Nỗi lo nằm ở chỗ, tốc độ tăng trưởng quá nóng của đầu tư đang kích hoạt một loạt hệ lụy liên quan. Tờ "The Economist" của Anh trong bài viết cuối năm 1992 đã cảnh báo rằng: "Vào một thời điểm nào đó trong năm 1993, nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển mạnh mẽ sẽ xuất hiện dấu hiệu quá nhiệt nguy hiểm. Lần gần nhất vào năm 1988, Trung Quốc suýt chút nữa đã bị thiêu rụi." Trong nửa đầu năm, chỉ số giá tư liệu sản xuất toàn quốc tăng 44,7%, khiến Ngô Nhân Bảo ở làng Hoa Tây kiếm được một khoản "tài lộc tuần du" khổng lồ. Đồng thời, trong bối cảnh cung cầu mất cân đối, trật tự tài chính trở nên hỗn loạn, các ngân hàng ngầm hoạt động cực kỳ sôi động. Lãi suất cho vay dân sự ngày càng cao khiến lãi suất chính thức chỉ còn là hình thức. Những kẻ có mánh khóe nếu vay được tiền từ ngân hàng với lãi suất 9%, có thể xoay tay bán lại với lãi suất 20% thậm chí 30%. Đối mặt với tình thế này, vào tháng 6, Chu Dung Cơ đích thân kiêm nhiệm chức Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc. Ngân hàng Trung ương ban hành văn bản nghiêm lệnh: "Các đơn vị doanh nghiệp phải gửi tiền vào ngân hàng, phải đi đường chính ngạch, không được phép thực hiện vòng tuần hoàn ngoại vi." Cũng chính trong bối cảnh đó, Chính phủ Trung ương quyết tâm xử lý nghiêm "Sự kiện Trường Thành" của Thẩm Thái Phúc. Trong mắt các nhà lãnh đạo, nếu dung túng cho sự tồn tại của hình thức huy động vốn kiểu họ Thẩm, thì việc kiểm soát tài chính hoàn toàn là chuyện viển vông.
Phong cách quản lý kinh tế mạnh mẽ của Chu Dung Cơ được thể hiện rõ nét qua việc duy trì trật tự tài chính và xử lý hai vụ án của Vũ Tác Mẫn và Thẩm Thái Phúc. Chu Dung Cơ bắt đầu quản lý kinh tế Trung Quốc theo một phương thức chuyên nghiệp, cụ thể và chi tiết hơn.
Chu Dung Cơ được điều từ chức Bí thư Thành ủy Thượng Hải về Bắc Kinh vào năm 1991, nhậm chức Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế. Trước đó, ông từng có thời gian dài công tác tại Ủy ban Kinh tế Nhà nước. Trong thời gian cầm quyền tại Thượng Hải, ông nổi tiếng là người gần gũi với dân nhưng lại rất nghiêm khắc với cán bộ. Một số giám đốc sở, cục ở Thượng Hải khi báo cáo công việc trực tiếp với ông, bắp chân đều run rẩy. Khi ông lên phía Bắc, một số phương tiện truyền thông quốc tế không mấy lạc quan về "tương lai" của ông, cho rằng phong cách quản lý đó chắc chắn sẽ không phù hợp tại Trung Nam Hải. Có người thậm chí dự đoán ông chỉ có thể trụ lại Trung Nam Hải tối đa sáu tháng. Điều bất ngờ đối với những người này là Chu Dung Cơ sẽ dẫn dắt nền kinh tế Trung Quốc trong mười năm tiếp theo và trở thành một trong những chính trị gia có ảnh hưởng lớn nhất đến cải cách kinh tế Trung Quốc sau Đặng Tiểu Bình.
Cuộc "chiến tranh đầu tiên" của Chu Dung Cơ sau khi đến Bắc Kinh là thanh lý "nợ tam giác". Lúc bấy giờ, số nợ đọng lẫn nhau giữa các doanh nghiệp đã tích lũy lên tới hơn 300 tỷ nhân dân tệ, trong đó 80% là nợ của hơn 800 doanh nghiệp nhà nước lớn trên cả nước. Suốt mấy năm trời, năm nào cũng thanh lý, nhưng nợ lại càng thanh lý càng nhiều. Chu Dung Cơ đối mặt với một hiện tượng nợ dây chuyền tích tụ lâu ngày, gần như là một mớ bòng bong không có lời giải.
Sau khi nhậm chức tại Bắc Kinh, ghế còn chưa kịp nóng, Chu Dung Cơ đã tức tốc đến ba tỉnh Đông Bắc - nơi vấn đề "nợ tam giác" phức tạp nhất - để trực tiếp chỉ đạo thanh lý tại chỗ. Ông đưa ra một loạt các biện pháp mạnh tay như rót vốn, ép hàng hóa liên kết, điều chỉnh cơ cấu, kiểm soát nguồn gốc, thanh lý liên hoàn. Chỉ trong 26 ngày, ông đã thanh lý được 12,5 tỷ nhân dân tệ nợ đọng, vấn đề ở vùng Đông Bắc cơ bản được giải quyết.
Mang theo những lời khen ngợi, Chu Dung Cơ trở về Bắc Kinh. Ngày hôm sau, ông triệu tập hội nghị điện thoại toàn quốc về việc thanh lý "nợ tam giác". Ông dùng điện thoại đường dài, fax, điện báo gửi đến chính quyền các địa phương một "quân lệnh" với giọng điệu cứng rắn: "Các địa phương bắt buộc phải báo cáo tình hình nợ đọng đầu tư tài sản cố định (các khoản vay ngân hàng, vốn tự có và số lượng dự án thanh lý) về Văn phòng Thanh lý của Quốc vụ viện trước 21 giờ ngày 20 tháng 9 năm 1993. Nếu không làm được, yêu cầu Tỉnh trưởng, Chủ tịch chính quyền Khu tự trị, Thị trưởng trực tiếp báo cáo với Phó Thủ tướng Chu Dung Cơ để giải trình nguyên nhân." Chu Dung Cơ còn hạ lệnh cho Tân Hoa Xã, "Nhân dân Nhật báo", Đài Truyền hình Trung ương, Đài Phát thanh Nhân dân Trung ương yêu cầu truyền thông giám sát và công khai chi tiết tiến độ thanh lý của các địa phương. Trong hơn nửa năm sau đó, Chu Dung Cơ áp đặt thời hạn thanh lý, lệnh xuất là thi hành, khiến các quan chức địa phương không có đường thoái thác. Đến tháng 5 năm 1992, cả nước đã thanh lý tổng cộng 4.283 dự án tài sản cố định, đạt hiệu quả dùng 1 đồng vốn rót vào để thanh lý được 3,5 đồng nợ. "Xiềng xích nợ tam giác" vốn gây nhức nhối cho chính quyền trung ương, địa phương và doanh nghiệp suốt nhiều năm cuối cùng đã được tháo gỡ. Sau trận chiến này, Chu Dung Cơ đã xác lập uy quyền quản lý của mình bằng phong cách thực tế và cứng rắn chưa từng có.
Sau thắng lợi trong trận đầu thanh lý "nợ tam giác", Chu Dung Cơ mở "trận chiến thứ hai" trong lĩnh vực tài chính. Ông tiếp tục thể hiện phong cách thép trong việc điều tiết chính sách tài chính.
Thứ nhất, ông đích thân kiêm nhiệm chức Thống đốc Ngân hàng Trung ương, quyết tâm làm sạch các hoạt động ngoài hệ thống trong lĩnh vực tài chính, trừng trị không khoan nhượng đối với bất kỳ hành vi nào có nguy cơ gây rối loạn trật tự tài chính hiện hành. Trong bối cảnh đó, vụ huy động vốn của Thẩm Thái Phúc bị coi là hành vi đi ngược lại chỉ đạo và phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc nhất.
Thứ hai, ông chịu áp lực lớn để đề xuất chế độ phân thuế, sắp xếp lại quan hệ tài chính giữa chính quyền trung ương và địa phương. Nhiều năm qua, sự phát triển của kinh tế địa phương và doanh nghiệp nhà nước đều dựa vào sự đầu tư của tài chính trung ương. Theo lời nhà kinh tế học Mã Hồng, đó là cảnh "một người cha nuôi hàng trăm đứa con", dẫn đến tình trạng "thả ra thì loạn, thu lại thì chết". Đến đầu thập niên 90, tài chính trung ương đã vô cùng eo hẹp, buộc phải dựa vào việc phát hành tiền tệ ồ ạt để giải quyết khó khăn, dẫn đến nguy cơ lạm phát khiến người ta phải rùng mình. Năm 1992, thu ngân sách toàn quốc là 350 tỷ tệ, trong đó thu trung ương 100 tỷ tệ, thu địa phương 250 tỷ tệ, chi ngân sách trung ương 200 tỷ tệ, thâm hụt 100 tỷ tệ. Lưu Trọng Lê, người nhậm chức Bộ trưởng Tài chính thời bấy giờ, hồi tưởng rằng ông đã ba lần tìm Phó Thủ tướng Chu Dung Cơ, hy vọng ông phê duyệt cho vay tiền từ ngân hàng nhưng Chu Dung Cơ không cho phép. Lúc đó, ngay cả một số cơ quan trung ương đã rơi vào cảnh không vay được tiền thì không thể phát nổi lương. Những khiếm khuyết của thể chế tài chính có thể thấy rõ qua ví dụ của Thượng Hải và Bắc Kinh. Thượng Hải thực hiện mô hình nộp lên định mức cộng thêm chia tỷ lệ tăng trưởng: ấn định thu ngân sách hàng năm là 16,5 tỷ tệ, 10 tỷ thuộc về trung ương, 6,5 tỷ thuộc về địa phương, mỗi khi tăng thêm 100 triệu tệ thì trung ương và địa phương chia đôi. Kết quả là Thượng Hải thực hiện khoán tài chính 5 năm, năm nào thu ngân sách cũng chỉ nằm trong khoảng 16,3 tỷ đến 16,5 tỷ tệ, không hề tăng trưởng. Với Bắc Kinh, mô hình được áp dụng là khoán tăng trưởng thu nhập, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm thỏa thuận là 4%. Trong 5 năm, mức tăng trưởng ngân sách hàng năm của Bắc Kinh chưa bao giờ vượt quá 4%. Chính phủ Trung ương tỏ ra rất thụ động trong thể chế phân phối tài chính này. Trước thực trạng đó, Chu Dung Cơ chấp nhận đề nghị của nhà kinh tế học Đổng Phụ và những người khác, quyết định "chia bếp ăn", thương thảo với từng tỉnh về các loại thuế và tỷ lệ, thực hiện chế độ phân thuế. Ngày 23 tháng 7 năm 1993, tại Hội nghị Tài chính toàn quốc, Chu Dung Cơ lần đầu tiên chính thức đề xuất ý tưởng về chế độ phân thuế. Hơn một tháng sau, phương án đầu tiên của cải cách phân thuế ra đời. Để thuyết phục các tỉnh, trong hơn hai tháng tiếp theo, Chu Dung Cơ đã bôn ba khắp cả nước để thuyết phục từng nơi, quá trình này có nhiều sự giằng co và thỏa hiệp, nhưng nguyên tắc lớn là thực hiện cải cách chế độ phân thuế thống nhất toàn quốc thì không bao giờ lung lay. ① Lưu Trọng Lê trong hồi ký viết rằng, để thuyết phục các tỉnh, Chu Dung Cơ cuối cùng đã miễn cưỡng đồng ý rằng sau năm 1994, phần hoàn trả tài chính của trung ương sẽ lấy thu ngân sách địa phương năm 1993 làm cơ sở. Khi thỏa thuận này đạt được, số liệu tài chính của 4 tháng cuối năm 1993 vẫn chưa được thống kê, điều này tạo ra không gian cho các chính quyền địa phương cố ý tăng thu ngân sách trong 4 tháng cuối năm để nhận được nhiều khoản hoàn trả hơn từ trung ương sau năm 1994. Sự thật đúng là như vậy, cuối cùng số thu ngân sách mà các địa phương báo cáo lên trung ương đã tăng vọt gần 50% so với năm 1992. Để nâng cao con số cơ sở, các địa phương có nhiều chiêu trò. Ví dụ, một doanh nghiệp vốn đã khoán, các khoản thuế nợ đã được miễn giảm, nay yêu cầu họ nộp thuế để nâng con số cơ sở lên, sau khi nộp xong lại âm thầm hoàn trả. Hay như việc lấy nợ chết, nợ đọng làm cơ sở. Cái gọi là nợ chết là những doanh nghiệp đã phá sản, chưa bao giờ nộp thuế, nay thông qua chuyển khoản hoặc vay ngân hàng để nộp thuế, qua đó nâng cao con số cơ sở. Ngoài ra còn có kiểu "ăn trước lương tháng sau", thu thuế vượt mức, thu trước thuế của năm sau vào năm nay để đẩy con số cơ sở lên rất cao.