Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 362 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1980 Năm tháng chia tay sự lãng mạn (3)

❊ ❊ ❊

Năm 1980, Trung Quốc vẫn còn khá xa lạ với thế giới.

Ngày 14 tháng 4, tờ "The Guardian" của Anh đăng một bức ảnh thời sự từ Trung Quốc. Đó là một cửa hiệu chụp ảnh tại Thượng Hải, trong tủ kính treo một bộ âu phục kèm theo tấm biển ghi: "Tại đây có cho thuê âu phục". Bức ảnh này ẩn chứa một lối ẩn dụ đầy hóm hỉnh. Trong khi đó, một bức ảnh thời sự khác do tờ "Newsweek" đăng tải lại mang ý nghĩa khác lạ: một nữ du khách phương Tây đang tham quan Tử Cấm Thành, còn trên hành lang thì đứng chật kín những du khách Trung Quốc đang chăm chú quan sát cô. Đây quả thực là một sự hiếu kỳ xa lạ lẫn nhau.

Năm này, mức tiêu thụ lương thực bình quân đầu người trên toàn quốc là 428 cân, tăng 8,2% so với năm 1952; thịt lợn đạt 22,3 cân, tăng 88,6% so với cùng kỳ. Cả nước bán được 169 triệu đôi giày da, nói một cách đại khái thì cứ mười người mới có một người đi giày da. Do tốc độ tăng trưởng dân số vượt xa tốc độ xây dựng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người cả nước chỉ đạt 3,9 mét vuông, giảm 0,6 mét vuông so với năm 1952. Để kiểm soát sự gia tăng dân số không ngừng, Quốc vụ viện đã thành lập Tổ lãnh đạo Kế hoạch hóa gia đình, lần đầu tiên nêu rõ "mỗi cặp vợ chồng tốt nhất chỉ nên sinh một con", và chẳng bao lâu sau, điều này đã trở thành một quốc sách cơ bản được thực thi nghiêm ngặt trong thời gian dài. Từ ngày 1 tháng 11 năm này, tivi cuối cùng cũng được phép "cung ứng rộng rãi"; trước đó, đây là mặt hàng cần có hạn ngạch và phê duyệt mới được mua. Đến cuối năm, tổng doanh thu bán lẻ hàng tiêu dùng bình quân đầu người cả nước đạt 4,22 tỷ nhân dân tệ, trong đó tỷ lệ mua "bốn món đồ lớn" — xe đạp, đồng hồ, máy khâu và tivi — đã tăng từ 0,5% năm 1952 lên 24,5%. Vào thời điểm đó, yêu cầu cao nhất của các cô gái miền Nam khi lấy chồng là phải chuẩn bị đủ "bốn món đồ lớn" này.

Trên bình diện quốc tế, kinh tế Nhật Bản vẫn là một điểm sáng duy nhất. Xét theo GDP, vào những năm 1960, quy mô kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản về cơ bản là ngang ngửa, nhưng đến năm 1980, Nhật Bản đã gấp bốn lần Trung Quốc. Cuối năm 1980, Bộ Công thương Nhật Bản tuyên bố sản lượng ô tô của nước này lần đầu tiên vượt mốc 10 triệu chiếc, đạt 11,04 triệu chiếc, chiếm hơn 30% tổng sản lượng ô tô toàn cầu, một bước đánh bại Mỹ để trở thành "số một thế giới". Ô tô là mặt hàng biểu tượng cho văn minh công nghiệp và sự cạnh tranh giữa các quốc gia hiện đại. Vì lẽ đó, đài truyền hình NBC của Mỹ đã phát sóng một bộ phim tài liệu dài hai tiếng vào khung giờ vàng với tiêu đề "Nhật Bản làm được, tại sao chúng ta không làm được?", chủ đề chính là so sánh công nghiệp Mỹ và Nhật Bản. Người dẫn chương trình của NBC nói: Mười năm trước, người Nhật nổi tiếng thế giới vì sản xuất hàng kém chất lượng, cụm từ "Made in Japan" trở thành câu cửa miệng để chế giễu hàng dỏm. Nhưng đến nay, "Made in Japan" đã trở thành đồng nghĩa với chất lượng ưu việt, thanh niên Mỹ giờ đây lấy việc lái xe thể thao Nhật làm niềm tự hào. Trong giới truyền thông phương Tây thời bấy giờ còn lưu truyền câu chuyện thế này: Một ngày nọ, một người Nhật lịch thiệp lấy cớ học tiếng Anh để đến ở nhờ trong một gia đình người Mỹ. Kỳ lạ là, ngày nào anh ta cũng ghi chép, mọi chi tiết trong cuộc sống gia đình của người Mỹ, từ ăn món gì, xem chương trình tivi nào đều nằm trong danh sách ghi chép. Ba tháng sau, người Nhật rời đi. Không lâu sau đó, hãng Toyota tung ra thị trường loại xe du lịch giá rẻ chất lượng cao được thiết kế nhắm vào nhu cầu của các gia đình Mỹ, và vô cùng đắt hàng. Thiết kế của chiếc xe ấy cân nhắc đến từng chi tiết nhu cầu của người Mỹ. Điều khiến người Mỹ tức tối hơn cả là hãng Toyota còn đăng tải báo cáo nghiên cứu của họ về các gia đình Mỹ lên báo, đồng thời gửi lời xin lỗi và cảm ơn đến gia đình nọ.

Để đối phó với thách thức từ người Nhật, các công ty Mỹ buộc phải thử học hỏi. Hãng Xerox, vốn bị các công ty máy photocopy của Nhật đánh cho không ngóc đầu lên nổi, bắt đầu áp dụng "quản trị đối chuẩn" (benchmarking), tức là tháo dỡ từng khâu trong sản xuất kinh doanh, so sánh từng cái một với đối thủ đáng gờm nhất là hãng Fujitsu của Nhật Bản, từ đó tìm ra điểm mấu chốt để cải tiến. Dự án này của Xerox kiên trì suốt mười năm, cuối cùng đã đẩy lùi được sự tấn công của hãng Fuji trong lĩnh vực máy photocopy.

Cũng đối mặt với áp lực to lớn, tập đoàn General Electric (GE) của Mỹ chuẩn bị thay CEO. Reginald Jones sắp nghỉ hưu đã bất chấp mọi ý kiến trái chiều để chọn Jack Welch. Khi đó, Welch không nằm trong danh sách ứng viên kế nhiệm vì ông quá trẻ, quá nóng nảy và còn hơi nói lắp. 20 năm sau, cả thế giới đều tin rằng đây là một sự lựa chọn vĩ đại đến nhường nào.

Ngày 4 tháng 11 năm đó, Ronald Reagan, xuất thân là diễn viên Hollywood, đắc cử Tổng thống thứ 40 của Mỹ. Ngay khi nhậm chức, ông đã đối mặt với khủng hoảng dầu mỏ, quan hệ Mỹ - Xô căng thẳng và sự trỗi dậy của kinh tế Nhật Bản. Không ai ngờ rằng sau này ông lại trở thành một trong những vị tổng thống thành công nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Ngày 8 tháng 12, John Lennon, nhân vật biểu tượng của ban nhạc The Beatles nước Anh, bị một người hâm mộ ám sát ngay trước cửa nhà. Chàng thanh niên mang vẻ lãng tử bước ra từ những quán bar nhỏ ở Liverpool này là ca sĩ được yêu thích nhất trong lịch sử nhạc rock. Anh và âm nhạc của mình từng bị giới truyền thông coi là "nguyên nhân gây ra sự nhiễu loạn của thanh thiếu niên", còn cuộc đời huyền thoại của anh vẫn được người đời ca tụng sau nhiều năm. Nếu muốn tìm một nhân vật có chút liên quan đến ông tại Trung Quốc, thì có thể chú ý đến một học sinh trung học tốt nghiệp ở Bắc Kinh tên là Thôi Kiện. Lúc đó cậu đang chờ việc ở nhà, lý tưởng lớn nhất là thi đỗ vào Đoàn Ca múa nhạc Bắc Kinh để làm một người thổi kèn trumpet. Sáu năm sau, cậu viết nên ca khúc "Vô sở hữu" mang đậm "khí chất Lennon", từ đó trở thành ca sĩ nhạc rock nổi tiếng nhất Trung Quốc sau này. Sự ra đi của Lennon dường như báo hiệu kỷ nguyên hippie đầy chất lãng mạn đã kết thúc, một chu kỳ thương mại xa hoa mới đã đến đúng hẹn.

Trong giới thương mại toàn cầu, còn một sự kiện đáng ghi nhớ là nhà tương lai học người Mỹ xuất thân từ phóng viên, Alvin Toffler, đã xuất bản cuốn "Làn sóng thứ ba" gây chấn động một thời. Ông tái định nghĩa xã hội tiền công nghiệp, xã hội công nghiệp và xã hội hậu công nghiệp, chỉ ra rằng phương tiện quan trọng để chúng tạo ra của cải lần lượt là đất đai, vốn và thông tin. Toffler phát hiện ra rằng ở Mỹ và một số quốc gia châu Âu, dân số làm việc trong ngành dịch vụ hiện đại đã vượt qua dân số lao động công nghiệp, trở thành ngành công nghiệp dẫn đầu mới. Từ đó, ông đưa ra khái niệm "Làn sóng thứ ba" với tiền đề là cuộc cách mạng công nghệ mới. Quan điểm này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy của mọi người. Hai năm sau, cuốn sách này được đưa vào Trung Quốc và "phát hành nội bộ" trong phạm vi không công khai.

Hai tuần sau khi John Lennon bị ám sát, tại cửa một nhà kho của Viện Khoa học Trung Quốc ở Bắc Kinh, Trần Xuân Tiên 46 tuổi đứng trong gió lạnh, nhiệt tình chào hỏi từng người một đang đạp xe đến. Tổng cộng có 14 người đến, ai nấy đều có vẻ ngoài thư sinh, giọng điệu ôn hòa. Họ đều là các nhà nghiên cứu thuộc Viện Vật lý, Viện Điện tử và Viện Cơ học thuộc Viện Khoa học, lần này họ đều bị "lão Trần" lôi kéo đến. Trong năm nay, họ sẽ cùng nhau thực hiện một "việc lớn".

Người khởi xướng "việc lớn" này chính là Trần Xuân Tiên. Ông là tài năng khoa học nổi tiếng của Viện Khoa học, thời trẻ từng du học Liên Xô, nhờ thành tích xuất sắc mà từng được Stalin tiếp kiến. Chuyên ngành của ông là lĩnh vực hạt nhân nhiệt hạch cực kỳ tiên tiến. Ông đã xây dựng thiết bị Tokamak đầu tiên trong nước và sáng lập cơ sở hạt nhân nhiệt hạch của Trung Quốc tại Hợp Phì. Năm 1978, Viện Khoa học Trung Quốc đánh giá và bổ nhiệm đợt nghiên cứu viên cấp giáo sư đầu tiên, toàn viện chỉ có mười chỉ tiêu, ông và nhà toán học nổi tiếng Trần Cảnh Nhuận cùng có tên trong danh sách. Trong hai năm qua, với tư cách là một trong những nhà khoa học có trọng lượng nhất Trung Quốc, ông đã ba lần thăm Mỹ, và ba chuyến khảo sát này đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông.

Trung Quan Thôn là tên một ngôi làng nhỏ ở phía bắc thành phố Bắc Kinh. Trước năm 1949, đây là một ngôi làng tự nhiên có 70 hộ dân, 276 nhân khẩu, nghĩa địa xung quanh chiếm hơn 30% diện tích đất. Năm 1952, Viện Khoa học Trung Quốc đặt trụ sở tại đây, một năm sau, Đại học Yên Kinh sáp nhập với Đại học Bắc Kinh, hình thành nên một khu vực giáo dục nghiên cứu ở phía bắc ngôi làng nhỏ này. Sau này, khu vực Trung Quan Thôn lần lượt mọc lên các viện nghiên cứu trọng điểm của Viện Khoa học và khu ký túc xá nhân viên rộng lớn, trở thành một khu vực tập trung đông đảo nhân viên nghiên cứu khoa học. Trong tâm trí Trần Xuân Tiên, "mật độ nhân tài ở đây tuyệt đối không thấp hơn khu vực San Francisco và Boston, tố chất cũng không hề kém cạnh, tôi cảm thấy có tiềm năng rất lớn chưa được khai phá".

Trần Xuân Tiên đã hào hứng với ý tưởng này từ lâu. Sau khi trở về từ chuyến khảo sát thứ ba, ông quyết định bắt đầu từ chính mình để thúc đẩy sự ra đời của Thung lũng Silicon Trung Quốc. Dưới sự chạy đôn chạy đáo của ông, Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật Bắc Kinh đã trở thành người ủng hộ ông. Hiệp hội nhỏ bé này cho Trần Xuân Tiên mượn 200 nhân dân tệ và giúp ông mở một tài khoản công ty. Thế là, khi năm cũ sắp hết, Trần Xuân Tiên đã mở thực thể khoa học kỹ thuật dân doanh đầu tiên trong nước tại một nhà kho ở Trung Quan Thôn — Bộ phận Dịch vụ Phát triển Kỹ thuật Tiên tiến thuộc Hiệp hội Plasma Bắc Kinh.

Động thái của Trần Xuân Tiên gây ra sự chấn động không nhỏ trong nội bộ Viện Khoa học, nhưng trong xã hội, đây là một sự kiện vô cùng mờ nhạt. Không một phương tiện truyền thông nào đưa tin về điều này, bản thân Trần Xuân Tiên cũng không biết mình có thể đi được bao xa. Người đàn ông trung niên có tư tưởng năng động nhất trong Viện Khoa học này đã từ bỏ hoàn toàn sự nghiệp khoa học của mình để bắt đầu một trải nghiệm doanh nhân tầm thường và gập ghềnh. Sau này, ông chạy đôn chạy đáo vì công việc, thậm chí còn từng bị bắt cóc hai lần vì tranh chấp nợ nần. Ông là một người điều hành công ty thất bại.

Thế nhưng, chính Trần Xuân Tiên này lại dùng sức của một người để lay chuyển ngành công nghiệp công nghệ cao của Trung Quốc. Nguyên tắc kinh doanh mà ông đặt ra cho bộ phận dịch vụ sau này đã trở thành quy luật chung cho sự ra đời của các công ty công nghệ cao dân doanh Trung Quốc, đó là: nhân viên khoa học kỹ thuật bước ra khỏi viện nghiên cứu, tuân thủ quy luật chuyển hóa khoa học kỹ thuật, quy luật kinh tế thị trường, không cần nhà nước cấp kinh phí, không chiếm biên chế nhà nước, tự huy động vốn, tự chịu lỗ lãi, tự chủ kinh doanh, tự quyết định theo pháp luật. Phía sau lưng ông, nơi ông bị nghi ngờ, chửi rủa và chế giễu, từng công ty công nghệ lần lượt ra đời tại Trung Quan Thôn. Ba năm sau, khi không có bất kỳ khoản đầu tư nào từ nhà nước, Trung Quan Thôn nghiễm nhiên trở thành "Phố điện tử" nổi tiếng nhất Trung Quốc. Đến năm 1992, số lượng công ty công nghệ dân doanh tại đây đã đạt tới 5.180 đơn vị.

Mùa đông Bắc Kinh năm 1980 vô cùng lạnh giá, trong suốt tháng 12 có tổng cộng năm trận tuyết lớn, có tin tức cho biết lượng tuyết mùa đông năm nay là lớn nhất trong vòng 20 năm trở lại đây. Hai tháng sau khi khai trương, bộ phận dịch vụ của Trần Xuân Tiên cuối cùng cũng nhận được đơn hàng đầu tiên. Giám đốc một nhà máy nhỏ ở quận Hải Điến đã hỏi nhà khoa học hạt nhân nhiệt hạch Trần Xuân Tiên đang đi chào hàng tận nơi: "Ông có thể giúp chúng tôi giải quyết vấn đề về nguồn điện không?" Trần Xuân Tiên sững người một chút rồi nói: "Đương nhiên rồi, ông có thể trả bao nhiêu tiền?" "Cùng lúc với việc Trần Xuân Tiên đề xướng 'Thung lũng Silicon Trung Quốc' và khởi nghiệp tại Trung Quan Thôn, Đài Loan đã thành lập Công viên Khoa học Tân Trúc, nỗ lực xây dựng 'Thung lũng Silicon Trung Quốc tại Đài Loan'. Chính quyền khi đó đã thành lập Cục Quản lý Khoa học Kỹ thuật, xây dựng quy hoạch khu khoa giáo, thiết kế khung phát triển, ban hành một loạt biện pháp ưu đãi về huy động vốn, đào tạo nhân tài, tối ưu hóa môi trường, đồng thời cung cấp dịch vụ 'một cửa' nhanh chóng, hiệu quả cho những người khởi nghiệp trong khu. Theo lời Tiến sĩ Hà Nghi Từ, Cục trưởng Cục Quản lý đầu tiên, đến năm 1984, Công viên Khoa học Tân Trúc đã thành lập hơn 70 doanh nghiệp công nghệ cao với giá trị sản lượng 10 tỷ Đài tệ, hình hài của một 'Thung lũng Silicon' phương Đông đã dần lộ diện. Đến năm 2000, Công viên Khoa học Tân Trúc rộng sáu km vuông đã thu hút hơn 300 doanh nghiệp công nghệ cao, tổng doanh thu năm 2000 đạt hơn 930 tỷ Đài tệ. Công viên Khoa học Tân Trúc đã trở thành vườn ươm cho ngành công nghiệp công nghệ cao của Đài Loan. Cùng khởi đầu gần như đồng thời, nhưng vận mệnh của Trung Quan Thôn và Công viên Khoa học Tân Trúc lại khác biệt, rất đáng để đối chiếu nghiên cứu."

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba