Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 314 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1986 Sức mạnh của kẻ không có gì (1)

❊ ❊ ❊

"Nhưng anh lại luôn cười tôi, chẳng có gì cả." —— Thôi Kiện: "Chẳng có gì cả"

Ngày 26 tháng 3, Trần Vĩnh Quý, người làng Đại Trại, Sơn Tây, từng giữ chức Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, đã qua đời trong giấc ngủ. Hơn 30 năm trước, Trần Vĩnh Quý dẫn đầu một nhóm dân nghèo "đội sương gánh nguyệt", đục đẽo một khe núi hoàng thổ dài 700 mét thành những thửa ruộng bậc thang có thể gieo trồng hoa màu. Mao Trạch Đông phát động khẩu hiệu toàn quốc "Nông nghiệp học Đại Trại", Trần Vĩnh Quý trở thành thần tượng của nông dân Trung Quốc. Sau khi vào Bắc Kinh nhậm chức Phó Thủ tướng, ông vẫn quấn chiếc khăn trắng trên đầu, không hề thay đổi bản chất nông dân. Trong thời gian lâm bệnh nặng, mỗi ngày ông đều uống một nửa số thuốc bác sĩ kê, để dành một nửa, tích tiểu thành đại, gom được gần nửa ngăn kéo, rồi dặn con trai trả lại cho nhà nước.

Sự ra đi của Trần Vĩnh Quý không gây ra sự chú ý lớn. Người ta dường như đã bắt đầu quên lãng "Chú Vĩnh Quý" - người nổi tiếng nhất cả nước, kẻ từng "chiến thiên đấu địa" này. Bởi lẽ, vào năm nay, "anh hùng nông dân" trong lòng mọi người đã mang một hình ảnh khác.

Giám đốc xí nghiệp hương trấn, doanh nhân nông dân — trong tên gọi của họ luôn mang chút mùi bùn đất, thực tế là trông họ cũng quê mùa cục mịch, cả người cứ như vừa cấy lúa dưới ruộng lên. Dù mặc áo vest hiệu gì đi chăng nữa, trông họ cũng không vừa vặn, rất ít người biết thắt cà vạt cho đúng cách. Thương hiệu thời trang họ thích nhất là Pierre Cardin của Pháp và Goldlion của Hồng Kông, logo của những hãng này thường được làm rất to, đứng từ xa cũng có thể nhìn thấy rõ ràng. Tiếng phổ thông của họ đều tệ hại, lại còn đặc biệt thích đăng ảnh mình lên tập giới thiệu doanh nghiệp và quảng cáo, mà hình tượng thì đồng loạt nực cười: ngồi trước bàn làm việc to đùng, tay phải đang nghe điện thoại, tay trái còn ấn lên một chiếc điện thoại khác, mắt nhìn thẳng đờ đẫn. Tạp chí "Der Spiegel" của Đức trong bài báo năm đó đã viết: "Ở Trung Quốc, nông dân táo bạo mà lỗ mãng... từ đó mang lại sức sống cho doanh nghiệp." Còn bình luận của "The Asian Wall Street Journal" thì cho rằng: "Rất nhiều doanh nhân nông dân gần như không có bất kỳ kinh nghiệm nào về thương mại". Trong một bản tin ngày 9 tháng 7, phóng viên nói họ "không biết cách quản lý một nhà máy, không biết cách lập báo cáo tài chính, cũng không biết làm thế nào để sản xuất ra sản phẩm đạt chất lượng". Thế nhưng, điều khiến tờ báo này kinh ngạc là sự nghiệp của họ đang phát triển hưng thịnh, giống như nhà văn Dư Hoa đã viết trong cuốn tiểu thuyết "Huynh đệ" nhiều năm sau đó: "Họ giống như cỏ dại, bị bước chân giẫm hết lần này đến lần khác, bị bánh xe nghiền nát hết lần này đến lần khác, nhưng vẫn tràn đầy sức sống mà lớn lên."

Khoảng năm 1986, sự trỗi dậy của xí nghiệp hương trấn đã trở thành một sự thật không thể chối cãi.

Hai năm trước, vào ngày 2 tháng 3, Quốc vụ viện chính thức phát đi thông báo, đổi tên "xí nghiệp xã đội" thành "xí nghiệp hương trấn". Là một hình thái doanh nghiệp mới, độc lập, xí nghiệp hương trấn lần đầu tiên nổi lên mặt nước. Theo số liệu liên quan, năm đó xí nghiệp hương trấn ở Trung Quốc đã phát triển lên tới 1,65 triệu đơn vị, sở hữu 38,48 triệu lao động. Đến cuối năm 1986, hai năm sau đó, tổng số xí nghiệp hương trấn đã phát triển lên 15,15 triệu đơn vị, gần 80 triệu lao động, nộp thuế cho nhà nước 17 tỷ nhân dân tệ, đạt tổng giá trị sản lượng 330 tỷ nhân dân tệ, chiếm 20% tổng giá trị toàn quốc, cục diện "năm phần thiên hạ có một" lặng lẽ xuất hiện. "Trong vấn đề nhìn nhận sự phát triển của xí nghiệp hương trấn, Đặng Tiểu Bình từng có một đánh giá rất chân thành, ông gọi đó là 'sự trỗi dậy đột ngột nằm ngoài dự kiến'. Ngày 12 tháng 6 năm 1987, khi tiếp đoàn đại biểu Triều Tiên, ông chỉ ra rằng, sự phát triển của xí nghiệp hương trấn là thắng lợi lớn nhất mà trung ương hoàn toàn không dự đoán được trong cải cách nông thôn, đột ngột xuất hiện làm đủ loại ngành nghề, làm kinh tế hàng hóa, làm các loại xí nghiệp nhỏ, trỗi dậy như một đội quân lạ. Xí nghiệp hương trấn mỗi năm đều đạt tốc độ tăng trưởng 20%, kéo dài mấy năm liền. Điều này chứng minh chính sách làm sống động kinh tế do trung ương đề ra là đúng đắn, chính sách này đã đạt được hiệu quả vô cùng tốt."

Năm nay, tờ "Nhân dân Nhật báo" trong tháng 3 và tháng 4 liên tiếp đăng hai bài báo dài: "Sử Lai Hạ phong phú" và "Hương thổ kỳ hoa".

Sử Lai Hạ là kiểu cán bộ nông thôn như vị thánh, người luôn chịu khổ trước, hưởng lạc sau, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân mà Đảng Cộng sản luôn đề xướng. Năm 1985, Sử Lai Hạ cùng các thành viên khác trong chi bộ Đảng của thôn sau nhiều lần khảo sát, quyết định đưa vào một dự án công nghệ sinh học cao, xây dựng một nhà máy dược phẩm sản xuất Inosine lớn nhất cả nước — Dược phẩm Hoa Tinh. "Dự án cao, tinh, tiêm này, bọn 'chân bùn' chúng ta có làm nổi không?" Có người lo lắng "chưa bắt được cáo đã chuốc lấy mùi hôi". Câu trả lời của Sử Lai Hạ là: "Việc do người làm, đường do người đi, nghiệp do người tạo. Người ta làm được, tại sao chúng ta lại không làm được?"

Ngày 20 tháng 5 năm 1986, nhà máy dược phẩm Hoa Tinh do chính người Lưu Trang thiết kế và lắp đặt chính thức đi vào sản xuất. Kể từ đó, kinh tế Lưu Trang tăng trưởng thần tốc, nhanh chóng trở thành "Thôn giàu nhất Trung Nguyên".

Theo báo cáo, mấy chục năm qua, Lưu Trang không xảy ra vụ án hình sự nào, không xuất hiện đảng viên vi phạm kỷ luật. Từ kế hoạch hóa gia đình, cưới hỏi tang ma cho đến phụng dưỡng người già, chăm sóc trẻ nhỏ, cán bộ và quần chúng Lưu Trang tự giác tuân thủ phong cách đạo đức xã hội chủ nghĩa. Trong thôn có 14 dòng họ, hơn 300 hộ, hơn 1600 nhân khẩu, không có mâu thuẫn dòng tộc hay tranh chấp bè phái, không có mê tín dị đoan, cờ bạc, đánh nhau, hay các hiện tượng tiêu cực như tổ chức đám cưới đám tang rình rang lãng phí.

Mùa xuân năm 2004, Sử Lai Hạ qua đời trong bình lặng. Từ ngữ báo cáo tiêu chuẩn của truyền thông trong nước là: "Tấm gương của đảng viên cộng sản."

Sự tồn tại của Lưu Trang và Sử Lai Hạ chứng minh rằng ở một số vùng nông thôn Trung Quốc, nếu có một người lãnh đạo vô tư nhưng đầy uy quyền, ông ta đồng thời sở hữu hai năng lực: Thứ nhất là cực kỳ giỏi tận dụng những ưu thế và khái niệm để tạo ra một bầu không khí cầm quyền thoải mái và được hỗ trợ cho chính mình; thứ hai, ông ta có sự nhạy bén thị trường đáng kể, thường có thể dựng lên một hoặc thậm chí vài nhà máy kiếm được rất nhiều tiền.

Người đàn ông mạnh mẽ này dùng phong cách uy quyền dựa trên sức hút cá nhân để cai trị hoặc nói cách khác là quản lý cái thôn của mình.

Dưới sự cai trị của ông ta, tất cả dân làng đều có được sự cải thiện căn bản về đời sống (điều thú vị là những ngôi làng này trước đây thường là những ngôi làng ăn mày vô cùng nghèo khổ), nhưng về mặt nhân cách thì lại phụ thuộc hoàn toàn vào người đàn ông mạnh mẽ này.

Ngôi làng này, rất khó để nói nó là tổ chức gì, trên khái niệm hành chính, nó là đơn vị hành chính cơ sở nhất của quốc gia, còn trên khái niệm kinh tế, nó lại là một tổ chức lợi nhuận chặt chẽ. Có những ngôi làng thậm chí sở hữu cả một công ty niêm yết, những người đàn ông mạnh mẽ đó thường vừa là quan chức hành chính của thôn, đồng thời vừa là chủ tịch hội đồng quản trị của công ty. Mô hình "hai quyền hợp nhất" này dường như không vấp phải bất kỳ sự nghi ngờ nào của ai, và trông có vẻ như là cách duy nhất khả thi. Điều đáng suy ngẫm hơn nữa là, gia tộc của những người đàn ông mạnh mẽ này thường là dòng họ có quyền thế nhất trong thôn, con cái của họ khi người cha còn sống đã là nhân vật cốt cán trong quản lý thôn, và khi những người này già đi hoặc qua đời, họ thường truyền lại quyền lực cho chính con cái mình.

Trong 30 năm qua, những ngôi làng Trung Quốc nổi tiếng kiểu này có Lưu Trang và Nam Nhai ở Hà Nam, Đại Khâu Trang ở Thiên Tân, Hoa Tây ở Giang Tô, Hoành Điếm ở Chiết Giang. Là một mẫu vật nhân văn và hình thái xí nghiệp cộng đồng rất độc đáo, trong nhiều năm, chúng luôn tỏa ra một sức hút đầy bí ẩn và khó giải mã.

Lỗ Quán Cầu là một doanh nhân nông dân trông rất giống Sử Lai Hạ, nhưng bản chất lại hoàn toàn khác biệt — cách gọi này bắt đầu từ Lỗ Quán Cầu, sau đó trở thành một cách gọi chung trên truyền thông.

Ngay từ vài năm trước, Lỗ Quán Cầu giỏi kinh doanh đã là một giám đốc nhà máy có chút tiếng tăm ở địa phương Chiết Giang. Ông sớm đưa nhà máy của mình đi theo con đường chuyên môn hóa, tập trung vào sản xuất khớp vạn năng ô tô. Năm 1984, ông còn bỏ ra 8000 tệ để "mua" một sinh viên đại học từ Đại học Chiết Giang. Vào thời điểm đó, sinh viên đại học vào làm việc ở xí nghiệp hương trấn là một chuyện không thể tưởng tượng nổi. Bài báo "Hương thổ kỳ hoa" được đăng tải đã thực sự biến ông thành một nhân vật tin tức trên toàn quốc.

Lỗ Quán Cầu được coi là "điển hình của sự giàu có chung". Trong bài báo này, ngoài việc tán dương hết lời năng lực kinh doanh của Lỗ Quán Cầu, phóng viên còn thích thú ca ngợi rằng Lỗ Quán Cầu là một đảng viên cộng sản vô tư, là người dẫn đầu cùng nhau làm giàu. Phóng viên mượn lời Lỗ Quán Cầu nói: "Ngọn lửa này (ám chỉ việc thoát nghèo thông qua doanh nghiệp) phải cháy ra ngoài bức tường, để toàn thể nhân dân trong hương từng bước trở nên giàu có." Phóng viên còn liệt kê rất nhiều ví dụ, như việc Lỗ Quán Cầu đem toàn bộ 250.000 tệ thu nhập thầu khoán đáng lẽ được hưởng "quyên" cho doanh nghiệp — thực tế điều này sau đó đã trở thành quân bài quan trọng nhất cho cuộc cải cách quyền sở hữu của Tập đoàn Vạn Hướng. Khi đó, Lỗ Quán Cầu trả lời phỏng vấn phóng viên Tân Hoa Xã: "Nếu thu nhập của tôi và công nhân chênh lệch quá lớn, sẽ xuất hiện quan hệ căng thẳng, mà tôi hy vọng công nhân nỗ lực làm việc. Nếu họ thấy tôi nhận nhiều hơn họ quá nhiều, họ sẽ mất đi cảm giác mình là người làm chủ nhà máy, và điều đó không có lợi cho sự nghiệp." Ông còn tham gia xây dựng tòa nhà dạy học trung học, chợ nông sản và nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi của hương, ông nhận toàn bộ 108 quân nhân phục viên chưa được sắp xếp việc làm trong hương vào nhà máy. Cứ mười người trong hương thì có một người làm việc trong nhà máy của ông. Nhờ nhà máy khớp vạn năng phát đạt, hương sở tại còn xây được bốn con đường lớn chạy xuyên qua toàn hương, một nửa số hộ gia đình đã ở trong "lầu nhỏ kiểu Tây". Rõ ràng, sự mô tả như vậy vô cùng mê hoặc, thông tin truyền tải và cảnh tượng hiển hiện là: chính phủ khuyến khích những người có năng lực lập doanh nghiệp, đồng thời hy vọng ngoài việc tự làm giàu, họ còn nên gánh vác trách nhiệm và nghĩa vụ khiến những người xung quanh cùng trở nên giàu có. Theo một nghĩa nào đó, chính phủ thậm chí ngây thơ cho rằng, những trách nhiệm xã hội mà họ từng giao cho doanh nghiệp nhà nước trước đây, lần này có thể do xí nghiệp hương trấn gánh vác. Sau khi xí nghiệp hương trấn hưng khởi, họ đương nhiên phải gánh vác toàn bộ các chức năng xã hội của nông thôn liên quan, bao gồm việc làm, cơ sở vật chất xã hội, dịch vụ công cộng xã hội, v.v.

Ý tưởng được thể hiện trong bài báo này là tư tưởng chủ đạo của chính phủ và xã hội thời bấy giờ. Kể từ sau năm 1978, sự thành công của chế độ khoán sản lượng đến hộ gia đình ở nông thôn đã giải phóng hàng trăm triệu nông dân khỏi ruộng đồng, lối thoát cho lao động dư thừa trở thành một "nguồn tài nguyên nguy hiểm". Về điều này, quan điểm của các học giả trong và ngoài nước rất khác biệt. Giám đốc Viện Phát triển Quốc tế thuộc Đại học Harvard, Perkins, trong cuốn sách "Phát triển nông thôn Trung Quốc" đã gợi ý rằng: "Giải pháp thực tế duy nhất là cho phép nông dân, đặc biệt là nông dân ở những vùng nghèo khó nhất, tiến vào thành phố. Họ có thể không nhất thiết phải đến Thượng Hải hay Bắc Kinh, nhưng họ phải đến thành phố ở một nơi nào đó." Còn trong mắt các nhà nghiên cứu trong nước, việc một lượng lớn nông dân tiến vào thành phố rõ ràng sẽ gây ra hậu quả không thể kiểm soát, hơn nữa, ở thành phố, sự suy thoái và cải cách của doanh nghiệp nhà nước cũng đã "ép" ra một lượng lớn dân thất nghiệp. Do đó, làm thế nào để lao động dư thừa ở nông thôn "ly thổ bất ly hương" (rời ruộng đất nhưng không rời quê hương) trở thành một đề tài vô cùng cấp bách và thực tế. "Sau năm này, xuất hiện làn sóng nông dân tiến vào thành phố tìm việc làm đầu tiên, các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải chịu áp lực nặng nề, trật tự xã hội xuất hiện hỗn loạn. Theo đội trưởng trinh sát hình sự 'Mắt thần' Lý Học Cương của ga Bắc Kinh thuộc Cục Công an đường sắt Bắc Kinh, năm 1986, 1987 là 'năm bội thu' của ông, 'có lúc một ngày có thể bắt được sáu tên tội phạm, đều là người từ nông thôn đến'." Theo nghĩa này, sự hưng khởi ngoài ý muốn của xí nghiệp hương trấn không nghi ngờ gì đã giúp chính phủ tìm ra giải pháp tốt nhất.

Lỗ Quán Cầu được chọn làm "điển hình của sự giàu có chung" để đưa tin và ca ngợi nhiệt liệt, chính là xảy ra trong hoàn cảnh như vậy. Sự thật đúng là, trong rất nhiều năm sau đó, chính quyền địa phương đều kiên định giữ quan điểm này, đồng thời, hầu hết các nhà điều hành xí nghiệp hương trấn để có được sự hỗ trợ và nguồn lực từ chính phủ, đều thề thốt hứa hẹn họ sẽ gánh vác những trách nhiệm và chức năng này. Vì vậy, chính quyền địa phương đã chuyển giao một lượng lớn nguồn lực cho các xí nghiệp hương trấn đó với chi phí thấp, thậm chí là miễn phí.

Xu hướng này trở nên tăng tốc sau năm 1992, những xí nghiệp hương trấn giỏi tận dụng và chiếm hữu nguồn lực chính phủ nhanh chóng lớn mạnh, và hoàn thành việc minh bạch hóa quyền sở hữu bằng đủ loại phương thức kỳ lạ. Hơn mười năm sau, Lỗ Quán Cầu và Tập đoàn Vạn Hướng của ông đã trở thành một trong những công ty tư nhân lớn nhất Trung Quốc.

Đây là "quy tắc ngầm làm giàu" của những doanh nhân phất lên nhờ lập xí nghiệp hương trấn — họ tận dụng triệt để tâm lý nôn nóng và ngây thơ của chính quyền các cấp, lấy lý do và lời hứa tạo ra của cải công cộng và gánh vác chức năng xã hội để có được sự hỗ trợ chính sách chi phí thấp. So với doanh nghiệp nhà nước ở thành phố, họ có sự nới lỏng về thể chế, đồng thời chi phí đất đai và nhân công rẻ mạt giúp họ có năng lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn — nói một cách khách quan, những xí nghiệp hương trấn này thực sự đã làm sôi động kinh tế một phương, cung cấp lượng lớn cơ hội việc làm, dẫn dắt nông dân địa phương bước lên con đường công nghiệp hóa.

Trong lịch sử doanh nghiệp Trung Quốc 30 năm qua, đây trông có vẻ là một trạng thái rất mâu thuẫn: Về chính sách tài chính và công nghiệp, các công ty tư nhân phát triển mạnh mẽ bên ngoài thể chế luôn gặp phải khó khăn cực lớn. Chính phủ luôn cố gắng đưa mọi thành quả cải cách vào chiếc giỏ lớn mang tên vốn nhà nước, mà đồng thời lại "may mắn" hy vọng rằng những doanh nghiệp tư nhân đó — đặc biệt là xí nghiệp hương trấn khởi phát từ nông thôn — có thể gánh vác trách nhiệm công cộng về cải tạo nông thôn, cùng giàu có. Vì vậy, những chính quyền địa phương cởi mở đã hỗ trợ họ về nhiều mặt. Xét về kết quả, đây là một quá trình lợi ích đan xen, cái này mất đi thì cái kia lớn lên: Doanh nghiệp nhà nước mặc dù được đổ vào lượng lớn nguồn lực công cộng và chính sách, nhưng lại vì khiếm khuyết tự nhiên của thể chế mà càng suy thoái; xí nghiệp hương trấn một mặt chịu áp lực chính sách, mặt khác lại có được sự ủng hộ từ chính quyền địa phương, và khi những doanh nghiệp này đã đủ mạnh, chúng lại lần lượt chuyển đổi thành công ty tư nhân hóa, mục tiêu "cùng giàu có" và "xí nghiệp hương trấn gánh vác hệ thống dịch vụ xã hội nông thôn" mà chính phủ kỳ vọng ban đầu không thể tránh khỏi bị giảm giá trị nghiêm trọng.

Khi Sử Lai Hạ, Lỗ Quán Cầu nổi lên như một thế lực mới trên cánh đồng, điều này đồng thời báo hiệu rằng dòng chảy chính mới của sự tăng trưởng doanh nghiệp Trung Quốc đã phô diễn phong thái của nó. Tháng 2, nhà xã hội học nổi tiếng nhất Trung Quốc, Phí Hiếu Thông 76 tuổi, lặng lẽ đến Ôn Châu hẻo lánh. 50 năm trước, chàng sinh viên Đại học Yên Kinh vốn thể chất yếu ớt này đã về quê nhà Ngô Giang dưỡng bệnh, ông thực hiện hơn 20 cuộc điều tra điền dã, viết nên "Giang thôn kinh tế", cuốn sách nhỏ này sau đó trở thành đỉnh cao của nghiên cứu xã hội học Trung Quốc.

Ông hứng thú với Ôn Châu là vì nhìn thấy một bài báo. Tháng 5 năm trước, trang nhất tờ "Giải phóng Nhật báo" Thượng Hải đăng bài báo tiêu đề "Xí nghiệp hương trấn nhìn Tô Nam, công nghiệp gia đình nhìn Chiết Nam, 330.000 người Ôn Châu làm công nghiệp gia đình", bài bình luận đi kèm lần đầu tiên đưa ra một danh từ mới: "Mô hình Ôn Châu". Cũng từ đó, mô hình Tô Nam của kinh tế tập thể và mô hình Ôn Châu của kinh tế tư nhân trở thành hai mô hình tăng trưởng lớn của công ty tư nhân Trung Quốc. Vốn đã rất quen thuộc với quê nhà — nông thôn Tô Nam, Phí Hiếu Thông nảy sinh hứng thú nồng nhiệt với "Mô hình Ôn Châu" trong truyền thuyết.

"Ô tô đi vào khu vực phía nam Kim Hoa, chỉ thấy hai bên đường quốc lộ thỉnh thoảng xuất hiện những tấm biển gỗ, trên viết 'Vận tải Ôn Châu', 'Hoạt động Sơn Đông' v.v., đây là chuyện mới lạ mà tôi chưa từng thấy ở Giang Tô." Phí Hiếu Thông viết lại ấn tượng đầu tiên của mình về Ôn Châu trong bài báo sau đó. Con đường quốc lộ đó là con đường bận rộn nhất cũng nguy hiểm nhất trong nước lúc bấy giờ, tai nạn lật xe chết người xảy ra hàng ngày. So với Tô Nam lấy doanh nghiệp tập thể làm chủ đạo, chính quyền cơ sở của Ôn Châu nghèo nàn hơn nhiều, không có phòng tiếp khách cao cấp, cũng không có thiết bị sưởi. Đoàn của Phí Hiếu Thông đứng nghe giới thiệu trong phòng tiếp khách của chính quyền hương trấn, kính cửa sổ xung quanh vỡ vụn, gió lạnh thổi vào từng đợt, dù ông mặc áo khoác dạ nhưng nước mũi vẫn không tự chủ được chảy ra, hai chân cũng lạnh buốt khó chịu, ngồi không yên. Tuy nhiên, cảnh tượng nhìn thấy ở Ôn Châu vẫn khiến ông lão trí tuệ này rất phấn khích. Lúc bấy giờ trong nước, tiếng chỉ trích và thảo phạt Ôn Châu không dứt bên tai, dư âm của "Sự kiện tám đại vương" vẫn còn đang vang vọng. Còn Phí Hiếu Thông cởi mở thì cho rằng: "Dùng cách cắt bỏ là không hiệu quả, cắt rồi nó vẫn sẽ mọc ra." Báo cáo điều tra dài kỳ "Ôn Châu hành" do ông chấp bút được đăng trên tạp chí "Liễu vọng" vào tháng 10, tạo ra ảnh hưởng rất lớn. Ông lão này sau đó còn ba lần đến Ôn Châu, mỗi lần đều viết bài dài.

Phóng viên Mạnh Hiểu Vân của "Nhân dân Nhật báo" cũng đến Ôn Châu vào lúc này, cô viết bài báo "Thị trường thiên". Ngay phần mở đầu bài báo, cô đã dùng một cảnh tượng đầy ngụ ý: "Chập tối, sau 6 giờ, cửa hàng nhà nước đóng cửa, các hộ kinh doanh cá thể liền hoạt động sôi nổi."

Điều khiến xí nghiệp hương trấn kinh ngạc nhất là, chúng đã từ trạng thái gần như trống rỗng mà phát triển đột ngột như thế nào.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba