Vào đầu thập niên 80, cùng với sự hồi phục dần dần của nền kinh tế và sức mua của người dân, tình trạng thiếu hụt vật tư (bao gồm cả hàng tiêu dùng và nguyên liệu sản xuất) diễn ra trên diện rộng. Trong khi đó, các kênh lưu thông nằm trong tay nhà nước vẫn hoạt động kém hiệu quả và cứng nhắc. Điều này đã trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của các chợ tiểu thương và chợ chuyên doanh tại các vùng nông thôn ven biển. Còn tại các đô thị, một thế lực lưu thông ngầm nằm giữa ranh giới hợp pháp và phi pháp đã hình thành. Những người này được gọi là "Đảo gia" (dân buôn lậu/đầu cơ). Một số người trong họ có khả năng đánh hơi thị trường và năng lực vận hành cực kỳ nhạy bén, số khác lại dựa vào các mối quan hệ thân hữu. Họ đã thiết lập một mạng lưới logistics khổng lồ và phức tạp nằm ngoài hệ thống lưu thông mua bán tập trung của nhà nước để trục lợi từ chênh lệch giá. Trong những năm tiếp theo, phong trào "Đảo gia" ngày càng dữ dội, kéo dài hơn mười năm. Việc họ lợi dụng quan hệ để sinh ra tham nhũng, buôn bán giấy phép, giàu lên chỉ sau một đêm và phá hoại trật tự lưu thông đã tạo nên hình ảnh vô cùng tồi tệ trong mắt công chúng, đến mức ai nấy đều nghiến răng căm hận, muốn đánh đuổi. Tuy nhiên, xét về mặt khách quan, những "Đảo gia" này giống như đàn kiến gặm nhấm con đê, cuối cùng đã phá hủy hệ thống lưu thông kế hoạch hóa cứng nhắc đến mức tan hoang, từ đó bằng một phương thức xám xịt và phi pháp để hỗ trợ tái thiết lập lưu thông thị trường và phân bổ nguồn lực của Trung Quốc. Họ là những ký sinh trùng kinh tế tất yếu xuất hiện trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế.
Vào khoảng năm 1983, nhóm "Đảo gia" đầu tiên của Trung Quốc xuất hiện tại Bắc Kinh và Thâm Quyến. Bắc Kinh là trung tâm của các nguồn lực chính sách và giao dịch quyền tiền, còn Thâm Quyến lại có bầu không khí thương mại cởi mở cùng hiệu ứng cửa sổ mở cửa ra thế giới.
Lúc này, Thâm Quyến đã dần lộ rõ ưu thế trũng thấp của đơn vị đi đầu trong cải cách. Một điều nằm ngoài dự tính của Nhậm Trọng Di, Viên Canh và những người khác là "cửa sổ" này không hề thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài khổng lồ như thiết kế ban đầu. Ngược lại, các công ty thương mại được thành lập với danh nghĩa là "cửa sổ" đã lợi dụng chính sách ưu đãi của Thâm Quyến để thực hiện việc buôn bán và lưu thông hàng hóa. Tiến sĩ Trần Văn Hồng từ Trung tâm Nghiên cứu Châu Á tại Hồng Kông đã phát hiện trong một nghiên cứu rằng, bốn mục tiêu phát triển Thâm Quyến ban đầu do Viên Canh và những người khác đề ra, đến năm 1983 đều đã dần đi chệch hướng: "Sản phẩm chủ yếu xuất khẩu" thì thực tế nhập khẩu vượt xuất khẩu 484 triệu USD; "Thu hút chủ yếu là kỹ thuật tiên tiến" thì thực tế chủ yếu lại nhập khẩu các thiết bị đã bị đào thải ở Hồng Kông và Nhật Bản; "Đầu tư chủ yếu từ vốn nước ngoài" thì thực tế vốn nước ngoài chỉ chiếm 30%, hơn nữa phần lớn là vốn Hồng Kông; "Cấu trúc chủ yếu là công nghiệp" thì tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Thâm Quyến năm đó là 720 triệu tệ, trong khi tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa xã hội là 1,25 tỷ tệ, làm kinh doanh kiếm được nhiều tiền hơn làm công nghiệp rất nhiều. Một tác phẩm mô tả sự trỗi dậy sớm của Thâm Quyến mang tên "Bí ẩn Nhân sư của Thâm Quyến" đã ghi lại rằng: "Sự nhiệt tình vay vốn làm giàu cao đến mức kinh ngạc, vay được tiền là treo biển thành lập công ty này công ty nọ, trên đường phố Thâm Quyến pháo nổ không dứt mỗi ngày, các khoản vay không được kiểm soát như ngựa bất kham, đã vượt quá số dư nợ của Thâm Quyến hơn 2 tỷ tệ, khiến họ buộc phải đi vay tiền từ trung ương và các tỉnh, khu tự trị khác..."
Tình trạng này không hề thay đổi trong những năm sau đó. Trong mắt người nước ngoài, điều kiện đầu tư tại Thâm Quyến không tốt như những gì đã hứa hẹn ban đầu. Tạp chí "Fortune" của Mỹ số tháng 4 đã đăng một bài quan sát, phàn nàn rằng: "Sự quản lý của Thâm Quyến, cơ cấu chồng chéo, thiếu kinh nghiệm thương mại. Một nhà đầu tư nói rằng, ở nhiều quốc gia, những vấn đề chỉ cần một cuộc điện thoại là giải quyết xong, thì ở Thâm Quyến cần rất nhiều thời gian để thảo luận với chính quyền. Đây vẫn là Trung Quốc." Thế nhưng, trong mắt vùng nội địa và các tỉnh khác, môi trường chính sách của Thâm Quyến đã tốt đến mức không thể tốt hơn. Ngày càng có nhiều người giống như Vương Thạch đổ xô đến đây tìm cơ hội, ngày càng nhiều hàng hóa và vốn đổ về đây. Năm 1979, ngân hàng chủ chốt nhất của Thâm Quyến là Ngân hàng Xây dựng Thâm Quyến, tiền gửi chỉ có 3,81 triệu tệ, đến năm 1983, con số này đã lên tới 719 triệu tệ. Trong mười năm đầu xây dựng Thâm Quyến, tài sản quốc doanh tăng lên 25 tỷ tệ. Các khoản vay từ ngân hàng lên tới 18 tỷ tệ, mà phần lớn trong đó là được huy động từ các vùng nội địa bằng nhiều phương thức chính quy hoặc xám xịt. Theo nghĩa này, kỳ tích Thâm Quyến không phải do thu hút vốn nước ngoài mà ra, mà là do nhân dân cả nước "đảo" (đầu cơ/buôn bán) mà thành. Học giả Quảng Đông Hà Bác Truyền trong cuốn "Trung Quốc trên sườn núi" từng mô tả một ví dụ về việc "buôn bán đầu cơ": Một số người Thượng Hải chạy đến Thâm Quyến mua một chiếc ô gấp, phát hiện ra nó vốn được vận chuyển từ Thượng Hải sang Hồng Kông, rồi lại chuyển ngược về Thâm Quyến. Người Thượng Hải rất vui, nói rằng mua ở đây rẻ hơn ở Thượng Hải vài đồng; người Thâm Quyến cũng vui, nói rằng kiếm được vài đồng; công ty bách hóa Hồng Kông cũng rất vui, cũng nói rằng kiếm được vài đồng, thật không biết ai là kẻ bị lừa!
"Sự hoạt động cực kỳ sôi nổi và khuynh hướng tự do trong lĩnh vực lưu thông là phương thức phân bổ và tích lũy tài sản quan trọng nhất trong giai đoạn đầu và giữa thập niên 80. Khi đó, vốn tư nhân còn rất nhỏ bé, không đủ khả năng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, còn các công ty nước ngoài thì chần chừ khi gia nhập, vì vậy đại đa số hàng hóa xã hội vẫn do các nhà máy quốc doanh sản xuất và chế tạo. Tuy nhiên, những doanh nghiệp này lại bị mắc kẹt trong thể chế, không có quyền tự chủ trong mua sắm, định giá và bán hàng, điều này đã tạo ra không gian phát triển lớn nhất cho các "Đảo gia" cũng như các công ty thương mại đủ loại. Kiểm điểm lại toàn bộ cuộc cải cách doanh nghiệp quốc doanh thập niên 80, chúng ta nhận thấy rằng, đã xuất hiện sự chệch hướng chiến lược trong việc tập trung thúc đẩy cải cách doanh nghiệp: những người sở hữu vốn nhà nước đặt trọng tâm vào việc thay đổi chế độ quản lý nội bộ, trong khi thực tế, sự thay đổi lớn nhất lúc bấy giờ lại diễn ra ở khâu lưu thông hàng hóa."
Đối mặt với sự sôi động và hiện tượng "hỗn loạn" ở khâu lưu thông, chính phủ trung ương rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan.
Một mặt, các "Đảo gia" và các công ty thương mại dân doanh đủ loại đã làm xáo trộn hệ thống kế hoạch hóa lưu thông hàng hóa, gây ra tình trạng tăng giá loạn xạ và lạm phát. Vì vậy, trong năm này, Bắc Kinh liên tiếp ban hành văn bản. Tháng 7, Quốc vụ viện và Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương cùng ban hành "Thông báo khẩn", yêu cầu nghiêm khắc phải "kiên quyết ngăn chặn hai luồng gió xấu là tăng giá bừa bãi và phân bổ bừa bãi". Tháng 10, hai cơ quan này lại ban hành "Thông báo", yêu cầu "kiên quyết ngăn chặn các hoạt động vi phạm pháp luật và kỷ luật trong việc cung ứng tư liệu sản xuất nông thôn". Về mặt khách quan, hiệu quả của hai bản "Thông báo" này là: đối với những "Đảo gia" có chống lưng, dù có răn đe nhưng căn bản không thể cấm đoán; còn đối với những doanh nghiệp quốc doanh "thật thà nghe lời", nó khiến họ không dám tự quyết, co cụm lại trong khuôn khổ của thể chế kế hoạch.
Mặt khác, nới lỏng kiểm soát giá cả, mở quyền định giá cho một số hàng hóa đã trở thành xu thế tất yếu. Trước đó, tất cả hàng hóa tại Trung Quốc, từ máy móc lớn đến kim chỉ, đều do nhà nước định giá kế hoạch, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không được có chút quyền tự chủ nào. Tình trạng này rõ ràng không thể duy trì, vì vậy nhà nước bắt đầu nới lỏng dần giá cả hàng tiểu thương, đồng thời cho phép các sản phẩm cùng loại có mức "chênh lệch chất lượng" từ 5% - 15%. Những sản phẩm chất lượng cao được trao giải Vàng, Bạc còn có không gian định giá lớn hơn, trong đó sản phẩm giải Vàng được tăng giá không quá 15%, giải Bạc không quá 10%, sản phẩm chất lượng cao không quá 5%.
Việc nới lỏng và thả nổi giá cả hàng tiểu thương đã mang lại khả năng cho việc lưu thông hàng hóa và sự trỗi dậy của các doanh nghiệp tư nhân. Trong những mô tả sau này, bạn sẽ thấy sự xuất hiện của thế hệ doanh nghiệp tư nhân đầu tiên của Trung Quốc gắn liền chặt chẽ với việc lưu thông và sản xuất hàng tiểu thương. Chính tại những lĩnh vực nhỏ nhặt, vốn bị các doanh nghiệp quốc doanh vừa và lớn khinh thường này, nguồn vốn dân doanh hoạt động tinh anh đã hoàn thành quá trình tích lũy sơ khai của mình.
Bây giờ, chúng ta hãy chuyển tầm mắt về những vùng đất nghèo khó ở miền Trung và miền Nam Chiết Giang. Người đời sau rất khó tưởng tượng tại sao ở những nơi không có đường sắt, không có nhà máy, tài nguyên khan hiếm, trình độ kiến thức cũng không cao đó lại có thể sản sinh ra các trung tâm phân phối hàng hóa của Trung Quốc.
Trước năm 1980, rất ít người biết đến huyện nhỏ Nghĩa Ô. Nó nằm ở lưu vực miền Trung Chiết Giang, ba mặt giáp núi, đường xá chật hẹp, nhà gỗ thấp bé. Toàn huyện có 280.000 lao động thì dư thừa tới 150.000 người, thu nhập bình quân đầu người mỗi năm là 88 tệ. Gần trăm năm nay, thứ nổi tiếng nhất của Nghĩa Ô là "gõ kẹo đổi lông gà". Ở đây sản xuất đường đỏ, đất đai lại cằn cỗi, để tăng năng suất lương thực, địa phương có thói quen dùng lông gà làm phân bón, gọi là "tắc mao". Để thu gom lông gà, nông dân thường gánh gồng gánh kẹo, tay lắc trống bỏi, đi khắp các thôn xóm "gõ kẹo đổi lông gà" vào mùa nông nhàn đông xuân. Để có thêm thu nhập, trong gánh kẹo thường để thêm kim chỉ, phấn sáp, lược gỗ mà phụ nữ cần. Đội quân "gõ kẹo" này có khoảng vạn người, trăm năm không dứt, trở thành những thương nhân nông gia "bẩm sinh" ở vùng miền Trung Chiết Giang. Khoảng năm 1978, tại hương Hai mươi ba dặm và hương Phúc Điền ở phía đông huyện Nghĩa Ô xuất hiện các chợ phiên tự phát, hơn mười gánh hàng bày ra đó, bán đủ loại kim chỉ, chổi lông gà tự chế, bàn chải, v.v. Hai năm sau, những người bán hàng rong này tiến vào thị trấn Trù Thành của huyện, một gánh hàng bày ra, xung quanh lập tức mọc thêm hai ba gánh, rồi nhiều hơn nữa. Các quầy hàng nhỏ nối đuôi nhau, tiếng rao hàng dần thành sóng âm, chẳng bao lâu đã phát triển lên hơn hai trăm quầy. Chính quyền huyện lúc đó không biết quản lý và xử lý đội quân "gõ kẹo" này thế nào, bèn ban hành "Giấy phép tạm thời gõ kẹo đổi lông gà tạp vật", coi như mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của những thương nhân này.
Đến cuối năm 1982, toàn huyện đã phát ra 7.000 "Giấy phép tạm thời" lúc nào không hay, số thương nhân ở thị trấn Trù Thành cũng vượt quá 300 quầy, hàng hóa giao dịch đã vượt xa phạm vi "lông gà tạp vật" quy định. Có người bắt đầu viết thư lên tỉnh, báo động "Nghĩa Ô xuất hiện ổ nhỏ của chủ nghĩa tư bản". Bí thư Huyện ủy lúc bấy giờ là Tạ Cao Hoa phải đối mặt với áp lực cực lớn.
Tạ Cao Hoa là một người đàn ông trung niên gầy gò thấp bé, cao chưa đầy 1,65 mét, nặng tối đa 90 cân, đi trên đường trông như một đóa bông đang bay. Thế nhưng, chính "đóa bông" này lại đưa ra quyết định ngoan cường nhất đời mình. Tháng 11 năm 1982, ông tuyên bố chính thức mở cửa "Chợ tiểu thương Trù Thành" và công bố "Bốn cho phép": Cho phép nông dân kinh doanh, cho phép làm nghề buôn bán đường dài, cho phép mở cửa thị trường thành thị và nông thôn, cho phép cạnh tranh đa kênh. Trong bốn điều, "cho phép làm nghề buôn bán đường dài" rõ ràng đi ngược lại với văn kiện trung ương, ba điều còn lại cũng không có căn cứ pháp luật nào. Tạ Cao Hoa đã trao giấy phép kinh doanh đầu tiên của chợ tiểu thương cho một phụ nữ nông thôn tên là Phùng Ái Tình, người sau này trở thành nhân vật được cả nước biết đến. Tháng 7 năm 1983, chính quyền huyện Nghĩa Ô đầu tư 580.000 tệ, xây dựng một khu chợ kiểu mái che rộng 220 mẫu, bên trong toàn bộ là nền xi măng, khung thép ngói thủy tinh, đây là khu chợ chuyên doanh tiên tiến nhất Trung Quốc lúc bấy giờ.
Tạ Cao Hoa gan dạ đã đào ra "vùng trũng chính sách" này tại Nghĩa Ô, nhanh chóng tạo ra hiệu ứng tích tụ. Đến cuối năm, một người tâm huyết tên là Chu Hằng Hưng đã làm một thống kê: số quầy hàng trong chợ Nghĩa Ô tăng lên 1.050, số người giao dịch trung bình mỗi ngày là 6.000 người, trong đó hơn 60% là người ngoại tỉnh, chủ yếu là người Ôn Châu và Thai Châu. Hàng hóa lên sàn có tới hơn 3.000 loại, sản phẩm công nghiệp địa phương chiếm khoảng 1/3, phần còn lại hầu hết đến từ các doanh nghiệp hương trấn trong tỉnh và các sản phẩm từ Giang Tô, Quảng Đông, trong khi nơi tiêu thụ chủ yếu là các tỉnh phía bắc sông Trường Giang và Vân Nam, Quý Châu... Rõ ràng, một mạng lưới thị trường vượt biên giới tỉnh, lan tỏa ra cả nước đã hình thành sơ khai vào thời điểm đó. Cùng lúc đó, lưu thông hàng hóa cũng thúc đẩy sự phát triển của các nhà máy kiểu gia đình ở Nghĩa Ô, rất nhiều thương nhân bày quầy trong chợ, ở nhà làm nhà máy gia đình, mô hình "trước cửa hàng sau nhà máy" tự nhiên ra đời.
"Hàng nhiều giá rẻ kiểu dáng mới", danh tiếng của Nghĩa Ô lan truyền với tốc độ không thể tin nổi ở nông thôn Trung Quốc, nơi đây nhanh chóng xuất hiện các thương nhân từ khắp nơi đổ về. Cuối năm 1984, phóng viên Thẩm Cát Khánh của tờ "Văn Hối Báo" Thượng Hải nghe người quen nói ở Chiết Giang có một nơi gọi là Nghĩa Ô, một loại hàng tiểu thương mới lạ hay kỹ thuật mới chỉ cần xuất hiện tại các trung tâm thương mại thành phố trong nước, không bao lâu sau người ta có thể tìm thấy chúng tại thị trường ở đó. Ông bèn đầy hứng thú chạy đến Nghĩa Ô, sau đó viết bài "Chợ lớn trong thung lũng nhỏ", đây là lần đầu tiên Nghĩa Ô được truyền thông phát hiện. Thẩm Cát Khánh nhìn thấy xung quanh chợ tiểu thương có hàng vạn thương nhân và hơn 2.000 nhà máy gia đình hoạt động, mà kỹ thuật của người Nghĩa Ô đều do các thương nhân mang từ khắp nơi trên cả nước về. Gia công nhựa học từ Quảng Châu, công nghệ dệt kim nhập từ Thiệu Hưng, Gia Hưng, sản xuất giày trẻ em được cấy ghép từ Ôn Châu. Ông còn kể một câu chuyện rất sinh động: Đầu năm, có một thương nhân nghe nói kinh doanh mũ chống nắng ở thành phố rất tốt, liền đặc biệt chạy đến Hàng Châu mua một chiếc về, nghiên cứu ba ngày, liền mô phỏng ra những chiếc mũ chống nắng y hệt, giá còn thấp hơn một nửa so với ở thành phố. Nửa năm sau, số hộ kinh doanh gia công mũ chống nắng ở chợ Nghĩa Ô đã lên tới 3.000 người, trở thành trung tâm sản xuất và tiêu thụ mũ chống nắng lớn nhất cả nước.
Mô hình phát triển của Nghĩa Ô, "Nghĩa Ô sau này trở thành chợ tiểu thương lớn nhất toàn cầu. Đến năm 2006, nơi này giao dịch tiểu thương hàng năm vượt quá 30 tỷ tệ, hơn 40.000 quầy hàng, lưu lượng khách mỗi ngày 200.000 lượt, hơn 6.000 đại lý tổng, đại diện tổng của các doanh nghiệp nổi tiếng trong và ngoài nước, hơn 8.000 thương nhân nước ngoài thường trú tại Nghĩa Ô." gần như là mẫu vật cho sự tăng trưởng của kinh tế tư nhân Trung Quốc thập niên 80: sự xuất hiện của một chợ chuyên doanh, xây dựng nên một mạng lưới hàng hóa lan tỏa ra nông thôn và các thị trấn vừa và nhỏ. Dưới sự thôi thúc của nhu cầu logistics, hàng ngàn nhà máy gia đình mọc lên xung quanh, cuối cùng hình thành nên cơ cấu công nghiệp sơ khai "trước cửa hàng sau nhà máy", "hai bánh xe dẫn động". Trong hơn mười năm đầu cải cách ở Trung Quốc, bất kỳ điều kiện khách quan nào về nền tảng công nghiệp, hỗ trợ chính sách, tố chất nhân văn hay vị trí địa lý đều không thể sánh được với ý thức cải cách đổi mới của địa phương. Thông thường, việc tư duy ở một địa phương có được giải phóng hay không chính là điều kiện duy nhất quyết định khả năng phát triển của nó. Những vùng thành phố có nền tảng công nghiệp hùng hậu, vị trí địa lý ưu việt như Đông Bắc, Hoa Bắc và Thượng Hải, do màu sắc kinh tế kế hoạch đậm nét, năng lực quản lý của chính phủ hoàn thiện, người dân có mức độ phụ thuộc vào thể chế khá cao, vốn tư nhân khó có cơ hội nảy mầm. Ngược lại, những vùng biên viễn nghèo khó, nơi kinh tế quốc doanh yếu kém như Đồng bằng Châu Giang, Mân Nam và vùng trung nam Chiết Giang lại bất ngờ sở hữu dũng khí và khả năng tự tìm đường sống.
Trong chợ tiểu thương Nghĩa Ô, các thương nhân đến từ Ôn Châu là nhóm chủ chốt nhất. Trên thực tế, trước khi Nghĩa Ô trỗi dậy, các chợ chuyên doanh ở Ôn Châu đã phát triển đến mức độ đáng kể.
So với Nghĩa Ô, Ôn Châu là một địa danh mang màu sắc truyền kỳ hơn. Trong lịch sử cải cách đương đại Trung Quốc, Ôn Châu có thể được coi là "thánh địa". Nơi đây khai sinh ra những hộ kinh doanh cá thể đầu tiên, những chợ chuyên doanh đầu tiên, những công ty tư nhân đầu tiên, và vì thế nơi đây cũng phải chịu áp lực cực lớn về chính trị và ý thức hệ. Mỗi khi có cuộc giao tranh tư duy, nơi đây lại trở thành tâm điểm chỉ trích. Trong đợt chỉnh đốn quản lý bắt đầu từ năm trước, Ôn Châu đã trở thành đối tượng trọng tâm được quan tâm, sự kiện "Bát đại vương" xảy ra không phải là hiện tượng ngẫu nhiên. Việc chỉnh đốn đã khiến nền kinh tế Ôn Châu đang rối ren sôi động đột ngột hạ nhiệt, tuy nhiên dòng nước ngầm ẩn dưới lòng dân chưa bao giờ đứt đoạn.
Vào khoảng năm 1983, công nghiệp gia đình ở Ôn Châu có hơn mười vạn hộ, 400.000 nhân viên, quanh năm có mười vạn người bôn ba khắp cả nước để quảng bá sản phẩm và thu mua nguyên liệu. Sau này có người dùng "Tinh thần bốn ngàn" để mô tả sự gian khổ của "đội quân mua bán mười vạn người" này: Trải qua ngàn cay đắng, nói hết ngàn lời nói, chạy khắp ngàn núi sông, nghĩ hết ngàn phương kế. Dưới sự chạy đôn chạy đáo và làm cầu nối của những nhân viên mua bán này, các huyện như Nhạc Thanh, Thương Nam dần dần hình thành hơn 400 trung tâm phân phối hàng hóa, trong đó một số nơi có quy mô được những người hiếu kỳ gọi chung là "Mười chợ chuyên doanh lớn của Ôn Châu". Hàng hóa giao dịch tại các chợ này đều là tiểu thương nhật dụng và nguyên liệu sản xuất, như cúc áo, túi dệt nhựa, giày nhựa, thiết bị điện hạ thế, da thuộc, biển hiệu nhôm nhựa, v.v.
Điều đáng ngạc nhiên nhất là những khu chợ này lại không nằm ở những con đường giao thông huyết mạch hay trung tâm thị trấn, mà hoàn toàn nằm ở những thôn làng trong thung lũng hay vịnh nước có giao thông vô cùng bất tiện, việc đi lại giao dịch tốn rất nhiều thời gian và công sức. Ví dụ, chợ cúc áo Kiều Đầu ở Nhạc Thanh, khởi phát ở một hốc núi cách quốc lộ Hàng - Ôn 3,5 km. Kể từ khi nó xuất hiện năm 1979 cho đến 20 năm sau khi dần suy tàn, nó chưa từng di dời khỏi địa điểm cũ hoặc tiến gần hơn chút nào tới quốc lộ.
Chợ hàng dệt may tái chế Nghi Sơn ở Thương Nam lại càng bất tiện về giao thông. Phóng viên Hồ Hoành Vĩ của Tân Hoa Xã đã ghi lại "lộ trình" khi ông đi phỏng vấn tại Nghi Sơn năm đó: Sáng sớm xuất phát từ huyện Linh Khê, ngồi xe buýt nhỏ xóc nảy trên đường làng gần hai tiếng đồng hồ, trước mắt hiện ra một con sông nhỏ không tên. Lên thuyền, núi non hai bên bờ vô cùng thanh tú, chiếc thuyền nhỏ hẹp dài như thuyền rồng, không có mái che, uốn lượn theo dòng sông quanh co. Lên bờ, chỉ thấy hàng loạt "taxi" nông dân (đây là một loại xe ba bánh chạy dầu diesel nhỏ, giới hạn chở sáu người, thực tế thường chở hơn mười người, có người thậm chí bám ngoài xe như nhện) chèo kéo khách rất nhiệt tình, động cơ diesel nổ bành bành khiến tim bạn đập loạn nhịp. Lại là một con sông nhỏ, lại là một chuyến hành trình phong cảnh mà người làm kinh doanh không có thời gian để ý tới. Buổi chiều, khi bạn cảm thấy có chút đói quá mức, thì thị trấn Nghi Sơn cũng đã đến. Nghi Sơn lúc bấy giờ đã có hơn mười ngàn máy dệt, 67.000 nhân viên, 4 hương chuyên doanh, 58 thôn chuyên doanh, 7 chợ chuyên doanh, mỗi năm lượng phế liệu acrylic chảy vào địa phương này lên tới 17.000 tấn. Có người tính toán, tính theo một toa tàu chở 20 tấn, tổng cộng cần 850 toa tàu.
Một lượng nguyên liệu khổng lồ như vậy, cộng thêm hàng chục triệu bộ quần áo acrylic tái chế mỗi năm, được vận chuyển ra vào từ nơi cực kỳ bất tiện này, mà người kinh doanh lại không hề nghĩ đến việc di dời. Hiện tượng này khiến người đời sau đọc cảm thấy rất khó hiểu. Một nhà nghiên cứu Ôn Châu tên là Trương Nhân Thọ từng dùng "hiệu ứng vùng biên" để giải thích: "Phần lớn mười chợ lớn của Ôn Châu đều nằm ở những nơi giao thông thủy bộ không thuận tiện, cách giải thích hợp lý duy nhất chỉ có thể là: ở những nơi đó, tư tưởng tả khuynh tương đối yếu, sự trói buộc của kinh tế kế hoạch tương đối nhỏ, nếu không, những khu chợ này rất có thể đã bị dẹp bỏ trước khi hưng thịnh. Kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc chứng minh rằng, sự đột phá ban đầu đối với thể chế cũ thường xảy ra ở những nơi thể chế cũ ít phòng bị nhất." Luận điểm này có thể nói là đánh trúng trọng tâm. Qua đây có thể minh chứng cho tình cảnh nguy hiểm của các thương nhân Ôn Châu thời bấy giờ, sự tinh ranh và chua chát của những người đi đầu cải cách đại khái đều nằm ở đây cả. "Đối lập với Ôn Châu là Thượng Hải, thành phố thương mại lớn nhất Trung Quốc. Đây là thành phố có màu sắc kinh tế kế hoạch đậm nét nhất, chính phủ kiểm soát nghiêm ngặt nhất. Cho đến đầu thập niên 90, các doanh nghiệp tư nhân địa phương vẫn tăng trưởng yếu ớt. Theo báo cáo của tờ "Trung Hoa Công Thương Thời Báo" ngày 18 tháng 1 năm 1992, vào năm 1991, Văn phòng Tài chính thành phố Thượng Hải vẫn ban hành văn bản số 287, quy định rõ ràng rằng sản phẩm của các doanh nghiệp tư nhân Thượng Hải "tuyệt đối không được vào các cửa hàng lớn, cửa hàng danh tiếng trên đường Nam Kinh, đường Hoài Hải", 2.195 doanh nghiệp tư nhân của thành phố này không một hộ nào được phê chuẩn liên doanh với công ty nước ngoài, với lý do là "Thượng Hải chưa có tiền lệ". Ngân hàng Thượng Hải quy định "đối với doanh nghiệp tư nhân tuyệt đối không cho vay", hợp tác xã tín dụng cũng chỉ có thể thế chấp bằng chứng khoán có giá, hoặc phải có doanh nghiệp quốc doanh thực lực bảo lãnh mới được vay, nhưng số tiền dưới 3.000 tệ."
Đến cuối năm này, kinh nghiệm chợ chuyên doanh của Ôn Châu đã nhận được sự quan tâm của cấp cao trung ương. Tại Hội nghị Công tác Nông thôn toàn quốc ngày 29 tháng 11, Phó Thủ tướng Vạn Lý đã khen ngợi hết lời ngành dệt may tái chế ở Nghi Sơn, đề nghị những người tham dự đều có thể đến tham quan. Bài phát biểu của ông truyền về Ôn Châu, các quan chức địa phương lập tức họp hành, loa lớn loa nhỏ tuyên truyền rộng rãi, cuối cùng đã khiến đám mây mù hình thành từ sự kiện "Bát đại vương" một năm trước tan đi đôi chút.
Những biến đổi diễn ra trong lĩnh vực lưu thông này, trên đất nước Trung Quốc thời bấy giờ chỉ như sao trên trời, dù vô cùng sôi động nhưng vẫn chưa cho thấy sự tác động mang tính cách mạng đối với thể chế kế hoạch. Đặc điểm thiếu hụt nguồn cung hàng hóa khiến các nhà hoạch định chính sách vẫn cho rằng, căn bệnh của các doanh nghiệp quốc doanh chủ yếu xuất phát từ sự cứng nhắc và kém hiệu quả trong quản lý nội bộ. Vì vậy, toàn bộ sự chú ý và việc xây dựng chính sách đều tập trung vào những khía cạnh này.
Khi ấy, các doanh nghiệp quốc doanh tập trung gần như toàn bộ tài sản và nhân tài tinh nhuệ của Trung Quốc. Nó là nhân vật chính trong công cuộc cải cách tiệm tiến của đất nước, xét trên một khía cạnh nào đó, hình thái phát triển và lộ trình cải cách của nó đã quyết định bản chất và vận mệnh của cuộc cải cách Trung Quốc. Trong phạm vi toàn cầu thời bấy giờ, tất cả các quốc gia xã hội chủ nghĩa đều đối mặt với bài toán nan giải về cải cách doanh nghiệp nhà nước. Nhà kinh tế học người Hungary, János Kornai, hai năm trước đã xuất bản cuốn "Kinh tế học về sự khan hiếm". Ông đã thực hiện cuộc giải phẫu lý luận về mô hình vận hành và đặc trưng của các doanh nghiệp quốc doanh. Nhắm vào hiện tượng hiệu suất doanh nghiệp thấp kém và hàng hóa khan hiếm phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa, Kornai chỉ ra rằng căn nguyên không nằm ở "sai lầm về chính sách", mà nằm ở các mối quan hệ kinh tế - xã hội và điều kiện thể chế khiến cho ràng buộc ngân sách của doanh nghiệp bị mềm hóa.
Đây là một phán đoán vô cùng chí mạng, ngụ ý rằng chỉ khi thay đổi các điều kiện thể chế xã hội hiện hữu mới có thể giúp sức sống của doanh nghiệp quốc doanh được hồi sinh, chứ không thể chỉ ký thác hy vọng vào việc điều chỉnh chính sách trung ương hay thay đổi quản lý nội bộ doanh nghiệp. Tư duy này đã tạo ra tiếng vang mạnh mẽ ở Đông Âu và Liên Xô, cuối cùng trở thành cơ sở lý luận cho việc các quốc gia đó lựa chọn "liệu pháp sốc" đầy quyết liệt. Tại Trung Quốc, lý thuyết của Kornai cũng sớm được truyền vào. Kết luận của ông rõ ràng không thể nhận được sự đồng thuận, tuy nhiên, lý thuyết phi cân bằng và phương pháp phân tích của ông lại có tác động khai sáng to lớn đối với các nhà kinh tế học Trung Quốc.
Thực trạng của vòng cải cách doanh nghiệp quốc doanh đầu tiên cho thấy, nếu không có sự phân định rõ ràng về phân phối lợi ích, thì dù tính tích cực sản xuất của doanh nghiệp có được giải phóng tạm thời, mâu thuẫn giữa nó với cơ quan quản lý hành chính cấp trên cũng không được xoa dịu, thậm chí có thể càng trở nên trầm trọng hơn. Vụ tranh chấp giữa Thủ Cương và Cục Tài chính Bắc Kinh đang liên tục diễn ra ở khắp nơi trên cả nước. Đồng thời, do thiếu tính ràng buộc về ngân sách, xung động đầu tư của doanh nghiệp sẽ bùng phát một cách mù quáng. Trong vài năm qua, sở dĩ các dự án cơ sở hạ tầng và dự án nằm ngoài kế hoạch ngày càng lớn, đến mức khó lòng kiểm soát, chính là vì không ai phải chịu trách nhiệm cho hậu quả của việc đầu tư. Cứ làm cho chiếc bánh to ra trước đã, chia xong rồi tính sau, còn việc dọn dẹp hậu quả thế nào thì đó là "chuyện của nhà nước". Thế là, để giải quyết nút thắt này, chính quyền trung ương quyết định ra tay từ cải cách hệ thống thuế.
Tháng 6, Quốc vụ viện chuyển phê duyệt "Phương án thí điểm về cải cách lợi nhuận thành thuế đối với doanh nghiệp quốc doanh" của Bộ Tài chính, đồng ý thay đổi phương thức nộp lợi nhuận áp dụng nhiều năm nay bằng chế độ nộp thuế theo tỷ lệ. Các doanh nghiệp quốc doanh vừa và lớn có lợi nhuận đều phải nộp thuế thu nhập theo mức thuế suất 55% dựa trên lợi nhuận thực tế đạt được. Phần lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp, tùy theo các tình huống khác nhau mà áp dụng các biện pháp như nộp khoán tăng dần, nộp theo tỷ lệ cố định, nộp thuế điều tiết, hay nộp khoán định mức để nộp vào ngân sách nhà nước. Đối với các doanh nghiệp quốc doanh nhỏ thì thí điểm chế độ thuế lũy tiến siêu ngạch tám bậc, sau khi nộp thuế thu nhập thì doanh nghiệp tự chịu lỗ lãi.
"Cải cách lợi nhuận thành thuế" là bước đi quan trọng đầu tiên của doanh nghiệp quốc doanh hướng tới chế độ quản trị doanh nghiệp hiện đại. Nó giải phóng doanh nghiệp khỏi sự bao bọc kiểu "tình cha con", mặc dù sự "giải phóng" này chỉ mới bắt đầu, và phần thu nhập của "người cha" vẫn là "phần lớn". Nhìn từ tình hình thực thi sau này, "cải cách lợi nhuận thành thuế" về mặt khách quan đã khơi dậy tính tích cực của doanh nghiệp, giải tỏa một phần mối quan hệ căng thẳng giữa doanh nghiệp và cơ quan chủ quản. Tuy nhiên, những vấn đề tiềm ẩn vẫn còn rất nhiều, bao gồm chủng loại thuế quá đơn điệu, khó phát huy vai trò đòn bẩy của thuế trong việc điều tiết kinh tế; việc phân phối lợi nhuận sau thuế vẫn còn tương đối phức tạp và mang tính tùy tiện, v.v. Quan trọng hơn cả là nó chưa đụng chạm đến vấn đề xác định trách nhiệm khi doanh nghiệp xuất hiện rủi ro và thua lỗ. Kinh tế quốc doanh vẫn là một "nồi cơm chung", "cải cách lợi nhuận thành thuế" chỉ giải quyết được một phần vấn đề doanh nghiệp tranh giành cơm ăn với cơ quan chủ quản mà thôi.