Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 362 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1989 Mùa xuân lạnh giá (2)

❊ ❊ ❊

Trước hết, việc vội vàng khôi phục sự điều tiết theo kế hoạch đã khiến hàng hóa từ trạng thái quá nhiệt đột ngột rơi vào cảnh ế ẩm. Lấy ví dụ là tivi màu, trong cơn sốt mua sắm năm 1988, tivi màu trong các kho bãi trên toàn quốc đều bị tranh cướp sạch bách. Một số bộ ngành nhà nước có lẽ cho rằng đây là "miếng thịt béo bở", từ tháng 2 đã bắt đầu áp đặt mức thuế tiêu thụ đặc biệt cao và quỹ phát triển nội địa hóa. Một chiếc tivi màu 18 inch giá khoảng 4.000 tệ phải nộp thêm 900 tệ thuế, đồng thời tuyên bố thực hiện chính sách kinh doanh độc quyền tivi màu. Tại Thượng Hải, 2.000 điểm bán hàng bị cắt giảm xuống còn 120 điểm. Tại huyện Đông Quản, tỉnh Quảng Đông, trong 29 thị trấn thì chỉ có 3 nơi được phép bán tivi màu. Chỉ sau sáu tháng, lượng tồn kho toàn quốc tăng vọt lên 1,72 triệu chiếc. Các nhà sản xuất chưa kịp tận hưởng niềm vui từ cơn sốt mua sắm đã ngay lập tức rơi vào cảnh "băng hỏa lưỡng trọng thiên" (trạng thái đối nghịch gay gắt), kêu trời không thấu. Nguồn cung đảo chiều trong chớp mắt, mức chiết khấu mà nhà sản xuất dành cho các kênh thương mại tăng từ 0% lên 8%, thậm chí có nơi lên tới 30%. Chính sách độc quyền đã giáng một đòn chí mạng vào ngành tivi màu vốn đang khởi sắc. Tỷ lệ sản xuất và tiêu thụ bình quân của 62 doanh nghiệp tivi màu chính trên cả nước chỉ đạt chưa đầy 70%. Một số doanh nghiệp quốc doanh phản ứng chậm chạp bị hàng tồn kho đè nặng đến mức không thể xoay xở, từ đó ngày càng sa sút.

Nghiêm trọng hơn là do sự thắt chặt và biến động của chính sách, các giao dịch hàng hóa và dòng vốn vốn dĩ bình thường giữa các doanh nghiệp bỗng chốc trở nên hỗn loạn. Việc chiếm dụng vốn lẫn nhau tạo thành một vòng luẩn quẩn không có điểm dừng, và một thuật ngữ mới nhanh chóng trở thành vấn đề nan giải hàng đầu trong giới kinh tế: "Nợ tam giác".

Ngay từ đầu năm, tin tức từ khắp nơi đã rất bất ổn. Tại tỉnh Chiết Giang, nơi doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh, việc nợ đọng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp khiến tình hình tài chính trở nên căng thẳng toàn diện. Nhà máy không có tiền mua nguyên liệu, thương mại không có vốn nhập hàng, ngoại thương ép giá thu mua, không ít doanh nghiệp đành phải đình công ngừng sản xuất. Tại Sơn Đông, nợ tam giác toàn tỉnh lên tới 4,3 tỷ tệ, nỗi khổ sở từ đó mang lại vượt xa những khó khăn do thiếu than và điện. Nợ tam giác ở Liêu Ninh là 4,5 tỷ tệ, Hắc Long Giang và Cát Lâm là 6 tỷ tệ, còn Giang Tô vượt ngưỡng 10 tỷ tệ. Theo thống kê của ngân hàng về ủy nhiệm thu chi, đến cuối tháng 3, tổng số nợ quá hạn thanh toán bình thường của các doanh nghiệp trên cả nước đã lên tới 108,5 tỷ tệ, nếu cộng thêm các khoản nợ không nằm trong danh mục ủy nhiệm thu, con số này đã vượt xa phạm vi tín dụng thương mại của chính sách.

Trong đó, những doanh nghiệp quốc doanh quy mô lớn vốn phản ứng kém linh hoạt là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Nhà máy chế tạo máy hạng nặng lớn nhất châu Á - Nhà máy chế tạo máy hạng nặng Phú Lạp Nhĩ Cơ Tề Tề Cáp Nhĩ - vì bị "nợ tam giác" kéo xuống mà buộc phải tắt máy ngừng sản xuất. Vị giám đốc nhà máy trong đường cùng đã liên tiếp gửi hai bức điện khẩn cho Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Bằng. Căn cứ thép lớn nhất cả nước - Công ty thép An Sơn, vì "nợ tam giác" mà tài khoản không còn tiền, kho không có than, công ty đành phải phát động quyên góp trong số 20 vạn công nhân viên để giải quyết khó khăn. Tổng giám đốc Lý Hoa Trung đã cúi đầu rơi lệ trong đại hội quyên góp, hồi lâu không đứng dậy nổi.

Khi đọc tin tức về việc Lý Hoa Trung cúi đầu không đứng dậy, lòng của Từ Hữu Bàn, giám đốc Nhà máy Cáp điện Thẩm Dương, càng cảm thấy không dễ chịu, bởi lẽ Thép An Sơn vẫn còn nợ ông 3 triệu tệ. Tại cuộc tọa đàm tháng 8 của Bộ Cơ điện, ông thừa nhận: "Hiện nay bên ngoài nợ tôi 119 triệu tệ không đòi được, tôi cũng nợ người ta 54 triệu tệ không có cách nào trả. Nói một câu đáng xấu hổ, tôi vì chuyện này mà lo lắng đến phát khóc ba lần. Tháng 1, tháng 2 năm nay, tôi không sống nổi, phải đi cầu xin khắp nơi, tìm bạn cũ ký nợ hơn 30 triệu tệ, đây đều là nhờ "lừa" từ bạn cũ mà có. Nhìn thấy người ta không cho nữa, thế là thành một ván cờ chết." Đoạn nói chuyện sau đó của giám đốc Từ thú vị nhất: "Cải cách tuy đã mười năm, nhưng nhìn vào hiện trạng doanh nghiệp, lúc này vẫn chưa thể thiếu 'mẹ chồng' (cơ quan chủ quản). Doanh nghiệp không chỉ cần tìm thị trường, mà còn phải tìm thị trưởng. Chính phủ không giúp giải quyết thì chỉ dựa vào doanh nghiệp thôi, làm gì có bản lĩnh lớn đến vậy." Luận điểm "doanh nhân quốc doanh vừa phải tìm thị trường, vừa phải tìm thị trưởng" chính là xuất phát từ đây, về sau nó trở thành bí quyết bất di bất dịch của tất cả những người điều hành doanh nghiệp quốc doanh.

Tháng 9, Bắc Kinh tổ chức "Hội nghị thương mại hàng đổi hàng lần thứ nhất" kể từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa - về sau không còn tổ chức lần thứ hai. Chỉ trong ba ngày, họ đã thực hiện được 800 triệu tệ giao dịch hàng đổi hàng. Tờ "Nhật báo Bắc Kinh" bình luận với giọng điệu vui buồn khó đoán: "Thương mại hàng đổi hàng tuy là phương thức trao đổi khá nguyên thủy, nhưng trong tình trạng vốn liếng khan hiếm phổ biến hiện nay, nó không mất đi là một con đường linh hoạt và hiệu quả để vượt qua khó khăn." So với hội nghị hàng đổi hàng ở Bắc Kinh, một số chính quyền địa phương bị tổn thương sâu sắc lại tỏ ra gấp gáp và cực đoan hơn. Các tỉnh như Chiết Giang, Hắc Long Giang, Hà Bắc lần lượt áp dụng các biện pháp, thiết lập kiểm tra biên giới, hạn chế sản phẩm ngoại tỉnh nhập vào tiêu thụ. Thị trường lớn toàn quốc vốn hình thành sơ bộ sau cải cách đang đối mặt với nguy cơ bị chia cắt một lần nữa.

Trong năm đó, trên các chuyến tàu hỏa, máy bay, đâu đâu cũng thấy những người đi đòi nợ với vẻ mặt vội vã, cau có. Cửa văn phòng của các giám đốc, quản lý cũng bị nhóm người này bao vây ngày đêm. Nghe nói ở nhiều nơi, "lớp học đòi nợ" trở thành khóa học được ưa chuộng nhất. Tháng 5, Quốc vụ viện tuyên bố, dưới sự dẫn dắt của Ngân hàng Nhân dân, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Xây dựng, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Giao thông cùng liên kết lại, có tổ chức thanh lý "nợ tam giác" của doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Công việc này do phạm vi liên quan rộng, quan hệ phức tạp nên tiến triển vô cùng khó khăn. Một lần thanh lý nợ ở Hắc Long Giang từng được coi là điển hình để tuyên truyền rộng rãi: Công ty bách hóa huyện Ninh An nợ công ty đường rượu thành phố Mẫu Đơn Giang gần 2 triệu tệ, mà phía sau lại nợ nhà máy đường huyện Ninh An 1,4 triệu tệ. Sau khi chính quyền và ngân hàng hai nơi thương lượng, trước tiên Ngân hàng Công thương chi nhánh Mẫu Đơn Giang cho công ty đường rượu vay 1,4 triệu tệ để trả cho nhà máy đường, sau đó Ngân hàng Công thương chi nhánh Ninh An thu hồi 400.000 tệ nợ của nhà máy đường, rồi cho công ty bách hóa vay để trả nợ cho công ty đường rượu, cuối cùng Ngân hàng Công thương chi nhánh Mẫu Đơn Giang thu hồi được số nợ tương đương từ công ty đường rượu. Thông qua kiểu "thanh lý đối ứng" phức tạp này, cuối cùng cũng giải tỏa được 2,08 triệu tệ nợ tam giác của ba công ty. Điểm đặc biệt của vụ việc này là nợ xảy ra giữa hai thành phố, huyện, còn nếu bán kính nợ của "nợ tam giác" mở rộng thêm một chút, độ khó vận hành sẽ tăng lên đáng kể. Ngoài ra, ngân hàng đóng vai trò trung gian trong thời gian đó, nhưng một khi nó cũng bị cuốn vào, sẽ nảy sinh một mối quan hệ nợ nần mới. Vì vậy, đến cuối tháng 11, chính quyền và ngân hàng các nơi tốn bao công sức mới thanh lý được khoảng 70 tỷ tệ, nhưng do tình trạng "trả trước nợ sau", tổng số nợ vẫn cao tới hơn 100 tỷ tệ.

Việc giải quyết "nợ tam giác" phải đợi đến sau khi kinh tế phục hồi vào năm 1993 mới dần hoàn tất. Về mặt khách quan, nó là hệ quả do cơ cấu kinh tế mất cân đối nghiêm trọng và việc ngân hàng thắt chặt tiền tệ gây ra. Còn ở tầng sâu hơn, nó phản ánh trực tiếp cuộc khủng hoảng lớn về hệ thống tín dụng toàn xã hội. Kể từ vụ thuốc giả ở Tấn Giang vài năm trước, dưới sự thúc đẩy của lợi ích thương mại và việc thiếu các quy định pháp luật ràng buộc kịp thời, phán đoán giá trị của công chúng bắt đầu hỗn loạn, đạo đức thương mại của toàn xã hội cuối cùng đã lộ ra những vết nứt sụp đổ.

Thắt chặt tiền tệ, tiêu dùng hạ nhiệt, nhà máy thiếu việc làm, doanh nghiệp thị trấn phá sản hàng loạt, số người thất nghiệp tăng lên, lưu thông vốn không thông suốt. Trung Quốc năm 1989 mang một bầu không khí tiêu điều.

Tháng 9, tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn quốc chỉ tăng 0,9% so với năm trước, lập kỷ lục thấp nhất kể từ khi cải cách mở cửa. Đồng thời, thị trường nguyên liệu cũng xuất hiện hiện tượng ế ẩm bất thường. Tại hội nghị giao dịch tư liệu sản xuất toàn quốc mùa thu tổ chức ở Thái Nguyên, cảnh tượng tranh nhau mua nguyên liệu suốt nhiều năm qua không còn nữa. Hội nghị cung cấp 6 tỷ USD nguyên liệu, nhưng doanh số giao dịch thực tế chỉ là 400 triệu USD.

Năm 1989 chính là một năm như vậy. Trong 11 năm trước đó, người ta bắt đầu thoát khỏi cuộc sống chính trị hóa, chuyển sang xây dựng kinh tế. Trong quá trình này, xung đột giữa thể chế cũ và mới vô cùng nghiêm trọng. Các doanh nghiệp quốc doanh vốn có dần rơi vào khó khăn, tư bản tư nhân mới bắt đầu quá trình tích lũy nguyên thủy đầy máu me. Đại đa số mọi người vẫn chưa thể hoàn toàn chấp nhận sự thăng trầm này về mặt tâm lý, vì vậy, một tâm lý bất ổn của toàn dân đang âm thầm tích tụ. Chính trong quá trình này, do sự thiết kế về thể chế và chính sách, đã xuất hiện tầng lớp "quan đảo" (quan chức đầu cơ), một nhóm người lợi dụng chức quyền của mình để vận chuyển tài nguyên trong thể chế ra ngoài một cách liên tục. Một mặt, nó cung cấp con đường xám cho sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân, mặt khác, vì gom góp khối lượng tài sản khổng lồ nên bị dân chúng căm ghét và chỉ trích.

Từ cuối tháng 6, nhà nước bắt tay vào chỉnh đốn một số công ty gây nhiều tranh cãi. Các công ty do cơ quan đảng chính các cấp trên toàn quốc thành lập đều bị yêu cầu thanh lý chỉnh đốn, tổng cộng xử lý 17.930 đơn vị, chiếm 90,5% số công ty của cơ quan đảng chính. Ngày 16 tháng 8, Kiểm toán Nhà nước công bố ý kiến xử phạt đối với Tổng công ty Phát triển Khang Hoa Trung Quốc, Công ty Đầu tư Tín thác Quốc tế Trung Quốc, Công ty Công nghiệp Quang Đại, Công ty Phát triển Kinh tế Công thương Trung Quốc và Công ty Đầu tư Tín thác Nông thôn Trung Quốc, xác định chúng có các vấn đề vi phạm quy định hành chính. Tổng cộng bị phạt tiền và truy thu thuế 51,33 triệu tệ. Những hành vi vi phạm đó đều rất điển hình, như đầu cơ USD, tự ý nhập khẩu ô tô, buôn bán than thép, trốn thuế, tự ý tăng lãi suất tín dụng, v.v. Trong đó đáng chú ý nhất là Công ty Khang Hoa. Trong vài năm qua, đây là một trong những nhà cung cấp thiết bị nhập khẩu và đại lý du lịch ra nước ngoài lớn nhất trong nước, đồng thời nhờ trực thuộc Quỹ phúc lợi người tàn tật Trung Quốc mà được hưởng chính sách giảm miễn thuế đặc biệt. Tháng 10 năm trước, Cục Thuế Nhà nước đã ra thông báo riêng hủy bỏ ưu đãi giảm miễn thuế của Khang Hoa, yêu cầu nộp 55% thuế thu nhập và quỹ năng lượng giao thông theo quy định. Và đến cuối năm này, công ty bị đóng cửa.

Trung Quốc năm 1989 đầy khó khăn, hình ảnh cải cách và khí thế phát triển tích lũy suốt 12 năm đã vấp phải trở ngại. Chính phủ Mỹ tuyên bố trừng phạt Trung Quốc. Tạp chí "Fortune" quan sát thấy: "Hầu hết các công ty phương Tây tại Trung Quốc đã ngừng hoạt động, chỉ lặng lẽ quan sát tình hình. Một doanh nhân Mỹ nói, cảm giác đó giống như bị nhốt trong phòng trước khi tham gia một trò chơi lớn. Chúng tôi thực sự nghĩ rằng mình có thể thực hiện các cuộc trao đổi có lợi hơn bằng cách ký lại hợp đồng và tận dụng các đòn bẩy mới. Nhưng khi bước ra ngoài, chúng tôi phát hiện ra thực tế là chẳng còn nơi nào để đi."

Phóng viên thường trú tại Trung Quốc của tờ "Los Angeles Times", Jim Mann, đã xuất bản cuốn sách có tên "Jeep Bắc Kinh: Cuộc hôn nhân ngắn ngủi và bất hạnh của doanh nghiệp Mỹ tại Trung Quốc", cuốn sách được tạp chí "Fortune" liệt vào danh sách sách kinh doanh nên đọc trong năm. Đây là câu chuyện mô tả sự hợp tác giữa công ty ô tô Mỹ AMC và Công ty Sản xuất Ô tô Bắc Kinh để sản xuất và bán xe Jeep. Kết luận mà Jim đưa ra là: Trung Quốc muốn công nghệ để trở thành cường quốc thế giới, còn công ty Mỹ muốn 1 tỷ người tiêu dùng Trung Quốc cùng nguồn lao động giá rẻ để có ưu thế trong cuộc cạnh tranh với Nhật Bản.

Đầu thập niên 80, dự án Jeep Bắc Kinh là lần đầu tiên và cũng là lần lớn nhất các công ty Mỹ hợp tác sản xuất tại Trung Quốc. Công ty liên doanh thành lập năm 1983, theo thỏa thuận, American Motors và Công ty Sản xuất Ô tô Bắc Kinh sẽ cùng sản xuất xe Jeep tại Trung Quốc. Jim viết: Đó là nơi lãnh đạo hai nước thường xuyên ghé thăm nhất. Jeep là thứ người Trung Quốc thực sự cần, còn American Motors đang trong tình trạng khó khăn, cần từng chút doanh thu mà Jeep Bắc Kinh có thể đóng góp.

Hai bên ngay từ đầu đều cho rằng đây là một cuộc hôn nhân hoàn hảo, tuy nhiên đến khoảng năm 1989, giấc mơ và hiện thực đã xảy ra xung đột. Jim viết trong sách: "Trung Quốc đúng là có 1 tỷ người tiêu dùng, nhưng rất ít người có đủ khả năng chi trả cho những thứ công ty Mỹ này sản xuất - mặc dù chi phí lao động đã rất thấp. Hơn nữa, lực lượng lao động của Trung Quốc cũng không hề rẻ và hiệu quả như người Mỹ kỳ vọng. Ngoài ra, còn có rất nhiều xung đột văn hóa không thể tránh khỏi. Người Mỹ không thể chịu nổi thói quen ngủ trưa sau khi ăn của người Trung Quốc, còn người Trung Quốc không thể chịu nổi những lời chửi thề kiểu Mỹ. Trong mắt người Trung Quốc, điều này có nghĩa là bạn không được giáo dục tốt. Người Trung Quốc không bao giờ tôn trọng những kẻ nói lời ác ý."

Vị phóng viên giỏi miêu tả này còn ghi lại một cảnh tượng: khi đó, hai bên hợp tác Mỹ - Trung tổ chức lễ ký kết tại Las Vegas: Màn đêm buông xuống tĩnh lặng, các nhà kinh doanh có vẻ đã uống khá nhiều, nhưng tại buổi lễ họ trông rất trầm tĩnh. Tân chủ tịch American Motors, Jose Dedeurwaereder, phát biểu trước các nhà kinh doanh. Sau khi họ dùng xong món tráng miệng, ánh đèn mờ đi, âm nhạc nổi lên dần đẩy buổi tiệc lên cao trào. Hai chiếc xe tải AMC Comanche màu đỏ bắt đầu chạy trên sàn nhà hàng, các cô gái mặc bikini ném bóng chuyền ở bãi đất trống phía sau, hai người thổ dân da đỏ vén rèm sân khấu, nhóm nhạc "Beach Boys" bắt đầu biểu diễn - ban nhạc rock này được tìm riêng cho các nhà kinh doanh trung niên của AMC. Trong môi trường ồn ào đó, các đại diện Trung Quốc ngồi ở trung tâm, họ chỉ lặng lẽ vây quanh một chiếc bàn tròn, không nói một lời. Không lâu sau, quan chức cấp cao Trung Quốc Ngô Trung Lương đứng dậy, rời khỏi hội trường với vẻ mặt vô cảm.

Sau mùa hè năm 1989, dự án hợp tác Jeep Bắc Kinh dần trở nên ảm đạm. Mặc dù phía Mỹ đã đổ vào một lượng vốn và kỹ thuật khổng lồ, phía Trung Quốc cũng hết sức hỗ trợ về tài chính, nhưng hiệu quả doanh nghiệp lại không bao giờ lý tưởng. Jim viết trong phần cuối cuốn sách một cách bất lực: Tất cả mọi người đều mang theo những giấc mơ, tuy nhiên những giấc mơ này không giống nhau, ví dụ về Jeep Bắc Kinh chính là minh chứng rõ nhất.

Trong các vụ đầu tư nước ngoài năm 1989, vụ đầu tư ô tô Gấu Trúc tại Huệ Châu, Phúc Kiến là đáng chú ý nhất, cũng là kỳ lạ nhất. Cho đến tận nhiều năm sau, nó vẫn bao phủ trong một lớp sương mù bí ẩn.

Theo thông tin công khai, diễn biến sơ bộ của vụ đầu tư Gấu Trúc như sau: Một thương nhân người Mỹ gốc Hàn tên là Kim Xương Nguyên, được cho là kinh doanh xuất nhập khẩu phụ tùng ô tô lâu năm. Tháng 9 năm 1988, ông đăng ký một doanh nghiệp tên là "Công ty ô tô Gấu Trúc" (RMC) tại bang Delaware, Mỹ. Cùng tháng đó, ông tiếp xúc lần đầu với phía Huệ Châu, tuyên bố sẽ xây dựng một nhà máy ô tô lớn tại đây, quy hoạch diện tích 81 km vuông, đầu tư 1 tỷ USD, sản xuất 300.000 xe sedan mỗi năm và xuất khẩu toàn bộ. Tháng 12 cùng năm, hai bên ký biên bản ghi nhớ. Tháng 4 năm 1989 thu hồi đất, ngày 27 tháng 6, công ty Gấu Trúc tổ chức lễ động thổ, chủ tịch công ty Gấu Trúc, cháu trai danh tướng Thế chiến II MacArthur, đích thân đến cắt băng.

Dự án này giống như một chiếc bánh từ trên trời rơi xuống. Nó có nhiều điểm đáng suy ngẫm: tên công ty là "Gấu Trúc", đó hẳn là công ty dành riêng cho Trung Quốc, nhưng kỳ lạ là nhà máy sản xuất ô tô tuyên bố sản xuất 300.000 chiếc mỗi năm này lại không có nền tảng từ các nhà sản xuất ô tô quốc tế chuyên nghiệp. Nơi nó chọn đầu tư là Huệ Châu cũng không phải là căn cứ của ngành phụ tùng ô tô, không có nền tảng công nghiệp sản xuất ô tô. Nhưng nếu nói đó là một cú lừa thì có vẻ cũng không hẳn. Theo thông báo công khai của chính quyền Huệ Châu, khoản đầu tư giai đoạn một 250 triệu USD của công ty Gấu Trúc đã到位 (đến nơi) trước lễ động thổ, và nhà xưởng cũng nhanh chóng đi vào thi công. Để xác nhận tính chân thực của dự án, Quốc vụ viện và tỉnh Quảng Đông đã cử một nhóm chuyên gia kỹ thuật và pháp lý cấp cao sang Mỹ điều tra về lai lịch, tín dụng, thị trường của nhà đầu tư. Được biết các chuyên gia đã tham quan dây chuyền sản xuất động cơ và dập khuôn mà công ty Gấu Trúc đã mua, còn ngồi thử chiếc xe sedan cỡ nhỏ có dung tích xi lanh thấp, giá bán lẻ thị trường được cho là chỉ 60.000 tệ. Các chuyên gia kết luận: "Công ty Gấu Trúc có thực lực tài chính hùng hậu. Nhà đầu tư có tầm nhìn chiến lược. Họ đang hướng tới thế kỷ tiếp theo."

Dự án đầu tư ô tô Gấu Trúc với con số 1 tỷ USD là dự án đầu tư nước ngoài 100% vốn lớn nhất Trung Quốc thời bấy giờ, nó nhận được sự quan tâm rộng rãi. Trong hai năm sau đó, hầu như tất cả các lãnh đạo trung ương đều đã từng đến thị sát. Mặc dù không ít người nghi ngờ về lai lịch và động cơ thực sự của nó, nhưng vẫn hy vọng đó là một "chiếc bánh có thật". Đối với Huệ Châu - nơi đầu tư, sự xuất hiện của ô tô Gấu Trúc lập tức biến nó thành mảnh đất nóng cho đầu tư và đầu cơ. Truyền thông phương Nam hô vang khẩu hiệu "Thập niên 80 nhìn Thâm Quyến, thập niên 90 nhìn Huệ Châu". Giá đất địa phương tăng vọt trong thời gian ngắn, các công ty bất động sản đổ xô vào, nhiều nhất lên tới hơn 1.000 đơn vị, giá nhà ở khu trung tâm thành phố bị thổi từ 200 tệ/m2 lên 11.000 tệ. Thị trấn Đạm Thủy, nơi đặt nhà máy ô tô, trong ba năm từ 20.000 dân tăng vọt lên 200.000 dân. Cuối năm 1990, phóng viên Lâm Cương của "Nhật báo Phương Nam" đến phỏng vấn: "Đường ống ngầm và các công trình cơ sở như đổ bê tông đã hoàn thành, đang cẩu lắp dầm thép và cột thép, nghe nói đây là nhà xưởng kết cấu thép mới nhất của Mỹ. Nghe nói năm sau sẽ xuất xưởng, nhưng hiện tại tôi thậm chí không nhìn thấy một thiết bị nào." Câu trả lời của Phó chủ tịch điều hành công ty Gấu Trúc, Richard Cummings, là: "Tôi không hài lòng với thiết kế ban đầu nên đã sửa đổi một chút, tiến độ hơi chậm trễ. Nhưng, cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm sau, các thiết bị cần thiết cho việc lắp ráp giai đoạn một chắc chắn sẽ được lắp đặt xong. Tháng 8, chiếc xe đầu tiên có thể xuất xưởng."

Tuy nhiên sự thật là, sau khi động thổ, Gấu Trúc rơi vào các vòng đàm phán liên miên. Nhà đầu tư nước ngoài thay đổi cam kết xuất khẩu 100%, chuyển sang yêu cầu 30% tiêu thụ nội địa tại thị trường Trung Quốc - mọi dấu hiệu cho thấy, nhà đầu tư của Gấu Trúc mang tâm lý của một con bạc, họ hy vọng lấy danh nghĩa xuất khẩu toàn bộ để vào Trung Quốc, sau đó mưu cầu khả năng tiêu thụ nội địa. Vì dự án này "từ trên trời rơi xuống", ngay từ đầu đã không nằm trong quy hoạch của cơ quan quản lý ô tô quốc gia, hơn nữa còn rất nhiều người nghi ngờ động cơ thực sự của dự án, nên việc có được tiêu thụ nội địa hay không và tỷ lệ tiêu thụ nội địa trở thành tâm điểm tranh cãi. Năm 1991, công ty Gấu Trúc lần cuối cùng nộp đơn lên Bắc Kinh, đề nghị nhường thị trường trong nước cho "ô tô Gấu Trúc" trong hai năm, hơn nữa trong hai năm đó "sản phẩm chủ yếu tiêu thụ trong nước", nhưng bị chính phủ Trung Quốc từ chối khéo léo. Sau đó, dự án rơi vào tình trạng đình trệ hoàn toàn. Cho đến năm 2004, người ta đến thị trấn Đạm Thủy vẫn có thể nhìn thấy một lâu đài màu xám bạc khổng lồ, rộng 160.000 mét vuông. Đây chính là phân xưởng lắp ráp ô tô Gấu Trúc - được cho là lớn nhất châu Á - mới xây được một nửa, nó đứng sừng sững, vuông vức trên một vùng đất hoang đầy cỏ dại, như một câu đố mãi không có lời giải.

Trong Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc kết thúc ngày 24 tháng 6, Giang Trạch Dân 62 tuổi được cất nhắc từ vị trí Bí thư Thành ủy Thượng Hải, đắc cử Tổng Bí thư mới. Theo lời Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân là hạt nhân của thế hệ lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản.

Ngày 13 tháng 11, Đặng Tiểu Bình gặp đoàn thăm Trung Quốc của Hiệp hội Kinh tế Nhật - Trung tại Đại lễ đường Nhân dân, và nhân cơ hội này chính thức nói lời từ biệt sự nghiệp chính trị.

Lão nhân gia đã 85 tuổi này tự tay phát động cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc. Trong 11 năm qua, ông đã gặp vô vàn bãi cạn nguy hiểm, nhưng luôn đầy ắp niềm tin. Bài phát biểu cuối cùng trước khi từ biệt sự nghiệp chính trị của ông vẫn kiên định với việc tiếp tục cải cách, điều này chắc chắn mang lại niềm tin vô hạn cho những người cải cách trên toàn quốc. Điều khiến mọi người không ngờ tới hơn là, ba năm sau, ông sẽ lại khởi động động cơ của cỗ xe kinh tế Trung Quốc một lần nữa theo một cách rất mới lạ và bất ngờ.

Phải chỉ ra rằng, Trung Quốc năm 1989, mặc dù kinh tế trượt dốc nghiêm trọng, phạm vi chính trị căng thẳng chưa từng có, mọi ngành nghề đều xuất hiện những điều không suôn sẻ, nhưng hầu như tất cả các phương tiện truyền thông quan trọng trên toàn cầu đều nhận định trong các bài bình luận rằng "Cải cách Trung Quốc không thể đảo ngược". Một công ty nghiên cứu độc lập của Mỹ đã thực hiện một cuộc khảo sát đối với các CEO trong danh sách "Fortune 500" về tương lai của Trung Quốc. Kết quả cho thấy: "Mặc dù cải cách kinh tế có vẻ tiến triển khó khăn, nhưng các nhà đầu tư phương Tây vẫn đặt cược vào sự phát triển lâu dài. Các nhà điều hành Mỹ vẫn đặt cược vào giá trị tiềm năng dài hạn. Hơn nữa, các CEO đều tin rằng kinh tế Trung Quốc sẽ cởi mở hơn, thị trường hóa hơn trong năm năm tới. Mặc dù quá trình này có thể lâu hơn và quanh co hơn dự kiến, nhưng họ cho rằng ngày đó đến là điều không thể tránh khỏi." Một số công ty đa quốc gia đã mở nhà máy tại Trung Quốc cũng bày tỏ quyết tâm ở lại. Trưởng đại diện của Fiat tại Trung Quốc, Qinodi, nói với Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Lam Thanh rằng, chúng tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc rút lui.

Trong sự tiêu điều của cả nước, không phải là không có điểm sáng.

Ít nhất có một chi tiết đáng nhắc đến, trong bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới do tạp chí "Fortune" bình chọn năm đó, Ngân hàng Trung Quốc trở thành công ty Trung Quốc đầu tiên xuất hiện. Điều này có nghĩa là trong mắt các nhà quan sát thương mại toàn cầu, doanh nghiệp Trung Quốc đã trở thành một nhóm không thể bị phớt lờ. Tại trong nước lúc bấy giờ, tin tức này hầu như không được chú ý, cho đến khoảng năm 1996, "lọt vào top 500 thế giới" mới đột nhiên trở thành giấc mơ chung của các công ty Trung Quốc.

Tại miền Nam nóng ẩm, dù vẫn chịu ảnh hưởng từ các chính sách điều tiết vĩ mô, những doanh nghiệp trẻ vẫn đang trên đà phát triển. Một nhóm thanh niên đầy tham vọng đang lũ lượt từ bỏ "chiếc áo giáp thể chế", không chút do dự mà tiến về phía Nam lập nghiệp.

Ba sinh viên cùng khóa năm xưa tại Học viện Công nghệ Hoa Nam nay đều đã bắt đầu bộc lộ tài năng. Lý Đông Sinh, người được phân về Huệ Châu sau khi tốt nghiệp, cuối cùng cũng trở thành giám đốc nhà máy trong năm nay. Sản lượng và doanh số điện thoại TCL do ông chủ trì đã vươn lên đứng đầu cả nước trong cùng ngành. Lớp trưởng Hoàng Hoằng Sinh sau nhiều lần khởi nghiệp, cuối cùng cũng đăng ký thành công một nhà máy sản xuất điều khiển từ xa tại Hong Kong với cái tên Sáng Duy (Skyworth). Một ngày nọ, Lý Đông Sinh ghé qua Hong Kong gặp Hoàng Hoằng Sinh, cả hai cùng bàn luận về việc quy mô ngành nghề của mình còn quá nhỏ, thiếu tính mở rộng. Lý thì thầm đầy bí hiểm: "Tôi vừa nhắm được một ngành mới." Hoàng nhìn quanh thấy không có ai, hạ giọng nói: "Có phải là làm tivi màu không?" Hai người nhìn nhau cười lớn. Chẳng bao lâu sau, cả TCL và Sáng Duy đều chuyển hướng sang lĩnh vực sản xuất tivi màu. Một người bạn khác tên Trần Vĩ Vinh, sau khi tốt nghiệp được phân về Công ty Điện tử Khang Giai tại Thâm Quyến, sau đó sang Nhật du học hai năm. Trở về, ông được bổ nhiệm làm trợ lý tổng giám đốc, phụ trách toàn bộ mảng sản xuất tivi màu của công ty, hai năm sau, ông trở thành lãnh đạo cao nhất của công ty này. Về sau, Sáng Duy, Khang Giai, TCL cùng với Trường Hồng Tứ Xuyên được gọi chung là "Tứ đại gia tivi màu Trung Quốc".

Tại khu vực đồng bằng sông Châu Giang, trang thiết bị và quy mô của một số doanh nghiệp hương trấn đã không còn thua kém các nhà máy quốc doanh. Phóng viên tờ "Kinh tế Nhật báo" trong bài viết về chuyến thăm nhà máy tủ lạnh Châu Giang tại Quảng Đông đã kinh ngạc ghi lại: "Doanh nghiệp hương trấn nằm tại trấn Dung Quế, Thuận Đức này sở hữu tài sản cố định 80 triệu nhân dân tệ, thiết bị nhập khẩu chiếm 45%, nhiều doanh nghiệp quốc doanh lớn và vừa còn chẳng có điều kiện tốt như vậy. Nguyên tắc của nhà máy là, của ai tốt nhất thì mua của người đó. Toàn bộ dây chuyền sản xuất dài tới sáu cây số, đều được lắp ghép từ những thiết bị tốt nhất của Âu Mỹ và Nhật Bản, đây là điều mà nhiều doanh nghiệp lớn và vừa khác không thể nào theo kịp." Nhà máy tủ lạnh do Phan Ninh sáng lập lúc này đã vang danh khắp nơi. Trong cơn "sốt tủ lạnh", ông đã nhập khẩu dây chuyền sản xuất tiên tiến nhất thế giới, bỏ qua tủ lạnh một cửa, trực tiếp sản xuất tủ lạnh hai cửa làm lạnh trực tiếp, nhờ đó mà cực kỳ được ưa chuộng trong nước. Sau sự kiện Đặng Thiều Thâm rời bỏ Vạn Bảo Điện khí khiến công ty này suy sụp, tủ lạnh "Dung Thanh" của Phan Ninh đã trở thành thương hiệu điện gia dụng nổi tiếng nhất vùng đồng bằng sông Châu Giang.

Vào tháng 3 năm đó, còn xảy ra một chi tiết rất thú vị. Một ngày nọ, Phan Ninh đọc được một tin tức trên trang nhất tờ "Kinh tế Tham khảo báo", một nhà khoa học trẻ vừa tròn 30 tuổi tên là Cố Sồ Quân đã phát minh ra "Lý thuyết và kỹ thuật nhiệt động lực học tuần hoàn Cố thị". Theo thông tin, kỹ thuật của ông khi áp dụng vào tủ lạnh và máy điều hòa cỡ nhỏ có thể tiết kiệm điện từ 20% - 40%, hơn nữa lại không cần dùng đến Freon. Tờ báo hết lời ca ngợi kỹ thuật của ông, còn đăng kèm một bài bình luận với tiêu đề "Nhanh tay cướp lấy thần tài Cố Sồ Quân". Phan Ninh đặc biệt cắt bài báo đó ra, yêu cầu cấp dưới đi tìm hiểu kỹ lưỡng. Một tháng sau, cấp dưới báo cáo rằng Cố Sồ Quân tuổi trẻ khí thịnh, tự xưng đã có hơn 100 công ty tủ lạnh nước ngoài liên hệ với mình, hơn nữa lại không mấy mặn mà với việc chuyển giao kỹ thuật cho các công ty nước ngoài, thế là sự việc đành bỏ dở. Không ai ngờ rằng, 12 năm sau, vị nhà khoa học "thần tài" này lại dùng một cách thức đầy mập mờ để thâu tóm Khoa Long (năm 1994, Phan Ninh chuyển đổi nhà máy tủ lạnh Châu Giang thành Tập đoàn Khoa Long, đồng thời gia nhập lĩnh vực sản xuất máy điều hòa), và cuối cùng đưa nó vào con đường suy thoái không lối thoát.

Một người Mỹ gốc Hoa tên là Cận Vũ Tây đến Thâm Quyến vào mùa hè năm đó. Người phụ nữ ngọt ngào với mái tóc ngắn kiểu búp bê, nói tiếng Anh giọng New York chuẩn xác và tiếng Trung cũng rất lưu loát này đang trở thành thần tượng mới của phụ nữ Trung Quốc. Bà dẫn dắt một chương trình truyền hình mang tên "Khắp nơi trên thế giới", mỗi tuần hai lần giới thiệu những phong tục ngoại lai thú vị trên trái đất tới hàng trăm triệu khán giả trên đài CCTV. Đối với những người Trung Quốc lâu nay chưa từng ra nước ngoài, điều này chắc chắn có sức hấp dẫn mãnh liệt. Danh tiếng của bà tại Trung Quốc nhanh chóng tăng cao, được hãng tin AP gọi là "Siêu sao mới của Trung Quốc". Ngay trong thời điểm chương trình đang gây sốt, người phụ nữ có đầu óc kinh doanh nhạy bén này bắt đầu lên kế hoạch thành lập một nhà máy son môi tại Thâm Quyến. Hơn hai năm sau, Công ty Mỹ phẩm Cận Vũ Tây (Thâm Quyến) ra đời, nó nhanh chóng trở thành nhà sản xuất mỹ phẩm có độ nhận diện và doanh số bán hàng đứng đầu Trung Quốc. Năm 2004, Cận Vũ Tây bán toàn bộ cổ phần công ty của mình cho L'Oréal, doanh nghiệp mỹ phẩm lớn nhất thế giới. Theo tính toán của tờ "Doanh nhân Trung Quốc", giá mua lại là 76 triệu Euro.

Cũng tại Thâm Quyến, vào tháng 7, chàng thanh niên người An Huy gầy gò, ít nói tên Sử Ngọc Trụ đứng ngơ ngác giữa con phố rộng lớn nhưng bẩn thỉu. Bảy năm trước, Sử Ngọc Trụ đỗ vào khoa Toán trường Đại học Chiết Giang với thành tích đứng đầu toàn huyện. Ba năm trước, anh lại thi đỗ vào Đại học Thâm Quyến để học quản lý khoa học phần mềm, sau khi tốt nghiệp được phân về Cục Thống kê tỉnh An Huy. Đã từng đắm mình trong bầu không khí khởi nghiệp tại Thâm Quyến suốt ba năm, Sử Ngọc Trụ thực sự không thể chịu nổi sự bình lặng và cứng nhắc ở các cơ quan nội địa. Chỉ vài tháng sau, anh kiên quyết từ chức, quay trở lại mảnh đất phương Nam đầy cuồng nhiệt và cơ hội đó. Lúc này, trong hành lý của Sử Ngọc Trụ chỉ có 4.000 nhân dân tệ vay mượn khắp nơi cùng phần mềm hệ thống in ấn dàn trang máy tính bàn M-6401 mà anh đã dành chín tháng tâm huyết để nghiên cứu.

Sử Ngọc Trụ trông thư sinh, nhìn qua là thấy dáng vẻ của một nho sinh phương Nam, thế nhưng anh lại có bản tính đánh cược táo bạo đến kinh ngạc, bản tính này sẽ còn được thể hiện nhiều lần trong hành trình khởi nghiệp sau này của anh. Ngay trong những ngày đầu đến Thâm Quyến, anh đã đưa ra quyết định đánh cược lớn nhất cuộc đời. Anh gọi điện cho tờ "Thế giới Máy tính", đề nghị đăng một quảng cáo trị giá 8.400 nhân dân tệ với nội dung "M-6401: Bước đột phá mang tính lịch sử", yêu cầu duy nhất là đăng quảng cáo trước, trả tiền sau. "Nếu quảng cáo không có hiệu quả, tôi cùng lắm chỉ trả một nửa tiền quảng cáo, sau đó đành phải bỏ trốn," sau này anh đã nói như vậy.

13 ngày sau, tài khoản ngân hàng của anh nhận được ba khoản tiền gửi tổng cộng 15.820 nhân dân tệ. Hai tháng sau, anh kiếm được 100.000 nhân dân tệ. Đây là "thùng tiền đầu tiên" trong sự nghiệp kinh doanh của anh. Anh đổ toàn bộ số tiền này vào quảng cáo, bốn tháng sau, anh trở thành một triệu phú trẻ tuổi lặng lẽ phát tài. Tháng 1 năm 1990, Sử Ngọc Trụ chui vào hai căn phòng sinh viên tại Đại học Thâm Quyến, ngoài việc mỗi tuần xuống lầu một lần để mua mì tôm, anh đã ở lì trước máy tính suốt 150 ngày đêm. Lần này, thứ anh mang ra là chuỗi sản phẩm phần mềm xử lý văn bản M-6402. Khi anh lảo đảo bước ra khỏi căn phòng sinh viên bẩn thỉu đó, anh phát hiện ra toàn bộ đồ đạc trong nhà đã không cánh mà bay, người vợ không gặp mặt suốt mấy tháng cũng chẳng thấy tăm hơi. Tuy nhiên, anh lại đang đứng ở một điểm khởi đầu mới của sự nghiệp. Anh từ Thâm Quyến đến Chu Hải, chàng thanh niên cao 1m80, nặng chưa đầy 60kg này đã đặt cho công ty kỹ thuật mới của mình một cái tên đầy vang dội — Cự Nhân. Anh tuyên bố, Cự Nhân sẽ trở thành IBM của Trung Quốc, một người khổng lồ của phương Đông.

Ngay từ đầu, bản tính đánh cược cùng tài năng siêu việt trong tiếp thị của Sử Ngọc Trụ đã bộc lộ rõ nét. Khi công ty vừa mới thành lập không lâu, anh đã đưa ra một quyết định mà tất cả cấp dưới đều phản đối: các đại lý bán máy tính trên toàn quốc chỉ cần đặt mua 10 thẻ Hán tự Cự Nhân là được miễn phí đến Chu Hải tham gia hội nghị bán hàng của Cự Nhân. Trong phút chốc, hơn 200 đại lý từ khắp nơi tụ hội về Chu Hải. Với cái giá hàng trăm ngàn nhân dân tệ, Sử Ngọc Trụ đã ồn ào dệt nên một mạng lưới bán hàng liên kết lớn nhất trong ngành máy tính Trung Quốc thời bấy giờ. Năm sau, doanh số thẻ Hán tự của Cự Nhân đã đánh bại các công ty như Liên Tưởng, Tứ Thông và Bắc Đại Phương Chính, vươn lên đứng đầu ngành cùng loại trên cả nước, công ty thu về lợi nhuận ròng hơn 10 triệu nhân dân tệ. Tiếp đó, Sử Ngọc Trụ liên tục phát triển các sản phẩm như máy tính viết tay tiếng Trung, máy tính xách tay tiếng Trung, thẻ fax Cự Nhân, máy thu ngân điện tử tiếng Trung Cự Nhân, phần mềm tài chính Cự Nhân, thẻ diệt virus Cự Nhân, v.v. Từ đặc điểm sản phẩm có thể thấy, tất cả sản phẩm của Cự Nhân đều là những sản phẩm "Hán hóa" nhắm vào thị trường Trung Quốc, kỹ thuật không hề phức tạp, nhưng lại có tính cạnh tranh hơn nhiều so với những công ty máy tính ở Trung Quan Thôn chỉ biết nhập khẩu và chuyên đi bán lại. Cự Nhân nhanh chóng trở thành doanh nghiệp công nghệ cao có độ nhận diện cao nhất và khả năng tăng trưởng tốt nhất Trung Quốc.

Câu chuyện của Sử Ngọc Trụ phù hợp với mọi trí tưởng tượng của mọi người về một "gã cao bồi khởi nghiệp": một thiếu niên biên cương tay trắng, một mình đặt chân đến thành phố lớn lạnh lẽo xa lạ, dựa vào bản lĩnh của mình, trong thời gian ngắn nhất gây dựng nên một vùng trời mới. Sử Ngọc Trụ nhanh chóng trở thành thần tượng của thanh niên trí thức cả nước, "Đến Thâm Quyến để trở thành Sử Ngọc Trụ" trở thành giấc mơ của vô số sĩ tử dũng cảm tiến về phía Nam thời bấy giờ. Anh được bình chọn là "Mười nhân vật phong vân cải cách Trung Quốc", "Mười doanh nhân công nghệ xuất sắc tỉnh Quảng Đông". Chàng thanh niên người An Huy không bao giờ yên phận này đã đón nhận đỉnh cao đầu tiên trong sự nghiệp doanh nhân của mình. Trong hơn mười năm tới, cuộc đời anh sẽ thăng trầm và huyền thoại như một "cơn gió xoáy", anh sẽ rơi vào điên cuồng, sau đó phá sản, rồi lại kiên cường đứng dậy giữa những tranh cãi và nghi ngờ.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba