"Con đường mà Trung Quốc có khả năng lựa chọn, các kênh mà những sự kiện khác nhau bắt buộc phải chảy qua, hẹp hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể dễ dàng hình dung."
—— John King Fairbank: "Hoa Kỳ và Trung Quốc"
Không ai ngờ rằng, cục diện cải cách lại chuyển biến xấu đi nhanh chóng ngay từ đầu năm.
Charles Abrams là thương nhân Mỹ đầu tiên cảm nhận được luồng không khí lạnh lẽo này. Ngay trong tạp chí "Fortune" năm trước, ông còn được mô tả là "đại diện thành công cho giấc mơ Mỹ mới khi đi tìm vàng ở Trung Quốc". Nhà kinh doanh bất động sản 57 tuổi đến từ New York này đã thắng được một công ty thương mại tại Trung Quốc. Sau hơn bốn mươi lần ghé thăm đất nước này, ông đi đến kết luận rằng Trung Quốc giống như một tập đoàn khổng lồ. Ông nhận được sự tiếp đón nồng hậu từ nhiều quan chức Trung Quốc, từ họ, ông có được sách trắng của một số doanh nghiệp nhà nước, thậm chí bao gồm cả những hợp đồng đơn hàng sơ bộ trị giá hàng chục triệu đô la. Nhờ những hợp đồng này, ông còn huy động thành công 25 triệu đô la vốn từ thị trường chứng khoán New York.
Thế nhưng, trên tạp chí "Fortune" năm sau, Abrams lại trở thành kẻ xui xẻo trong một tin tức tồi tệ khác. Báo cáo viết: "Bắc Kinh gần đây đã tạm dừng quy mô lớn nhiều hợp đồng của các ngành công nghiệp chủ chốt, hành vi này đã gây tổn thương cho nhiều công ty Trung Quốc, đồng thời khiến nhiều công ty Mỹ đang cố gắng kiếm tiền và bắt đầu hành động tại đây phải chịu tổn thất." Và Abrams chính là người chịu ảnh hưởng trực tiếp, rất nhiều hợp đồng đơn hàng ông nắm giữ chỉ sau một đêm đã biến thành giấy vụn.
Thủ Cương, doanh nghiệp trở thành đơn vị thí điểm cải cách đầu tiên của Trung Quốc ba năm trước, là một trong những doanh nghiệp nhà nước chịu tác động sớm nhất. Trong hơn hai năm qua, lợi nhuận ròng của Thủ Cương tăng trung bình 45,32% mỗi năm, lợi nhuận nộp và thuế tăng trung bình 27,91% mỗi năm, doanh nghiệp cho thấy dấu hiệu hưng thịnh. Tuy nhiên, rắc rối nhanh chóng xuất hiện. Tháng 4, tám đơn vị bao gồm Ủy ban Kinh tế Nhà nước, Bộ Tài chính, Tổng cục Vật tư, Bộ Luyện kim... đã cùng ban hành thông báo, thực hiện hạn chế sản xuất nghiêm ngặt đối với ngành thép trên toàn quốc. Nhiệm vụ cắt giảm sản lượng của Thủ Cương là 360.000 tấn, chiếm 9% tổng sản lượng thép năm trước đó. Giám đốc Chu Quán Ngũ buộc phải ra lệnh dừng hoạt động lò cao số 2 vừa mới đưa vào sản xuất không lâu.
Chuyện gây ức chế còn chưa dừng lại ở đó. Ngay khi nhiệm vụ hạn chế sản xuất được đưa xuống, Phó Thị trưởng Bắc Kinh Trương Bằng lại vội vã đến Thủ Cương. Ông mang theo chỉ thị từ thành phố: Do ngân sách chính phủ căng thẳng, với tư cách là "ngọn cờ đầu" của các doanh nghiệp công nghiệp Bắc Kinh, lợi nhuận nộp lên của Thủ Cương năm nay phải đảm bảo đạt 270 triệu nhân dân tệ, tăng 9,3% so với năm trước. Chu Quán Ngũ cầm giấy bút tính cho thị trưởng nghe: "Dốc hết toàn bộ gia sản của Thủ Cương ra, tính toán kỹ lưỡng nhất cũng chỉ được 265 triệu nhân dân tệ lợi nhuận. Nếu nộp hết lên, doanh nghiệp chẳng còn lại một xu, phúc lợi của công nhân viên lại càng bay lên tận trời xanh." Thế nhưng, Trương Bằng cũng nói rất thẳng thắn: "Năm nay thành phố không sống nổi, chính là muốn tạo thêm áp lực cho các anh."
Cuộc sống đột nhiên không thể tiếp diễn, đây là điều mà nhiều người không ngờ tới.
Sau gần ba năm cải cách, Trung Quốc đã hoàn thành một cuộc "tẩy lễ" về chính trị, cải cách trở thành dòng chảy chính trên sân khấu. Việc công khai xét xử "Bè lũ bốn tên" càng khiến toàn dân căm ghét tư tưởng tả khuynh. "Tháng 11 năm 1980, Tòa án đặc biệt của Tòa án Nhân dân Tối cao đã đưa ra phán quyết chung thẩm đối với 10 tội phạm chính của tập đoàn "Bè lũ bốn tên", phiên tòa này đã được truyền hình trực tiếp đến cả nước." Ở nông thôn, chế độ trách nhiệm khoán sản phẩm đến hộ gia đình bắt nguồn từ Phượng Dương, An Huy bắt đầu được phổ biến trên diện rộng, sự nhiệt tình sản xuất của nông dân được huy động mạnh mẽ; ở thành phố, diện thí điểm cải cách doanh nghiệp nhà nước ngày càng mở rộng, trong lĩnh vực bán lẻ đã xuất hiện nền kinh tế cá thể lẻ tẻ. Theo lời của nhiều nhà quan sát lúc bấy giờ, đó là "tình hình kinh tế rất tốt hiếm thấy kể từ khi lập quốc". Song hành với đó, tài chính trung ương lại xuất hiện khó khăn nghiêm trọng. Dấu hiệu rõ rệt nhất là việc liên tiếp xuất hiện thâm hụt tài chính khổng lồ trong hai năm 1979 và 1980. Theo dữ liệu được "Niên giám Kinh tế Trung Quốc (1981)" tiết lộ, thâm hụt năm 1979 là hơn 17 tỷ nhân dân tệ, năm 1980 là hơn 12 tỷ nhân dân tệ. Đến năm 1980, giá cả không thể giữ vững, giá hàng hóa tăng 6%, trong đó thành phố tăng 8,1%, nông thôn tăng 4,4%.
Xét nguyên nhân, khủng hoảng tài chính phần lớn là do quá trình thay đổi mang lại. Để cải thiện mức sống của công nhân và nông dân, trong ba năm qua, trung ương đã ban hành một loạt chính sách, bao gồm tăng lương cho công nhân viên, phát tiền thưởng, sắp xếp việc làm, bồi thường chính sách, tăng giá nông sản, cũng như mở rộng tài chính cho doanh nghiệp và địa phương, khiến tài chính tăng vọt. Đồng thời, sự phục hồi kinh tế tất yếu kéo theo sự hồi sinh của xây dựng cơ bản, quy mô cơ sở hạ tầng các nơi không ngừng mở rộng, dần dần đến mức ngân sách không thể kiểm soát. Trong khi đó, cải cách phân quyền nhượng lợi cho doanh nghiệp nhà nước một mặt làm giảm một phần lớn thu nhập của tài chính trung ương, mặt khác, hiệu quả tổng thể của cuộc cải cách này thực sự không thể khiến người ta hài lòng.
Cuối năm 1980, Hồ Diệu Bang đôn đốc Văn phòng Trung ương tổ chức một đoàn điều tra tiến hành khảo sát việc mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp tại Tứ Xuyên, An Huy, Chiết Giang. Báo cáo điều tra đưa ra có tiêu đề "Khởi đầu của cải cách thể chế kinh tế - Báo cáo điều tra thí điểm mở rộng quyền tự chủ doanh nghiệp tại Tứ Xuyên, An Huy, Chiết Giang" cho biết: tình hình cải cách thí điểm không mấy lạc quan. Một mặt, việc phân quyền vẫn còn hạn chế, quyền lực của doanh nghiệp trong việc giữ lại lợi nhuận, cung ứng nguyên vật liệu, thể chế quản lý lao động, chế độ tiền lương, sản xuất ngoài kế hoạch... vẫn còn rất nhỏ, tác dụng làm sống động doanh nghiệp có hạn. Mặt khác, thể chế giá cả quản lý tập trung và tỷ giá bất hợp lý khiến mức lợi nhuận giữa các ngành công nghiệp chênh lệch rất lớn. Điển hình nhất là tỷ suất lợi nhuận trên chi phí của ngành dầu khí cao hơn ngành than 100 lần, gây ra sự bất công, cạnh tranh không lành mạnh và so bì lẫn nhau. Đoàn điều tra còn phát hiện, trong thể chế không có ràng buộc ngân sách cứng, các doanh nghiệp thí điểm xuất hiện các hành vi như "chiếm dụng thuế lợi, phân bổ chi phí bừa bãi, lạm phát tiền thưởng và trợ cấp", hiệu ứng cải cách phân quyền nhượng lợi bị suy giảm. Quản lý tài chính phân cấp làm lợi ích địa phương được tăng cường, "một số ít khu vực đã bắt đầu xuất hiện mầm mống 'cát cứ', không chỉ tranh giành lợi ích trên dưới, mà còn cản trở sự liên kết ngang của kinh tế." Hiện tượng hỗn loạn như tranh giành nguyên liệu giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, xây dựng trùng lặp, sản xuất mù quáng, lấy nhỏ chèn ép lớn, lấy lạc hậu chèn ép tiên tiến cũng phát triển. Trong giao lưu kinh tế đối ngoại cũng xuất hiện hiện tượng nhiều đầu mối đối ngoại, tự cạnh tranh lẫn nhau, "nước béo chảy vào ruộng người khác". Nhắm vào thực trạng này, Đặng Tiểu Bình đã kịp thời đưa ra cảnh báo. "Việc kinh doanh quảng canh cùng khoảng cách về kỹ thuật khiến hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước rất thấp kém. Năm 1980, Trung Quốc sản xuất 1 triệu đô la giá trị sản xuất cần tiêu tốn gần 2140 tấn than tiêu chuẩn, trong khi Ấn Độ, quốc gia điển hình của cái gọi là 'chiến lược siêu việt', sản xuất cùng một lượng giá trị sản xuất chỉ tiêu tốn 40% năng lượng của Trung Quốc, Brazil là 25%, còn các nước đang phát triển khác như Ai Cập và Hàn Quốc, việc sản xuất 1 triệu đô la giá trị sản xuất cũng chỉ tiêu tốn một nửa năng lượng của Trung Quốc, Nam Tư là 35%. Mô hình phát triển tiêu tốn năng lượng này là đặc điểm rất rõ rệt trong sự phát triển của doanh nghiệp Trung Quốc."
Trong tình hình như vậy, đợt điều tiết vĩ mô đầu tiên của công cuộc cải cách mở cửa Trung Quốc đã bắt đầu vào năm thứ ba sau năm 1978.
Tư duy của Đặng Tiểu Bình rất rõ ràng: Một là bảo vệ tài chính trung ương, áp dụng các biện pháp phanh khẩn cấp, nén toàn diện đầu tư ngoài kế hoạch, vay tiền gửi tài chính địa phương, phát hành trái phiếu kho bạc cho doanh nghiệp và chính quyền địa phương, tạm thời đóng băng nguồn vốn tự do của doanh nghiệp gửi trong ngân hàng, nén cho vay ngân hàng. Đầu tư xây dựng cơ bản năm 1981 giảm 12,6 tỷ nhân dân tệ so với năm trước, tỷ lệ tích lũy quay về 28,3%, khiến thâm hụt toàn quốc được kiểm soát trong phạm vi 3,5 tỷ nhân dân tệ. Kết quả trực tiếp của các biện pháp này là nhiệt độ đầu tư tại các nơi giảm mạnh, các dự án đàm phán với nước ngoài lần lượt bị đình trệ, từ đó xuất hiện những cảnh tượng mà tạp chí "Fortune" mô tả ở đầu chương này. Thứ hai là dốc sức bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước.
Làm thế nào để bảo vệ doanh nghiệp nhà nước đã xảy ra tranh cãi. Về vấn đề hiệu ứng thí điểm doanh nghiệp nhà nước suy giảm, giới kinh tế lúc bấy giờ xuất hiện hai luồng ý kiến đối phó. Phái thúc đẩy đại diện bởi nhà kinh tế Tiết Mộ Kiều, người tham gia quy hoạch tổng thể cải cách lúc bấy giờ, cho rằng cải cách phân quyền nhượng lợi có tính hạn chế, chủ trương đặt trọng tâm cải cách vào "cải cách thể chế quản lý giá cả" và "cải cách kênh lưu thông", dần dần xóa bỏ chế độ định giá hành chính, thiết lập thị trường hàng hóa và thị trường tài chính. Trong hồi ký xuất bản 16 năm sau, ông nói rằng nếu lúc đó thúc đẩy theo tư duy của ông, cải cách kinh tế Trung Quốc sẽ bớt đi nhiều đường vòng. Còn một ý kiến khác cho rằng, cải cách doanh nghiệp nhà nước "phải tăng cường tập trung thống nhất", "điểm dừng chân cuối cùng là sự tập trung thống nhất của trung ương". Do đó, có người đã đưa ra lý thuyết "Cái lồng và con chim", đại ý là: Doanh nghiệp là một con chim, không thể cứ trói cánh nó mãi, phải để nó bay tự do, nhưng hệ thống kinh tế nhà nước lại là một cái lồng lớn, chim dù bay thế nào cũng không nên bay ra khỏi cái lồng này. Những luận điểm này cuối cùng đã thuyết phục được tầng lớp ra quyết định trung ương, "Cái lồng và con chim" đã thống trị tư duy cải cách doanh nghiệp suốt thập niên 80 sau đó, cuộc cải cách chuyển đổi chế độ doanh nghiệp nhà nước trở thành một cuộc "cải cách trong cái lồng".
Từ lý thuyết này mà nhìn nhận cục diện năm 1980, kết luận rất dễ dàng rút ra: Cải cách doanh nghiệp nhà nước phải tiến hành tuần tự từng bước trong sự ổn định và kiểm soát của trung ương, cải cách thế nào có thể "dò đá qua sông", đi một bước nhìn một bước. Và nhiệm vụ cấp bách hiện nay là chỉnh đốn những "con chim ngoài lồng" không nghe chỉ huy, không thể kiểm soát, chính chúng đã làm đảo lộn toàn bộ cục diện kinh tế. "Dò đá qua sông" là một trong những cách diễn đạt sinh động nhất về cải cách doanh nghiệp Trung Quốc, nó xuất hiện sớm nhất trong "Ý kiến về một số vấn đề thực hiện chế độ trách nhiệm kinh tế sản xuất công nghiệp" do Quốc vụ viện phê chuẩn chuyển tiếp vào tháng 10 năm 1981, "Ý kiến" nói rằng "thực hiện chế độ trách nhiệm kinh tế, hiện vẫn đang trong giai đoạn thăm dò, phải dò đá qua sông".
Sự phán đoán này của trung ương rất dễ nhận được sự hưởng ứng từ các doanh nghiệp nhà nước. Rất nhanh chóng, trên các phương tiện truyền thông và báo cáo nội bộ tại các nơi xuất hiện vô số tiếng nói, đều là cáo buộc những nhà máy nhỏ ngoài kế hoạch đã tranh giành nguyên vật liệu với các doanh nghiệp nhà nước quy chuẩn như thế nào, làm loạn trật tự thị trường ra sao, khiến doanh nghiệp nhà nước chịu tổn thất to lớn thế nào. Tóm lại, doanh nghiệp thí điểm làm không tốt, đều là lỗi của những con chim hoang ngoài lồng.
Sự phán đoán về tình hình và quyết sách định hướng nảy sinh từ đó đã trực tiếp gây ra cú bẻ lái lớn trong chính sách cải cách.
Trên thực tế, trước đầu năm 1981, phương hướng chính sách vẫn đang thúc đẩy theo lộ trình khuyến khích kinh tế cá thể.
Tại Hội nghị công tác việc làm toàn quốc tổ chức tháng 6 năm 1980, trung ương vẫn đề xuất "khuyến khích và hỗ trợ kinh tế cá thể phát triển thích hợp, các hình thức kinh tế khác nhau có thể cạnh tranh trên cùng một sân khấu, tất cả những người lao động cá thể tuân thủ pháp luật đều nên được xã hội tôn trọng". Tại hội nghị tọa đàm bí thư thứ nhất các tỉnh, thành phố, khu tự trị tháng 9, còn đề xuất cho phép "những người làm nghề thủ công nông thôn, tiểu thương muốn kinh doanh cá thể, sau khi ký hợp đồng với đội sản xuất, được cầm giấy phép ra ngoài lao động và kinh doanh". Tháng 10, Quốc vụ viện ban hành "Quy định tạm thời về việc triển khai và bảo vệ cạnh tranh xã hội chủ nghĩa", đề xuất "cho phép và đề xướng các hình thức kinh tế khác nhau, các doanh nghiệp khác nhau phát huy sở trường, triển khai cạnh tranh". Nhưng đến năm 1981, khẩu khí đã xuất hiện sự thay đổi lớn.
Tháng 1 năm 1981, Quốc vụ viện hai lần phát văn bản khẩn "đả kích đầu cơ trục lợi". Trước tiên là văn bản ngày 7 với tiêu đề "Chỉ thị về tăng cường quản lý thị trường, đả kích hoạt động đầu cơ trục lợi và buôn lậu", quy định "cá nhân (bao gồm cả hợp tác tư nhân) chưa được cơ quan quản lý công thương phê chuẩn, không được phép buôn bán hàng công nghiệp", "tập thể xã đội nông thôn có thể vận chuyển nông sản phụ loại hai, loại ba dư thừa sau khi hoàn thành nhiệm vụ thu mua của nhà nước và thực hiện hợp đồng thu mua đã thỏa thuận của xã đội mình và xã đội lân cận, loại mà nhà nước không thu mua. Không được phép buôn bán sản phẩm loại một", "không cho phép cá nhân mua xe hơi, máy kéo, tàu vận tải cơ giới và các công cụ vận tải lớn khác để kinh doanh buôn bán". Tiếp đó, ngày 30, Quốc vụ viện lại ban hành văn bản "Quy định về việc điều chỉnh gánh nặng thuế công thương đối với doanh nghiệp xã, đội nông thôn", chỉ rõ "để hạn chế tranh giành nguyên liệu với các doanh nghiệp tiên tiến quy mô lớn vừa và nhỏ, quy định miễn thuế công thương và thuế thu nhập công thương trong hai đến ba năm đầu mở doanh nghiệp xã, đội được thay đổi thành đối xử khác biệt tùy theo tình hình... Phàm là doanh nghiệp xã, đội tranh giành nguyên liệu với các doanh nghiệp tiên tiến lớn, lợi nhuận tương đối cao, bất kể là doanh nghiệp mới mở hay doanh nghiệp cũ, đều nhất loạt thu thuế thu nhập công thương theo quy định." Hai văn bản này khẩu khí nghiêm khắc, biện pháp tỉ mỉ, và đều được yêu cầu đăng tải đưa tin trên trang nhất của các phương tiện truyền thông lớn. Trong một thời gian, "đả kích đầu cơ trục lợi" trở thành hoạt động kinh tế quan trọng nhất trong năm đó.