quyền cơ sở thậm chí trở thành 'ô dù' và đồng phạm trục lợi cho các vụ án tội phạm tập đoàn này. Từng có phóng viên hỏi một cán bộ ở ngôi làng làm hàng giả: 'Các ông có biết hành vi này là phạm pháp và vô đạo đức không?'. Vị trấn trưởng thạo đời đó chỉ vào những ngôi nhà mới của nông dân đang xây dở phía sau, kiên định nói: 'Tôi cảm thấy, đạo đức lớn nhất trên đời này, chính là làm cho quê hương nghèo khó của tôi trở nên giàu có'."

Vụ án thuốc giả Tấn Giang và vụ án buôn lậu ô tô Hải Nam khiến Trung Quốc năm 1985 tràn ngập bầu không khí kỳ quái. Một mặt, kinh tế mở cửa và cải cách doanh nghiệp dần trở thành đồng thuận của toàn dân, những thay đổi mới đang được khuyến khích và thử nghiệm trong mọi lĩnh vực, vốn tư nhân tại các vùng như Châu thổ sông Châu Giang, Tô Nam và Ôn Châu đang trỗi dậy mạnh mẽ. Đẩy nhanh đầu tư, đẩy nhanh phát triển lại trở thành chủ đề của quốc gia, kinh tế vĩ mô sau vài năm tĩnh lặng lại xuất hiện dấu hiệu quá nhiệt. Mặt khác, dục vọng vật chất của toàn dân bị kích thích đột ngột, thoát nghèo trở thành lý tưởng công cộng tối cao. Dưới mục tiêu này, sự thờ ơ đối với thể chế và đạo đức được mặc nhiên chấp nhận, điều này đồng thời cũng cung cấp cơ hội cho các thế lực bảo thủ tấn công.

Từ góc độ vĩ mô, kinh tế Trung Quốc năm 1985 lại có dấu hiệu quá nhiệt. Điều này liên quan đến chính sách tiền tệ của trung ương lúc bấy giờ. Khi lập kế hoạch quy mô tín dụng năm 1985 vào tháng 10 năm trước, Quốc vụ viện công bố lấy con số cuối năm đó làm cơ sở vay nợ cho năm sau. Thế là, các ngân hàng chuyên doanh vì tranh giành cơ sở tín dụng mà đột kích giải ngân, kết quả là quỹ tín dụng quốc gia tăng vọt, ngân hàng ngày đêm in tiền. Sau đó tuyên bố in dư 8 tỷ nhân dân tệ. Cần biết rằng, vào năm 1983, tổng lượng tiền tệ cung ứng cả nước chỉ có 9,066 tỷ nhân dân tệ.

Việc doanh nghiệp liên tục được thành lập cùng với nhu cầu tiêu dùng tăng cao khiến tình trạng thiếu hụt tư liệu sản xuất ngày càng nghiêm trọng. Cần chỉ ra rằng, từ ngày đầu cải cách mở cửa, Trung Quốc luôn ở trong trạng thái thiếu hụt tài nguyên, đây là trạng thái duy nhất không thay đổi suốt 30 năm qua. Và nhìn vào chính sách ứng phó với trạng thái này, có thể thấy được quỹ đạo phát triển và logic nội tại của cuộc cải cách này. So với những công ty tư nhân "luồn lách mọi khe hở", tính chủ động và khả năng tranh giành tư liệu sản xuất của doanh nghiệp quốc doanh rõ ràng yếu hơn nhiều. Thế là, các bộ óc tham mưu của Quốc vụ viện đã sáng tạo ra phương pháp "giá song quỹ" (hai hệ thống giá). Đầu năm 1985, nhà nước tuyên bố bãi bỏ hạn chế đối với giá sản phẩm tự tiêu thụ ngoài kế hoạch của doanh nghiệp, tuyên bố "giá song quỹ" đối với tư liệu sản xuất chính thức hình thành. "Theo tài liệu công khai, đầu tháng 5 năm 1985, nhà kinh tế học Hoạn Hương tại một hội thảo với chủ đề 'Trung Quốc đối mặt với tương lai', lần đầu tiên đề xuất 'thể chế kinh tế mới của nước ta có thể là thể chế song quỹ'. Ông cho rằng, 'trong thời gian dài sắp tới sẽ xuất hiện giai đoạn tồn tại song song giữa thể chế kinh tế tập quyền và thể chế kinh tế phân quyền'. Tư tưởng này được giới quyết sách tán thưởng, cũng trở thành cơ sở lý luận cho 'giá song quỹ'. Đối với đánh giá lịch sử về 'giá song quỹ', giới kinh tế học tồn tại tranh cãi. Một số người cho rằng 'song quỹ' làm cho chủ nghĩa cơ hội nhà nước được thể chế hóa và gây ra tình trạng tham ô hối lộ trên diện rộng... trong khi số khác lại cho rằng đây là một cách làm 'thành công', với lý do ngược lại: Nếu không thực hiện song quỹ, chỉ có hai lựa chọn: Một là tiếp tục kế hoạch đơn quỹ; hai là theo liệu pháp sốc trực tiếp bước vào thị trường đơn quỹ. Cái trước không có hiệu quả, đã là sự thật hiển nhiên; nhưng cái sau lại gây ra hỗn loạn lớn, và thực tế đã gây ra nhiều khó khăn. Nguyên nhân trước hết nằm ở chỗ, sau khi mở cửa thị trường, cục diện kinh tế cũ không thể thay đổi ngay lập tức, một lượng lớn doanh nghiệp quốc doanh vẫn tồn tại độc quyền, khi đó những kẻ độc quyền sẽ lợi dụng đặc quyền để tăng giá, gây hỗn loạn thị trường; thứ hai, thị trường vừa mở, nhiều mắt xích kinh tế vốn có sẽ bị đứt gãy, làm tăng trưởng kinh tế sụt giảm nghiêm trọng. So với đó, song quỹ một mặt giữ lại giá kế hoạch, đồng thời mở cửa một phần thị trường. Mặc dù thực sự nảy sinh nhiều cơ hội tham ô, nhưng thể chế này cho phép kinh tế phi quốc doanh có cơ hội đầu tư phát triển, có cơ hội bán sản phẩm".

Ý nghĩa của song quỹ là một loại tư liệu sản xuất tồn tại hai mức giá: một là "giá trong kế hoạch" do nhà nước kiểm soát, hai là "giá ngoài kế hoạch" theo thị trường, giá sau đắt hơn nhiều so với giá trước. Thể chế giá cả méo mó này có mục đích là bảo vệ ưu thế thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp quốc doanh. Đồng thời, nhà nước có thể điều chỉnh tỷ trọng bán hàng giữa hàng hóa trong kế hoạch và ngoài kế hoạch tùy theo nhu cầu thị trường. Ví dụ khoảng năm 1985, tỷ trọng trong kế hoạch và ngoài kế hoạch của thép là 78:22, than đá là 92:8, dầu mỏ là 83:17, xi măng là 64:36, thực phẩm là 59:41, hàng may mặc là 59:41, hàng tiêu dùng bền là 48:52. Từ những tỷ trọng này có thể thấy, sự kiểm soát của nhà nước đối với nguyên liệu thô lớn hơn nhiều so với hàng tiêu dùng hàng ngày. "Giá song quỹ" mang đậm đặc trưng kinh tế kế hoạch, nó có tác dụng nhất định trong việc kiềm chế giá cả tăng vọt và lạm phát, nhưng trong một thời gian dài, nó lại trở thành vấn đề cốt lõi cản trở sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân.

Chu Diệu Đình, người của Tập đoàn Hồng Đậu Vô Tích - một doanh nghiệp hương trấn nổi tiếng ở Giang Tô, hồi tưởng: "Khi Hồng Đậu phát triển, nhà nước chưa bao giờ cấp cho một kilôgam dầu diesel, một kilôgam sợi bông nào, chưa bao giờ có bất kỳ nguyên liệu nào trong kế hoạch. Khoảng năm 1985, 1986, nguyên liệu ngành dệt may cực kỳ khan hiếm, không ít nhà máy phải ngừng sản xuất. Doanh nghiệp chúng tôi làm ngoại thương không có sợi bông, định đến các cơ quan thành phố Vô Tích để tranh thủ một ít. Câu trả lời đương nhiên là không có, vì các anh là doanh nghiệp hương trấn, không thể cấp cho một kilôgam sợi bông nào. Tôi nói, doanh nghiệp quốc doanh là anh cả, chúng tôi là em út, em út học tập anh cả, liệu có thể để công ty dệt may cho chúng tôi một chút sợi bông được không? Cán bộ cơ quan trả lời tôi: Anh là em út sao? Chưa đủ tư cách đâu".

Đoạn đối thoại này khiến Chu Diệu Đình khắc cốt ghi tâm. 20 năm sau, trong bài phỏng vấn chuyên đề "Hai mươi năm cải cách mở cửa" của Đài Truyền hình Trung ương, ông nhìn thẳng vào ống kính nói: "Doanh nghiệp quốc doanh là anh cả, doanh nghiệp hương trấn không phải là em út, doanh nghiệp hương trấn là con hoang. Thời đó, những gì doanh nghiệp hương trấn chúng tôi nhận được là sự đối đãi dành cho con hoang".

Cách nói "con hoang" nghe hơi khó nghe, nhưng lại là một sự thật hiển nhiên. Để thực thi nghiêm ngặt chế độ song quỹ, bảo vệ các doanh nghiệp quốc doanh trong thể chế, tháng 3, Quốc vụ viện còn ban hành một lệnh cấm nghiêm khắc: Các nghiệp vụ bán buôn tư liệu sản xuất quan trọng và hàng tiêu dùng bền khan hiếm chỉ được do các đơn vị quốc doanh kinh doanh, không được phép mua gom rồi chuyển tay tại chỗ để tăng giá đầu cơ, không được phép đầu cơ phiếu cung ứng kế hoạch, không được phép tùy ý tăng giá, không được phép dưới bất kỳ hình thức nào đòi hỏi thu nhập ngoài, đối với kẻ đầu cơ trục lợi, phải kiên quyết ngăn chặn và đả kích nghiêm khắc.

Lệnh cấm rõ ràng và nghiêm khắc như vậy có thể dọa được những kẻ nhát gan, nhưng không thể ngăn chặn được chút nào những kẻ mạo hiểm có bối cảnh cứng. Ngược lại, nó khiến không gian lợi nhuận của việc mạo hiểm ngày càng lớn hơn. Hiện thực xảy ra sau đó là "giá song quỹ" đã trực tiếp nuôi dưỡng sự hưng thịnh của "kinh tế đầu cơ" (đảo gia). Những người hoặc công ty có bối cảnh và tài nguyên chính phủ, mua tư liệu sản xuất khan hiếm theo giá kế hoạch nhà nước, rồi bán lại theo giá thị trường để kiếm chênh lệch. Tờ "Nhật báo Kinh tế" từng đưa tin một ví dụ: Công ty vật liệu kim loại Xích Phong (Nội Mông) thuộc quốc doanh mua 500 tấn kẽm thỏi từ một mỏ nhôm kẽm với giá trong kế hoạch là 3.714 nhân dân tệ/tấn, sau đó bán lại ngay tại chỗ cho một công ty Quảng Đông với giá 6.500 nhân dân tệ/tấn, công ty này lại bán lại ba lần, giá đẩy lên 7.000 nhân dân tệ/tấn, cuối cùng vẫn do công ty vật liệu kim loại mua lại, chuyển cho Nhà máy Dây điện Xích Phong thuộc quốc doanh. Kẽm thỏi nằm yên tại chỗ, những kẻ đầu cơ đứng giữa kiếm bộn tiền, còn mỏ khoáng quốc doanh, công ty vật liệu kim loại và nhà máy dây điện không ngoại lệ đều trở thành kẻ thanh toán.

Chính vì sự hung hăng và "mắt pháp thông thiên" của những kẻ đầu cơ, khiến các loại vật tư phân phối thống nhất của nhà nước dưới nhiều hình thức, thông qua nhiều kênh chảy ra thị trường, kế hoạch chỉ lệnh của nhà nước hoàn toàn mất đi sự nghiêm túc. Trong những năm thực thi "giá song quỹ", vật tư phân phối thống nhất của nhà nước chưa bao giờ hoàn thành hợp đồng cung cấp hàng cho nhà nước. Những doanh nghiệp quốc doanh quy củ, tuân thủ kế hoạch điều tiết của nhà nước ngược lại trở thành nạn nhân lớn nhất. Theo nghĩa này, tầng lớp đầu cơ hưởng lợi từ thể chế giá cả méo mó này chính là cọng rơm cuối cùng đè bẹp kinh tế kế hoạch.

Theo ước tính, thiệt hại trực tiếp mà chế độ song quỹ mang lại cho kinh tế Trung Quốc mỗi năm ít nhất hơn 1.100 tỷ nhân dân tệ, chiếm 9% GDP, về cơ bản ngang bằng với tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong nhiều năm. Theo báo cáo nghiên cứu của học giả Hồ Hòa Lập, chỉ riêng năm 1988, tổng chênh lệch giá của hàng hóa kiểm soát cả nước đã vượt quá 150 tỷ nhân dân tệ, cộng thêm chênh lệch lãi suất vay ngân hàng và chênh lệch tỷ giá ngoại hối nhập khẩu, tổng cộng ba khoản chênh lệch giá lên tới hơn 350 tỷ nhân dân tệ, chiếm khoảng 30% thu nhập quốc dân năm đó, trong đó khoảng 70% chảy vào túi riêng.

Mặc dù được hưởng sự bảo hộ của "giá song quỹ", các doanh nghiệp quốc doanh vẫn vật lộn trong thể chế, đây thực sự là một quá trình chịu đựng gian khổ từ hoạt động kinh doanh cho đến tư tưởng quan niệm.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba