Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 314 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1991 Một tiếng cười vang giữa biển khơi (1)

❊ ❊ ❊

Biển khơi cười, sóng trào hai bờ cuồn cuộn, nổi chìm theo sóng, ghi lại thời nay.

Trời cao cười, thế sự rối ren cuồn cuộn, ai thua ai thắng, trời cao thấu tỏ.

—— Hoàng Triêm: "Một tiếng cười vang giữa biển khơi"

Đặc trưng thời đại ngày càng thế tục và thương mại hóa đã khiến Trung Quốc không còn mang vẻ huyền bí và khó nắm bắt như trước đây nữa. Tuy nhiên, trong lĩnh vực ý thức hệ, hai luồng tư tưởng khác biệt vẫn đang đối đầu từ xa. Nếu chỉ nhìn từ những tranh luận trên mặt báo, Trung Quốc năm 1991 tràn ngập "khói lửa" của câu hỏi: Cải cách là mang họ "Xã" (xã hội chủ nghĩa) hay họ "Tư" (tư bản chủ nghĩa)? Nhưng sự thật là, những tranh luận ấy cũng giống như cơn gió rối bời trên mặt sông, còn cuộc cải cách kinh tế thực chất lại tựa như đàn cá dưới đáy nước, vẫn kiên định bơi về phía trước.

Hơn ba năm điều tiết vĩ mô đã khiến nền kinh tế quá nóng dần ổn định, các chỉ số kinh tế đều giảm đáng kể, con người trở nên e dè trong cải cách. Mặc dù Trung ương đã đề xuất mở cửa Phố Đông và tái khẳng định chính sách đặc khu Hải Nam không thay đổi, nhưng về tư duy phát triển tổng thể, các cấp quan chức vẫn chưa nắm bắt được phương hướng tương lai. Lúc này, cần có những nhân vật tầm cỡ có sức ảnh hưởng đứng ra khơi dậy nhiệt huyết của mọi người. Sứ mệnh này lại đặt lên vai Đặng Tiểu Bình, người vốn đã "hoàn toàn rút lui khỏi chính trường". Hai năm nay, Đặng Tiểu Bình đều đón Tết ở Thượng Hải. Từ ngày 15 tháng 2 đến ngày 22 tháng 3, tờ "Giải phóng Nhật báo" tại Thượng Hải dựa trên những bài phát biểu của ông trong thời gian ở đây đã lần lượt đăng ba bài bình luận ký tên "Hoàng Phủ Bình" ("Hoàng Phủ Bình" có nghĩa là "bình luận đến từ sông Hoàng Phố", tác giả bài viết là Chu Thụy Kim - Tổng biên tập Giải phóng Nhật báo, Lăng Hà - Trưởng phòng bình luận và Thi Chi Hồng thuộc Phòng nghiên cứu chính sách Thành ủy Thượng Hải), đề xuất tiếp tục kiên trì giải phóng tư tưởng, dám mạo hiểm, cải cách táo bạo, không nên tự giam mình trong những chất vấn về họ "Xã" hay họ "Tư".

Loạt xã luận này vừa đăng đã tạo nên cơn sóng gió trong giới dư luận vốn đang trầm lắng, bởi nó không nêu rõ nguồn gốc tư tưởng, từ đó dẫn đến sự chỉ trích và vây công của một số người. Một tạp chí vào ngày 20 tháng 4 đã đăng bài "Cải cách mở cửa có thể không hỏi họ 'Xã' hay họ 'Tư' được không?", viết rằng: "Không hỏi họ 'Xã' hay họ 'Tư' tất sẽ dẫn cải cách mở cửa đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và chôn vùi sự nghiệp xã hội chủ nghĩa." Một tạp chí khác tung ra bài "Nhắc lại chuyện họ 'Xã' và họ 'Tư'", viết: "Mọi người Trung Quốc không muốn làm nô lệ kép, khi tiến bước trên đại lộ cải cách, đều có trách nhiệm và quyền hạn để hỏi xem đó là họ 'Xã' hay họ 'Tư', luôn phải đề phòng không để chệch khỏi hướng đi của cải cách." Tháng 8 và tháng 9, báo chí Bắc Kinh lần lượt đăng "Hỏi xem là họ 'Xã' hay họ 'Tư'" và "Ba vấn đề của cải cách hiện nay", cho rằng: "Thực hiện cải cách mở cửa nhất định phải phân biệt họ 'Xã' hay họ 'Tư'. Nguyên nhân rất đơn giản, vì trong đời sống thực tế quả thực tồn tại hai quan điểm cải cách khác biệt là họ 'Xã' và họ 'Tư'."

Cuộc tranh luận này kéo dài suốt một năm, cho đến tận khi chuyến tuần thị của Đặng Tiểu Bình tại Thâm Quyến vào năm sau được công khai đưa tin mới đột ngột dừng lại. Trong mọi lĩnh vực, những người táo bạo đã không thể chờ đợi thêm mà bắt đầu xuất phát lại từ đầu. Một đặc điểm trong lịch sử cải cách Trung Quốc là thực tiễn của nhân dân đôi khi đi trước chính sách của Trung ương. Mọi cuộc cải cách và đột phá dù có thể chịu ảnh hưởng và can thiệp mang tính giai đoạn của ý thức hệ, nhưng không thể thực sự ngăn cản bước chân tiến lên của nó.

Tháng 5, Lý Thụy Hoàn đi thị sát Ôn Châu. Ngay trong tháng này, một cán bộ nghỉ hưu vừa viết thư gửi Bắc Kinh tố cáo các ông chủ Ôn Châu đều "ngũ độc câu toàn" (đầy đủ năm loại độc hại), "cưỡi Honda, mặc đồ hiệu A-đế-vương (Adidas), ngủ giường lò xo, ôm người đẹp". Bức thư này trực tiếp khiến Trung ương Đảng phái một đoàn điều tra đến Ôn Châu xác minh. Ôn Châu, nơi vừa mới lấy lại hơi thở sau đợt chỉnh đốn ở Liễu Thị, lại một lần nữa rơi vào cảnh gió thổi cỏ lay. Lý Thụy Hoàn, người mang phong thái cải cách, tất nhiên hiểu rõ áp lực khổng lồ mà cán bộ Ôn Châu phải gánh chịu. Khi giới thiệu với ông về các doanh nghiệp "chế độ hợp tác cổ phần", các quan chức địa phương đã cẩn trọng luận chứng rằng đây là một loại hình kinh tế tập thể "kiểu mới", có "sự khác biệt về bản chất" so với kinh tế tư nhân. Thái độ của Lý Thụy Hoàn lúc đó đã khiến tảng đá trong lòng các quan chức địa phương hạ xuống được một nửa.

Tranh luận "họ Xã họ Tư" trong lĩnh vực kinh tế được thể hiện qua vấn đề tỷ lệ giữa kinh tế công hữu và kinh tế tư nhân. Một số người lo ngại rằng sự tăng trưởng nhanh chóng của cái sau sẽ làm thay đổi tính chất của quốc gia xã hội chủ nghĩa (Năm nay, doanh nghiệp hương trấn đã đạt được thành tích mang tính biểu tượng, tổng giá trị sản lượng doanh nghiệp hương trấn toàn quốc vượt mốc vạn tỷ nhân dân tệ, số lượng nhân viên cũng đồng thời vượt quá 100 triệu người, đạt 106,2 triệu).

Gần đây, sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước trong cạnh tranh thị trường thật sự khiến người ta thất vọng. Ngày 12 tháng 1, tờ "Trung Hoa Công Thương Thời Báo" đăng một bản tin: Tất, găng tay và các mặt hàng tiêu dùng nhỏ tại Bắc Kinh bị tồn kho nghiêm trọng. Quận Đông Thành có hàng trăm doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ như vậy. Cục Công thương quận Đông Thành để tạo cơ hội tiêu thụ cho các doanh nghiệp này đã chủ động sắp xếp cho chúng vào chợ nông sản, dùng biện pháp hành chính để ép chúng chiếm những vị trí đẹp nhất. Kết quả lại trái ngược hoàn toàn: trong hàng trăm doanh nghiệp tồn kho chỉ có 17 đơn vị đến đăng ký, cuối cùng chỉ có sáu bảy đơn vị vào chợ dựng sạp. Phóng viên chứng kiến cảnh tượng tại chợ Hòa Bình Lý - chợ tổng hợp lớn nhất Bắc Kinh là: "Sạp hàng nhà nước và cá thể phân biệt rõ rệt. Người trông sạp của nhà nước thì rụt cổ, trốn sau quầy, mang đậm tác phong quan liêu. Người bán hàng cá thể thì vừa chào mời, vừa cầm mẫu hàng so sánh, náo nhiệt thu hút phần lớn khách hàng. Trong cơn gió lạnh thấu xương, người cá thể vẫn ra sạp từ lúc trời sáng, dọn hàng khi trời tối, trong khi nhân viên tiếp thị nhà nước vẫn làm việc theo giờ hành chính 8 tiếng, nếu muốn kéo dài thời gian kinh doanh lại liên quan đến tiền thưởng, tiền làm thêm giờ, động một sợi tóc là ảnh hưởng toàn thân." Doanh số của các sạp nhà nước này không bằng 1/4 sạp cá thể và nhanh chóng bị đào thải khỏi thị trường. Phóng viên cuối cùng bất lực nói: "Dù khiến doanh nghiệp nhà nước giống hệt cá thể về mặt phần cứng như mặt bằng, sản phẩm, khâu lưu thông, nhưng sự tương đồng về cơ chế lợi ích và cơ chế thị trường lại khó lòng đạt được." Đây là một bản tin mang đầy tính ngụ ý, thể hiện sự bị động và lúng túng của doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực cạnh tranh toàn diện.

Doanh nghiệp nhà nước lúc này không còn khí thế "cải là linh", "khoán là sống" như giai đoạn giữa và cuối thập niên 80, mà thay vào đó là không khí bi tráng và bất lực. Tại kỳ họp Lưỡng hội toàn quốc, một đại biểu Bắc Kinh nói: "Trong lòng chúng tôi như đè một tảng đá lớn, tảng đá đó chính là các doanh nghiệp vừa và lớn của nhà nước." Từ năm 1984, các biện pháp cải cách được đổi mới hàng năm, từ "lợi cải thuế", chế độ khoán, tách biệt chính quyền và doanh nghiệp, đến tối ưu hóa tổ chức, chế độ cổ phần, chế độ cho thuê, thuốc thang kê hết liều này đến liều khác nhưng hiệu quả rất thấp. Những năm gần đây, ngay cả khi được bơm vào nguồn lực tín dụng khổng lồ và các chính sách "ưu tiên", "bảo hộ", biểu hiện của doanh nghiệp nhà nước vẫn khiến người ta không thể an tâm: sản xuất hồi phục chậm, hiệu quả giảm sút, thua lỗ tăng gấp bội. Bình luận viên Tân Hoa Xã trong một bài viết đầy ưu tư nói: "Ai cũng biết nếu doanh nghiệp vừa và lớn không vực dậy được thì mười năm tới kinh tế Trung Quốc không có hy vọng thành công." Lúc bấy giờ, người duy nhất không đồng tình với "sự đồng thuận" này là nhà kinh tế học Tưởng Nhất Vi đến từ Tứ Xuyên. Ông luôn phản đối cách làm "kinh tế lồng chim", cho rằng nhà nước nên từ bỏ sự ưu ái thiên lệch đối với doanh nghiệp nhà nước, có tầm nhìn bao dung và rộng mở hơn để đối xử bình đẳng với các loại hình sở hữu kinh tế khác nhau. Đối với doanh nghiệp nhà nước, quan điểm của ông là "uống thuốc nào cũng không bằng không uống, không quản thì tự sống" (Tưởng Nhất Vi còn có quan điểm về "hộp đen", ông cho rằng: "Chính phủ đối với doanh nghiệp, có thể quản từ bên ngoài, nhưng đừng thò tay vào bên trong. Lùi một bước, nếu không làm được 'hộp đen' thì ít nhất cũng nên làm thành 'hộp kính'"). Phóng viên Lăng Chí Quân của tờ "Nhân dân Nhật báo" sau khi phỏng vấn về đã viết: "Tôi rất chú ý đến lý thuyết này, nhưng vẫn không thấu hiểu được hàm ý bên trong."

Quan điểm của Tưởng Nhất Vi không chỉ khiến Lăng Chí Quân khó hiểu mà còn không nhận được sự công nhận rộng rãi. Thực tế, sự tuyệt vọng của mọi người đối với doanh nghiệp nhà nước không phải hình thành trong ngày một ngày hai, mà là trải qua hơn 20 năm cứu vãn đau đớn và lặp đi lặp lại. Đúng như nỗi băn khoăn của Lăng Chí Quân: "Trong những năm qua, đã kê vô số đơn thuốc cho doanh nghiệp nhà nước, mỗi khi dùng một liều, mọi người lại nói 'sống rồi', đến nay đã không biết bao nhiêu lần 'sống rồi', tĩnh tâm nhìn lại thì thấy vẫn là 'không sống'. Chẳng lẽ chúng ta cứ uống lại những liều thuốc này thì thực sự có hiệu quả sao?"

Tháng 5, còn xảy ra một sự kiện thú vị, đó là các phương tiện truyền thông đứng ra đòi nợ thay cho Bảo Cương Thượng Hải - doanh nghiệp thép có vốn đầu tư lớn nhất sau cải cách mở cửa. Theo báo cáo, trong những năm qua, cơ sở thép hiện đại nhất Trung Quốc này luôn bị "nợ tam giác" quấy nhiễu, tích lũy đến nay đã lên tới hơn 2 tỷ nhân dân tệ, chiếm 1/3 vốn lưu động, đứng trước bờ vực khó duy trì. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Văn phòng thanh toán nợ toàn quốc và Chính quyền thành phố Thượng Hải đều ra mặt điều phối đòi nợ thay cho Bảo Cương nhưng hiệu quả vẫn không đáng kể. Trong đường cùng, họ đành dùng đến chiêu cuối cùng: công khai danh sách những "con nợ" lớn (tổng cộng 113 doanh nghiệp sản xuất và công ty lưu thông nhà nước) lên tờ "Trung Hoa Công Thương Thời Báo". Trong vài tháng sau đó, dưới sự truy vấn và đốc thúc của truyền thông, các con nợ lớn mới bắt đầu trả nợ. Một phóng viên tên Trương Văn Học của tờ báo còn chạy đến Nhà máy ô tô số 1 Trường Xuân - nơi nợ Bảo Cương 44 triệu tệ - để thúc giục nhà máy này trả lại 8 triệu tệ. Việc truyền thông đóng vai trò đòi nợ thực sự là một sự kiện mang màu sắc hài hước đen tối, điều này cũng cho thấy từ một góc độ khác rằng, trong việc điều tiết và quản lý doanh nghiệp nhà nước, các bộ phận chức năng liên quan đã tỏ ra khá bất lực.

Sóng gió từ chức của Lưu Sâm Lâm tại thành phố Lang Phường, tỉnh Hà Bắc lại cho thấy một sự lúng túng khác trong quản trị doanh nghiệp nhà nước. Năm 1985, Lưu Sâm Lâm 25 tuổi đã đăng ký dưới danh nghĩa Tổng công ty Nông công thương Lang Phường để mở một công ty tẩy rửa hóa học. Anh dùng tài sản gia đình làm thế chấp để vay công ty 50.000 tệ khởi nghiệp. Sáu năm sau, công ty này không ngừng lớn mạnh, tài sản đạt 10,4 triệu tệ, sở hữu hơn 300 nhân viên. Theo thỏa thuận, năm 1990 Lưu được hưởng thù lao khoán 1,5 triệu tệ, nhưng phía Nông công thương lại từ chối chi trả với lý do chính sách không hợp pháp. Kết quả là mối quan hệ giữa Lưu Sâm Lâm và "mẹ chồng" (cơ quan chủ quản) nhanh chóng xấu đi. Lưu đệ đơn từ chức, tuyên bố sẽ mang theo các nhân viên chủ chốt để tự lập công ty tư nhân. Sự kiện này qua báo chí đưa tin đã thu hút sự chú ý rộng rãi, dấy lên cuộc thảo luận sôi nổi xoay quanh việc "Lưu Sâm Lâm có nên rời đi hay không". Giải pháp cuối cùng cho sóng gió này là dưới sự dàn xếp của chính quyền thành phố Lang Phường, công ty của Lưu Sâm Lâm tách khỏi mối quan hệ lệ thuộc với Nông công thương, chuyển sang trực thuộc một "mẹ chồng" khác là Cục Công nghiệp nhẹ thành phố, sự việc mới tạm lắng xuống. Sóng gió này cho thấy cùng với sự nâng cao năng lực tự chủ của doanh nghiệp, mâu thuẫn giữa chúng và cơ quan quản lý sẽ ngày càng trở nên nổi cộm và khó giải quyết.

Nhiều dấu hiệu cho thấy các doanh nghiệp nhà nước theo nghĩa truyền thống đang dần tàn lụi trong môi trường thị trường ngày càng gay gắt. Hai năm chỉnh đốn và thị trường ảm đạm đã tiêu mòn chút tinh thần cầu tiến ít ỏi còn lại. Số liệu do Bộ Nông nghiệp cung cấp cho thấy, trong năm 1990, các doanh nghiệp tập thể nông thôn đạt lợi nhuận 26,53 tỷ tệ, lần đầu tiên vượt qua mức 24,6 tỷ tệ của doanh nghiệp nhà nước. Tỷ suất lợi nhuận doanh thu của doanh nghiệp tập thể là 5,6%, gấp hơn hai lần mức 2,6% của doanh nghiệp nhà nước. Doanh nhân nông dân Lỗ Quán Cầu đã dùng một câu vè để thể hiện sự tự tin khi doanh nghiệp hương trấn cạnh tranh với doanh nghiệp nhà nước: "Hổ xuống núi thì tốt, khỉ vẫn cứ nhảy". Ông thậm chí còn dự đoán tại Lưỡng hội ở Bắc Kinh rằng đến năm 2000, doanh nghiệp hương trấn dù là giá trị sản lượng hay lợi nhuận đều sẽ vượt qua doanh nghiệp nhà nước, đóng vai trò "anh cả" trong nền kinh tế quốc dân. Tất nhiên, đây chỉ là lời tuyên bố cá nhân của một doanh nhân nông dân, nhưng lời vừa thốt ra, giới học thuật cả nước không ai đứng ra tranh luận với ông. Nhà nước bắt đầu suy nghĩ lại về chiến lược chấn hưng doanh nghiệp nhà nước, việc để mỗi doanh nghiệp nhà nước đều có được sức sống xem ra là không thể. Do đó, ngoài việc tiếp tục tìm mọi cách hỗ trợ từ chính phủ và tháo gỡ thể chế, một cách làm khôn ngoan hơn dường như là: thu hẹp chiến tuyến, để những "A Đẩu" (nhân vật yếu đuối, kém cỏi) không thể cứu vãn được tự giải quyết.

Ngày 15 tháng 8, tờ "Kinh tế Nhật báo" - nơi hàng ngày đều thảo luận về cách làm sống lại doanh nghiệp nhà nước - đã đăng bài bình luận của Chiêm Quốc Xu với tựa đề "Một số ít doanh nghiệp không 'chết' được, đa số doanh nghiệp không 'sống' nổi". Bài viết khẳng định: "Lý do khiến việc điều chỉnh cơ cấu công nghiệp trở nên khó khăn nằm ở chỗ một số ít doanh nghiệp của chúng ta (đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước) không chết được. Sóng gió đến, mọi người nằm rạp xuống đất, sóng gió qua đi, tất cả lại đứng dậy, ngành nghề vẫn là ngành nghề đó, cơ cấu vẫn là cơ cấu đó. Không phải chúng ta không muốn để một số doanh nghiệp sống, mà là môi trường khách quan không cho phép những doanh nghiệp này sống." Bài viết này vừa đăng đã lập tức gây chú ý rộng rãi, nhiều người cảm nhận được điềm báo của sự điều chỉnh chính sách. "Kinh tế Nhật báo" lúc này đã thuộc hệ thống Quốc vụ viện, nhiều quan điểm của nó đại diện cho thái độ chính thức. Trong vài tháng sau đó, "Kinh tế Nhật báo" chọn Tứ Xuyên làm điển hình, triển khai loạt bài "chết một mảnh, sống một mảng", các phóng viên lần lượt đưa ra những quan điểm rất sắc bén như "để các doanh nghiệp không còn hy vọng cứu vãn được 'an tử' (cái chết êm ái), 'hỉ sự và tang sự cùng làm'."

Trên thực tế, để những doanh nghiệp nhà nước không sống nổi phải chết đi không chỉ là vấn đề giải phóng tư tưởng, mà còn gặp nhiều khó khăn thực tế, quan trọng nhất là vấn đề hậu sự cho công nhân thất nghiệp. Nhiều năm qua, công nhân doanh nghiệp nhà nước tiếp nhận giáo dục làm chủ, coi nhà máy là nhà, lấy thân phận công nhân làm vinh dự, chưa bao giờ có sự chuẩn bị tâm lý và năng lực tái làm việc khi thất nghiệp. Ở nhiều doanh nghiệp lâu đời, thậm chí cả gia đình đều làm trong một nhà máy, "thân phận công nhân" của họ thậm chí có thể truyền đời. Bắt những doanh nghiệp này phải chết chắc chắn sẽ gây ra bất ổn xã hội dữ dội. Thành phố Thâm Quyến từ tháng 4 năm 1990 đã tiên phong bán doanh nghiệp nhà nước cho thương nhân nước ngoài. Đến năm 1991, Thâm Quyến đã bán quyền sở hữu của hơn 40 doanh nghiệp nhà nước, giá trị giao dịch 190 triệu tệ. Truyền thông quan sát: "Trong việc chuyển nhượng quyền sở hữu, khó xử lý nhất là vấn đề công nhân. Chủ sở hữu mới thường không cần công nhân của doanh nghiệp cũ, đều muốn tuyển mới, khiến công nhân cũ thất nghiệp. Các bộ phận liên quan của Thâm Quyến đang tìm cách giải quyết bài toán khó này."

Cách chính để Tứ Xuyên cho các doanh nghiệp đặc biệt khó khăn "an tử" là để những doanh nghiệp nhà nước vẫn đang làm ăn khá khẩm sáp nhập các đơn vị thua lỗ cùng ngành, đồng thời chính phủ dành cho bên sáp nhập nhiều chính sách ưu đãi và hỗ trợ hơn. Nhà máy ống thép liền mạch Thành Đô đã sáp nhập sáu nhà máy thua lỗ, giám đốc nhà máy nói với phóng viên: "Sáp nhập là hành vi của doanh nghiệp, nhưng tuyệt đối không phải là hành vi tự nguyện của doanh nghiệp." Ý muốn nói, nếu không có đủ ưu đãi, họ sẽ không ăn những "quả táo thối" đó. Để sáp nhập một nhà máy thép, nhà máy ống thép đã phải đàm phán với chính phủ suốt 15 tháng. Kinh nghiệm này đã được nhân rộng trong những năm sau đó, nhiều nơi nhờ vậy mà hình thành nên các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn từ việc sáp nhập, họ thường nhờ đó mà có được "chỉ tiêu" niêm yết huy động vốn, trong thuế vụ càng được hưởng ưu đãi đặc biệt. Trong quá trình này, doanh nghiệp "mạnh" như nhà máy ống thép dường như không nhiều, đại đa số các vụ sáp nhập đều là sự thể hiện ý chí của chính phủ, di chứng mà việc "gom đống" mang lại sẽ lại châm ngòi cho một vòng hưng suy mới của doanh nghiệp.

Ngày 25 tháng 11 năm 1991, xe ô tô nhãn hiệu Thượng Hải tuyên bố ngừng sản xuất. Đến đây, hai thương hiệu ô tô lớn sau khi thành lập nước - xe Hồng Kỳ và xe Thượng Hải - đều cáo chung. Nhiều công nhân nghe tin đã từ nội thành vội vã chạy đến An Đình, tranh nhau chụp ảnh với chiếc xe Thượng Hải cuối cùng, có người mắt đã rưng rưng lệ, cũng có người vuốt ve thân xe, bịn rịn chia tay. Xe ô tô nhãn hiệu Thượng Hải bắt đầu sản xuất hàng loạt từ năm 1963, vào thời đầu cải cách mở cửa, nó là hàng hóa do nhà nước kiểm soát đặc biệt, chỉ cán bộ cấp huyện đoàn trở lên mới được đi, người bình thường và doanh nghiệp tư nhân đều không có quyền mua. Sau năm 1983, nhà máy ô tô vốn đang đối mặt với khủng hoảng sinh tồn bắt đầu lén lút bán xe ra xã hội, mỗi chiếc định giá 25.000 tệ. Những người già ở nhà máy nhớ lại: "Mỗi lần bán xe đều sợ hãi vô cùng, lo ngay ngáy, sợ phạm phải sai lầm chính trị gì đó."

Ngay lúc xe Thượng Hải còn đang ngập ngừng lảng vảng bên lề thị trường, thì Volkswagen của Đức lại tăng vốn đầu tư vào Trung Quốc qua từng năm. Mẫu xe Santana do họ sản xuất đạt sản lượng 60.000 chiếc mỗi năm, gần bằng tổng sản lượng của xe Thượng Hải trong suốt 28 năm qua, đã nghiễm nhiên trở thành thương hiệu ô tô số một tại thị trường Trung Quốc. Tạp chí "Business Week" của Mỹ tháng 8 bình luận: "Năm 1990, lợi nhuận sau thuế của Thượng Hải Volkswagen lập tức vượt mục tiêu lợi nhuận toàn cầu của Volkswagen. Một trong những nguyên nhân là, chỉ trong điều kiện kinh tế nhà nước như Trung Quốc, một chiếc xe Santana thông thường mới có thể bán với giá 178.000 nhân dân tệ, gần gấp sáu lần giá trung bình của sản phẩm này trên thế giới." Rõ ràng, biên lợi nhuận đáng kinh ngạc chính là nguyên nhân quan trọng dẫn đến quyết định cuối cùng của phía Trung Quốc trong việc từ bỏ xe Thượng Hải. Kể từ khi thành lập Liên doanh ô tô Thượng Hải Volkswagen vào năm 1985, nhà máy ô tô Thượng Hải cũ đã chỉ còn cái tên, 1.600 nhân viên nòng cốt trong tổng số 2.900 người đã chuyển sang liên doanh mới, cơ quan chủ quản cũng không còn đầu tư vào dự án sản xuất cũ nữa. Xe Thượng Hải trong tình cảnh bị bỏ rơi đã lay lắt sống thêm vài năm, cuối cùng không thể trụ vững. Tháng 5 năm 1991, các cơ quan chức năng nhà nước quyết định trong bốn năm tới sẽ loại bỏ 1,7 triệu xe ô tô cũ sản xuất trước năm 1974, đại đa số xe Thượng Hải đều nằm trong danh sách này. Đây chắc chắn là tin tốt lành cho ngành ô tô Trung Quốc, đáng tiếc là những nhà máy nhà nước già nua ấy đã không còn cơ hội chia sẻ "miếng bánh". Tờ "South China Morning Post" dẫn lời quan chức ngành vật tư nói: "Chính phủ sẽ hỗ trợ tài chính cho các cơ quan và doanh nghiệp thay xe mới, những chiếc xe mới này chủ yếu do các nhà máy liên doanh của Trung Quốc với Mỹ, Nhật, Đức và Pháp sản xuất."

Sự biến mất của xe Thượng Hải là một sự kiện mang tính biểu tượng. Dưới sự tấn công kép của các tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp tư nhân mới nổi, những thương hiệu doanh nghiệp nhà nước lâu đời từng một thời vang bóng đều lần lượt tàn lụi, một thời đại cuối cùng cũng đã trút bỏ ánh hoàng hôn cuối cùng của nó trong sự luyến tiếc.

Cuộc "thảo luận sống chết" về doanh nghiệp nhà nước thực chất báo hiệu một bữa tiệc tư bản kéo dài hơn mười năm đã lặng lẽ bắt đầu. Việc chia tách, tái cơ cấu và bán đi tài sản nhà nước đang lâm vào cảnh khó khăn hoặc nằm bên lề thị trường sẽ trở thành cách thức quan trọng để tích lũy tài sản và phân phối thành quả cải cách. Nếu như năm 1988, "tư bản" - danh từ xấu xa từng bị coi là thú dữ - đã quay trở lại, thì năm nay, nó đã tỏa ra ánh hào quang vàng rực rỡ ngày càng mê hoặc. Những người sớm nhận ra nó sẽ lần lượt trở thành những đứa con cưng của tài sản mới. Và điều bất ngờ là, một phần không nhỏ trong số những người này chính là những kẻ đã đào được "thùng vàng đầu tiên" từ "núi vàng" khổng lồ nhưng trông có vẻ cứng nhắc là tư bản nhà nước.

Năm nay, Mâu Kỳ Trung - người huyện Vạn, Tứ Xuyên - kẻ luôn tin tưởng tuyệt đối vào thiên tài thương mại của mình, cuối cùng đã chứng minh được "thiên tài" của bản thân.

Sau khi rời quê hương, ông luôn săn lùng cơ hội ở Thâm Quyến, Bắc Kinh và Hải Nam. Công ty Nam Đức của ông từng làm đủ loại hình thương mại, từ buôn bán thép đến bán buôn len. Vốn là người thích bay bổng, ông không bao giờ bỏ lỡ bất kỳ "cảnh lớn" nào có thể lộ diện. Năm 1989, ông nhận lời mời đến Davos, Thụy Sĩ tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới, đây là lần đầu tiên doanh nhân Trung Quốc tham gia diễn đàn phi chính phủ nổi tiếng này. Vật giá ở Davos đắt đỏ kinh người, Mâu Kỳ Trung không dám ăn đồ trong khách sạn, ngày nào cũng chạy vào ngõ nhỏ tìm bánh nhân rẻ nhất. Diễn đàn kéo dài nửa tháng, ông ở được bốn ngày đã không chịu nổi đòi về nước, đến lúc thanh toán mới được thông báo rằng với tư cách khách mời, mọi chi phí ăn ở của ông đều được diễn đàn bao trọn gói.

Không lâu sau khi từ Davos trở về, trên chuyến tàu từ Vạn Huyện đi Bắc Kinh, ông ta quen biết một người Hà Nam. Từ miệng người này, Mưu Kỳ Trung biết được Liên Xô khi đó đang đứng trước bờ vực tan rã, họ muốn bán một lô máy bay Tu-154 nhưng lại không tìm được người mua. Thế là, gã người đầy ý tưởng táo bạo này cảm thấy đây là một phi vụ đáng để mạo hiểm. Nam Đức khi ấy không có quyền ngoại thương, không có quyền kinh doanh hàng không, lại càng không có đủ tiền mặt, muốn thực hiện thương vụ máy bay này chẳng khác nào chuyện nghìn lẻ một đêm. Tuy nhiên, Mưu Kỳ Trung vẫn quyết tâm thử một phen. Ông ta nghe ngóng được tin tức về việc Hãng hàng không Tứ Xuyên vừa mở đường bay một năm trước đang có ý định mua máy bay, liền tìm đủ mọi mối quan hệ để đến đàm phán. Hãng hàng không Tứ Xuyên đồng ý mua máy bay Liên Xô, sau đó, Mưu Kỳ Trung lại tập hợp một lượng lớn hàng hóa tồn kho như đồ hộp, áo da từ các doanh nghiệp nhà nước địa phương ở Tứ Xuyên, chuẩn bị dùng phương thức đổi hàng lấy hàng để hoàn tất thương vụ này.

Mưu Kỳ Trung rất biết cách nắm bắt tâm lý người khác. Địa điểm ông ta tiếp đón quan chức Bộ Công nghiệp Hàng không Liên Xô được chọn tại Nhà khách Quốc gia Điếu Ngư Đài ở Bắc Kinh. Trước khi bắt đầu đàm phán, ông ta "vô cùng vinh dự" nói với khách rằng, nơi này chính là nơi cách đây không lâu Gorbachev đã hội đàm với các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Những đồng chí Liên Xô vốn luôn coi trọng cấp bậc đương nhiên lập tức tỏ ra kính trọng. Ngay trong màn "tay không bắt giặc" của Mưu Kỳ Trung, thương vụ "không thể thành hiện thực" này thế mà lại trở thành sự thật. Giữa năm 1991, Nam Đức, Hãng hàng không Tứ Xuyên và phía Liên Xô đạt được thỏa thuận: phía Trung Quốc dùng 500 toa tàu chở đầy hàng tiêu dùng trị giá 400 triệu nhân dân tệ để đổi lấy bốn chiếc máy bay Tu-154 do Liên Xô sản xuất. Sau khi thương vụ này được báo chí đưa tin, Mưu Kỳ Trung lập tức trở thành nhân vật tâm điểm của cả nước. Ông ta tự xưng đã kiếm được từ 80 triệu đến 100 triệu tệ từ phi vụ này. Cách vận hành của Mưu thực chất luôn đi trên ranh giới của chính sách. Tháng 7 năm 2000, Hãng hàng không Tứ Xuyên đem bán đấu giá một chiếc máy bay Tu-154 đã mua năm đó với danh nghĩa là "máy bay buôn lậu".

"Đổi đồ hộp lấy máy bay" khiến Mưu Kỳ Trung nổi tiếng chỉ sau một đêm, điều này càng khiến ông ta tin tưởng tuyệt đối vào "thuyết tay không bắt giặc" của mình. Ông ta nói với phóng viên đến phỏng vấn: "Quy luật kinh tế cũ đã trở nên vô cùng nực cười. Một bộ máy văn minh công nghiệp đã trở nên lạc hậu ở phương Tây, lại càng không thể áp dụng được ở Trung Quốc. Chúng ta cần thiết lập những quy tắc trò chơi mới cho nền kinh tế văn minh trí tuệ. Có người nói tôi là tay không bắt giặc, tôi cho rằng, tay không bắt giặc chính là sự vận dụng cao độ các tài sản vô hình, đặc biệt là trí tuệ, và đây chính là sự đóng góp mang tính thế kỷ của tôi cho giới kinh tế Trung Quốc." Trong mười năm tiếp theo, Mưu Kỳ Trung không ngừng đưa lý thuyết này vào hành động. Ông ta vạch ra hàng loạt "kế hoạch vĩ đại" nghe qua đã thấy kinh hãi, trong đó có việc dùng bom phá một khe hở rộng 50 km, sâu hơn 2000 mét trên dãy Himalaya, dẫn luồng không khí ấm ẩm từ Ấn Độ Dương vào vùng Tây Bắc khô hạn của Trung Quốc, biến nơi đó thành vùng có mưa. Trong suốt thập niên 90, Mưu Kỳ Trung luôn là tiêu điểm của truyền thông. Ông ta đạt được vô số danh hiệu như "Mười doanh nhân tư nhân hàng đầu Trung Quốc", "Nhân vật phong vân cải cách Trung Quốc", "Mười nhà công nghiệp hàng đầu Trung Quốc"; Tập đoàn Nam Đức được gọi là "Thửa ruộng thí nghiệm cho công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc", "Doanh nghiệp tư nhân đích thực của Trung Quốc". Năm 1994, tạp chí Forbes của Mỹ liệt kê Mưu Kỳ Trung vào danh sách các tỷ phú toàn cầu của năm, đứng thứ tư trong số các tỷ phú đại lục. Cùng năm đó, một tạp chí dân sự của Trung Quốc mang tên "Tài phú" đã xếp ông ta là "Doanh nhân dân sự số một Trung Quốc" và "Đứng đầu danh sách siêu tỷ phú đại lục". Người đàn ông Tứ Xuyên đầy trí tưởng tượng thương mại và sự nhiệt huyết cải cách viển vông này vì thế đã trở thành doanh nhân đầu tiên được mệnh danh là "Người giàu nhất Trung Quốc".

Sự thành công trong mạo hiểm của Mưu Kỳ Trung vào khoảng năm 1991 không phải là một sự kiện ngẫu nhiên. Sau 13 năm cải cách, cơ chế kế hoạch hóa đã đứng trước bờ vực tan rã trong tình cảnh khó khăn cả trong lẫn ngoài. Việc thiếu khả năng khai thác thị trường dẫn đến hàng hóa tồn kho vẫn là bài toán khó nhất làm đau đầu nhiều doanh nghiệp nhà nước. Điều này hiển nhiên đã mang lại không gian vận hành khổng lồ cho rất nhiều "tay buôn" lớn nhỏ giống như Mưu Kỳ Trung. Thông qua các phương thức sáng tạo để thu lợi nhuận trong khâu lưu thông đã trở thành thủ đoạn làm giàu mà những nhà mạo hiểm này áp dụng hết lần này đến lần khác. Tuy nhiên, do thiếu các công cụ vốn và quy tắc trò chơi chuẩn mực, những hoạt động kinh doanh này thường rất kỳ lạ, huyền bí và cũng đầy rẫy những bất ổn.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba