Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 362 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1980 Năm tháng chia tay sự lãng mạn (2)

❊ ❊ ❊

Đối với một quốc gia hay một cá nhân, nỗi khổ tâm lớn nhất chính là khi nỗi niềm ấy bị đè nén trong lòng mà không thể giải tỏa. Vào năm 1980, cùng với sự nới lỏng của cơ chế và sự xuất hiện của hàng loạt sự vật mới, con người bắt đầu bày tỏ cảm xúc của mình, và nhà nước cũng ở một mức độ nào đó ngầm cho phép những hành động như vậy.

Tại Quảng Đông, tiểu thuyết "Người à, người" của Đới Hậu Anh gây nên một cơn sốt. Nữ nhà văn này – người sau đó bị một tên trộm đột nhập vào nhà sát hại – lần đầu tiên dùng ngòi bút đầy bi mẫn để miêu tả cuộc sống của những người bình thường. Những bộ phim thể hiện tình yêu như "Lư Sơn luyến" và "Thiên Vân Sơn truyền kỳ" đã khiến giới trẻ đổ xô vào rạp chiếu phim như phát cuồng, mỗi bộ quần áo hoa của nữ chính Trương Du đều khơi dậy sự tò mò cực độ nơi các cô gái. Tạp chí "Đại chúng điện ảnh" vừa tái bản đã mạnh dạn đăng một tấm ảnh chụp từ bộ phim Anh "Hài thủy tinh và hoa hồng", đó là cảnh quay một đôi tình nhân trẻ hôn nhau nồng cháy.

Tháng 5, tờ "Trung Quốc thanh niên" với số lượng phát hành hơn 2 triệu bản đã đăng một lá thư dài ký tên "Nữ công nhân bình thường Phan Hiểu" với tiêu đề "Con đường đời, sao càng đi càng hẹp...". Trong thư, Phan Hiểu viết: "Thời đại đang tiến lên, nhưng tôi không chạm được vào đôi cánh đầy sức mạnh của nó; cũng có người nói, trên đời có một sự nghiệp rộng lớn, vĩ đại, nhưng tôi không biết nó ở đâu. Con đường đời, sao càng đi càng hẹp... Thật sự, tôi đã lén đến nhà thờ Thiên Chúa xem lễ, tôi từng nảy ra ý định đi tu, thậm chí, tôi đã nghĩ đến cái chết... Lòng thật sự rối bời, mâu thuẫn vô cùng."

Bài viết gây nên sự cộng hưởng to lớn, đồng thời cũng kéo theo những đợt tấn công dữ dội. Thế là, xoay quanh vấn đề con đường đời, cả Trung Quốc đã mở ra một cuộc thảo luận quy mô hoành tráng, cái tên Phan Hiểu trở nên nổi tiếng lẫy lừng. Cuộc thảo luận kéo dài đến tận tháng 3 năm sau, khiến "Trung Quốc thanh niên" đạt đến số lượng phát hành cao nhất – 3,69 triệu bản, chỉ riêng thư độc giả gửi cho tòa soạn và Phan Hiểu đã vượt quá 60 ngàn lá thư. "Khoảng một năm sau, người ta mới biết Phan Hiểu là tên ghép của nữ công nhân dệt may Hoàng Hiểu Cúc và sinh viên Học viện Kinh tế Bắc Kinh Phan Y. Hoàng Hiểu Cúc chỉ có bằng cấp hai, sau khi viết lá thư "Phan Hiểu" gây chấn động, cô được điều từ nhà máy dệt vào nhà xuất bản, sau đó nhờ tự học mà thi đỗ vào một viện nghiên cứu khoa học. Thế nhưng, khi viện nghiên cứu phát hiện Hoàng Hiểu Cúc chính là Phan Hiểu, họ đã sa thải cô. Lúc này, người chồng từng là người hâm mộ của Phan Hiểu cũng đề nghị ly hôn. Không còn cách nào khác, Hoàng Hiểu Cúc trở thành một trong những chủ sạp quần áo đầu tiên ở Bắc Kinh. Cuối thập niên 80, cô lại một mình xuôi nam đến Thâm Quyến tìm vàng, sau này trở thành bà chủ nhỏ sở hữu năm cửa hàng. Còn Phan Y là một chàng trai cao 1m9, sau khi Phan Hiểu nổi tiếng, anh làm thủ tục thôi học, bắt đầu cuộc sống lang bạt. Anh từng ở phòng chờ nhà ga, lán tự dựng, hành lang tòa nhà, gầm cầu vượt. Sau hai năm lang thang ăn xin, anh có được một công việc bốc vác, mỗi ngày vác hàng trăm bao tải nặng hơn 50kg, trú ngụ trong kho hàng. Năm 1984, Phan Y lấy một miếng thiếc hàn ở bãi hàng, bị kết án 3 năm rưỡi tù giam vì tội "trộm cắp". Sau khi ra tù, Phan Y không có kế sinh nhai, nhảy việc khắp nơi, có thời gian từng làm người dẫn chương trình cho chuyên mục "Tư vấn nghề nghiệp" trên một trang web nhân tài."

Cuộc thảo luận như vậy, đối với một xã hội bế quan tỏa cảng lâu ngày mà nói, chắc chắn mang tính chất lật đổ rất lớn. Nó khiến người ta bắt đầu nghi ngờ ý nghĩa và giá trị của trạng thái sinh tồn hiện tại, nảy sinh sự khát khao và trù tính chưa từng có đối với cuộc sống tương lai. Hà Bá Quyền – người sau này sáng lập nên tập đoàn Lạc Bách Thị, một trong những công ty nước giải khát lớn nhất Trung Quốc – hồi tưởng lại rằng, khi đó ông là cán bộ đoàn của trấn Tiểu Lãm, huyện Trung Sơn, đã cùng một cô gái thảo luận sôi nổi về chủ đề này. Chính "lá thư Phan Hiểu" đã khiến ông nhìn nhận lại và quy hoạch cuộc đời mình, cô gái đó sau này trở thành vợ ông.

Từ cuộc thảo luận về hiện tượng Phan Hiểu, người ta nhận ra rằng mở cửa và cải cách đã dần trở thành chủ đề chính của đất nước này. Lộ trình biến đổi của nó sẽ vô cùng khúc chiết, nhưng phương hướng tiến lên dường như đã không thể đảo ngược. Đến tháng 8, một sự cố doanh nghiệp nghiêm trọng bị che giấu suốt hơn nửa năm đột ngột bị xử lý, điều này chắc chắn lại trở thành sự kiện tin tức đáng chú ý nhất năm đó.

Sự cố doanh nghiệp này chính là vụ lật tàu khoan Bột Hải 2 xảy ra vào ngày 24 tháng 11 năm trước. Trong vụ việc ác liệt đó, vì quản lý và chỉ huy bất cập (từ ngữ thời đó là "chủ nghĩa quan liêu"), đã gây ra cái chết cho 72 công nhân dầu khí. Tài liệu công bố cho thấy, sau khi mua tàu khoan Bột Hải 2 từ nước ngoài, trong suốt 7 năm, rất nhiều tài liệu kỹ thuật và quy trình vận hành đều không được dịch thuật, công nhân hoàn toàn không có khái niệm về vận hành khoa học, trong khi cấp trên thì cứ hở ra là phát động "đại chiến dịch" hoặc "thi đấu lôi đài", "dùng những biện pháp không thỏa đáng trong các phong trào chính trị cũ để thực hiện sản xuất xây dựng". Sau khi vụ lật tàu xảy ra, các tầng lớp quản lý lại đùn đẩy trách nhiệm cho nhau dẫn đến trì hoãn thời gian cứu hộ, khiến hơn 70 công nhân bị chết cóng trên biển. Quốc vụ viện đã xử lý "sự kiện Bột Hải 2" với một thái độ cao giọng bất thường, hầu hết các phương tiện truyền thông trên cả nước đều đưa tin theo hướng lên án. Bộ trưởng Dầu khí bị miễn chức, Phó Thủ tướng phụ trách dầu khí, công thần của đại chiến dịch Đại Khánh thập niên 50 là Khang Thế Ân bị công khai kỷ luật ghi đại quá. Trong bài kiểm điểm công khai của Bộ Dầu khí thậm chí còn tiết lộ: "Từ năm 1975 đến nay, Cục Hải dương từng xảy ra 1042 vụ tai nạn lớn nhỏ, trong đó có 33 vụ nghiêm trọng, nhưng chúng ta vẫn luôn không nghiêm túc đối đãi".

Việc xử lý cao giọng đối với "sự cố Bột Hải 2" vào thời điểm đó là một hành động bất thường. Nó dường như báo hiệu rằng phương thức làm kinh tế kiểu vận động, kiểu phong trào chính trị trước đây đã không còn phù hợp. Nhìn về lâu dài, "cuộc tấn công dư luận" lần này mang tính biểu tượng, kết thúc những quan niệm phát triển kinh tế đầy hơi thở lãng mạn thời "Cách mạng Văn hóa". Những khẩu hiệu như "Người có bao nhiêu gan, đất có bấy nhiêu sản lượng", "Công nhân dầu khí gầm một tiếng, trái đất cũng phải rung chuyển" dần dần rút khỏi các phương tiện truyền thông chính thống. Người ta bắt đầu dùng tư duy khoa học và quản lý để lãnh đạo, quản trị doanh nghiệp của mình. Tất nhiên, đây chỉ là sự khởi đầu của chuyển đổi quan niệm, nó còn phải trải qua một quá trình vô cùng dài lâu. Đối với việc kinh doanh doanh nghiệp mà nói, biết được tầm quan trọng của khoa học và quản lý là một chuyện, còn khoa học là gì, làm sao để nắm vững khoa học lại là những vấn đề quan trọng hơn.

Trong lịch sử doanh nghiệp Trung Quốc, Bột Hải 2 không phải là sự cố nghiêm trọng nhất, nhưng vào thời điểm đó lại bị "cả nước lên án". Ngoài việc nhà nước muốn dùng các biện pháp quản lý nghiêm ngặt, còn có sự tiếp nối thuận theo của giới truyền thông và văn nghệ sĩ. Phóng viên Tân Hoa Xã Dương Kế Thằng trong bản tin gửi cho các phương tiện truyền thông cả nước mang tên "Tế Bột Hải 2" đã viết: "Trong đất nước chúng ta có một thể chế bất hợp lý như thế này: người hiểu tình hình thì không có quyền quyết định, người có quyền quyết định thì lại không hiểu tình hình". Còn nữ thi sĩ ôn hòa Thư Đình đã viết bài thơ "Sau cơn bão" từng được truyền tụng một thời: "Cuối cùng tôi chân thành hy vọng / những nhà thơ tương lai / không còn nỗi phẫn nộ bất lực này nữa / khi bảy mươi hai đôi mắt / mọc đầy tảo biển và san hô đỏ / nhìn chằm chằm vào ngòi bút của bạn." Rõ ràng, vào năm 1980, "sự kiện Bột Hải 2" đã biến từ một sự cố doanh nghiệp thành một sự kiện tác động đến quan niệm và phản tư nhân văn.

Bước chân của các tập đoàn đa quốc gia vào Trung Quốc đang âm thầm tăng tốc. Cuối năm trước, lô 3000 thùng Coca-Cola đóng chai đầu tiên từ Hồng Kông được gửi đến Bắc Kinh, bên gửi là công ty Ngũ Phong Hành Hồng Kông. Sau khi trải qua quá trình bán hàng thăm dò, phía Mỹ tiếp tục đề nghị tặng cho công ty Trung Lương một dây chuyền đóng chai với công suất 300 chai/phút, đồng thời đạt được thỏa thuận có thời hạn mười năm, ủy quyền cho công ty Trung Lương độc quyền sử dụng thương hiệu Coca-Cola, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại đại lục Trung Quốc.

Một tình tiết kịch tính là, ban đầu, Trung Lương rất muốn đặt dây chuyền sản xuất đầu tiên tại nhà máy nước ngọt Chính Quảng Hòa Thượng Hải, đây là một nhà máy lâu đời thành lập từ năm 1864. Ai ngờ, đề nghị này lại vấp phải sự phản đối kiên quyết và dữ dội từ phía Thượng Hải. Các báo chí liên quan đăng bài viết và thư của quần chúng, chỉ trích hành động này của Trung Lương là chủ nghĩa bán nước, triết lý nô lệ ngoại bang, nhập khẩu Coca-Cola chính là nhập khẩu lối sống tư sản hủ bại lạc hậu, chính là đả kích công nghiệp dân tộc. Công ty Trung Lương đành phải chuyển về Phong Đài, Bắc Kinh. Coca-Cola từ dây chuyền này sản xuất ra chủ yếu cung cấp cho các khách sạn du lịch, nhưng thị trường này nhanh chóng bão hòa. Được Bộ Thương mại nhà nước phê duyệt, đầu năm 1982, số Coca-Cola còn lại bắt đầu được tiêu thụ nội địa tại thị trường Bắc Kinh.

Những thay đổi sẽ làm xoay chuyển hoàn toàn vận mệnh các công ty Trung Quốc sau này vẫn đang nảy mầm đầy gian nan bên ngoài thể chế. Đối với Lỗ Quan Cầu năm 1980, thắng lợi lớn nhất mà ông đạt được trong năm này chính là lần đầu tiên chen chân được vào danh sách "trong kế hoạch". Chuyện này nhìn vào hiện tại, có thể coi là một "sự ngoài ý muốn".

Đầu năm, Lỗ Quan Cầu đưa ra một quyết định, ông tháo dỡ từng tấm biển hiệu treo trước cửa nhà máy, cuối cùng chỉ để lại một tấm "Nhà máy khớp vạn năng Tiêu Sơn". Ông là kiểu người có trực giác rất tốt – đây gần như là thiên phú chung của tất cả các doanh nhân khởi nghiệp. Sau mười năm lăn lộn, ông quyết tâm từ nay về sau chỉ dồn tâm sức vào một sản phẩm duy nhất, đó là linh kiện dễ hỏng của ô tô: "khớp vạn năng". Ông hăm hở tự vác sản phẩm đi tham gia hội chợ thương mại ngành, kết quả bị người ta đuổi ra ngoài, vì ngoài các nhà máy quốc doanh, các doanh nghiệp khác "tuyệt đối không được vào trong". Lỗ Quan Cầu tất nhiên không cam tâm chịu thua, ông lén bày sạp bán hàng ngay trước cửa hội trường, khớp vạn năng ông mang đến bán với giá thấp hơn 20% so với nhà máy quốc doanh nên được chào đón, ông như con chuột chũi âm thầm mở rộng địa bàn của mình. Để sản phẩm làm ra thực sự chiếm lĩnh thị trường, Lỗ Quan Cầu thể hiện sự quyết tâm vượt xa người thường. Mùa hè năm đó, một khách hàng ở Vu Hồ, An Huy gửi thư trả hàng, nói rằng một số khớp vạn năng gửi cho họ xuất hiện vết nứt. Lỗ Quan Cầu lập tức tổ chức 30 người đi kiểm tra và thu hồi hàng từ khách hàng trên khắp cả nước, kết quả vác về hơn ba mươi ngàn bộ khớp vạn năng. Lỗ Quan Cầu triệu tập toàn bộ công nhân nhà máy, sau đó chính ông là người đầu tiên mặt mày đanh lại, vác trên lưng bao tải chứa đầy phế phẩm đi về phía trạm thu mua phế liệu ở trấn Ninh Vi. Hơn ba mươi ngàn bộ khớp vạn năng này bị bán sạch như sắt vụn với giá sáu xu một cân, nhà máy vì thế tổn thất 43 vạn tệ. Đây là con số thiên văn vào thời đó.

Hành động gần như huyền thoại này của Lỗ Quan Cầu đã khiến doanh nghiệp hương trấn do ông lãnh đạo bắt đầu có được khí chất của đại công nghiệp. "Doanh nghiệp hương trấn là một danh từ doanh nghiệp kiểu Trung Quốc. Định nghĩa của Ngân hàng Thế giới về doanh nghiệp hương trấn (TVE) là: những doanh nghiệp được coi là có hình thức quyền sở hữu độc đáo, không phải quốc hữu cũng không phải tư hữu, mà thuộc sở hữu của chính quyền địa phương và cư dân. Cơ chế khích lệ của chúng tương tự như doanh nghiệp tư nhân, thặng dư chỉ được phân phối trong một tầng lớp hữu hạn (cộng đồng ổn định cùng chính quyền, quản lý doanh nghiệp). Sự tham gia tự do, cạnh tranh, ràng buộc ngân sách cứng, tính tích cực tài chính phù hợp của chính quyền địa phương, những đặc điểm này tạo nên tốc độ phát triển và hiệu quả vận hành cao của doanh nghiệp hương trấn." Năm đó, Tổng công ty Công nghiệp Ô tô Trung Quốc muốn xác định ba nhà máy sản xuất khớp vạn năng trọng điểm, trong số 56 nhà máy sản xuất trên cả nước, Nhà máy khớp vạn năng Tiêu Sơn là "doanh nghiệp hương trấn sở hữu tập thể" duy nhất. Vốn dĩ họ không có cả cơ hội tham gia bình chọn, nhưng Lỗ Quan Cầu chạy đôn chạy đáo khắp nơi, nhất quyết khiến đoàn thẩm định chuyên gia ở Bắc Kinh đưa nó vào danh sách đối tượng tham gia, cuối cùng lại thông qua thẩm định, trở thành một trong ba nhà máy trọng điểm. Việc xác định trọng điểm này đối với Lỗ Quan Cầu mà nói là mang tính quyết định. Nó khiến doanh nghiệp có "thân phận thấp kém" này bắt đầu được các nhà máy chính thống công nhận. Khớp vạn năng là một ngành không lớn, thắng lợi của Lỗ Quan Cầu dường như báo trước một khả năng, đó là các doanh nghiệp dân doanh ngoài thể chế có cơ hội dựa vào cơ chế linh hoạt và ưu thế kỹ thuật để đạt được thành công trong một số ngành ngách.

Cái gọi là "kế hoạch" trông có vẻ vô cùng chặt chẽ, nhưng lại có thể bị những "chú nhóc" linh hoạt phá vỡ trong chớp mắt, đạo lý này sẽ còn được kiểm chứng nhiều lần sau này. "Trong "Quy định về một số vấn đề phát triển doanh nghiệp xã đội (dự thảo thử nghiệm)" do Quốc vụ viện công bố tháng 7 năm 1979 có một điều khoản: "Căn cứ vào nhu cầu phát triển sản xuất của công nghiệp đô thị, tham chiếu năng lực có thể đảm đương của xã đội, có thể có kế hoạch phân tán một phần sản phẩm và linh kiện cho doanh nghiệp xã đội sản xuất." Lỗ Quan Cầu có thể tham gia bình chọn và trúng tuyển là nhờ vào quy định này."

Cũng giống như Lỗ Quan Cầu đang nỗ lực xé toạc lỗ hổng của "kế hoạch", tại Ôn Châu phía nam Chiết Giang và vùng Triều Sán Phúc Kiến, đồng bằng sông Châu Giang Quảng Đông, ngày càng nhiều nhà máy hương thôn thể hiện sức sống phi thường của họ. Một phóng viên tờ "Newsweek" của Mỹ đến phỏng vấn tại Thạch Sư, Phúc Kiến và Nam Hải, Quảng Đông, trong bài báo gửi về ông viết: "Thương mại hàng hóa nhỏ ở Thạch Sư và tiểu ngũ kim, tiểu hóa chất, tiểu nhựa, tiểu dệt may, tiểu luyện kim, tiểu gia công của dân gian Nam Hải, đang mọc điên cuồng như cỏ dại khắp thế giới."

Ôn Châu của Chiết Giang nằm ở nơi hẻo lánh, nhiều năm không có tàu hỏa, giao thông cực kỳ bất tiện, đất canh tác lại càng khan hiếm, bình quân đầu người chỉ hơn hai sào, vì thế nông dân nơi đây hàng trăm năm nay luôn có khao khát rời bỏ đất đai và ra ngoài mưu sinh. Sau năm 1979, vùng Nhạc Thanh, Thương Nam nơi đây bất ngờ bùng phát làn sóng buôn lậu, từng con tàu buôn lậu lén lút vận chuyển quần áo, đồ điện gia dụng nhỏ, tiểu ngũ kim từ ngoài biên giới vào, hình thành nên các thị trường giao dịch buôn lậu tại những bến cảng hẻo lánh. Chính quyền địa phương "pháp bất trách chúng", đành phải nhắm một mắt mở một mắt. Thế là, những hàng lậu này trở thành một trong những nguồn cung quan trọng của thị trường chợ hàng hóa có quy mô đầu tiên sau "Cách mạng Văn hóa". Những thương nhân liều lĩnh đến thu mua hàng lậu và những người Ôn Châu vác hàng hóa này đi bán dạo đã trở thành thế hệ thương nhân đầu tiên thời kỳ đầu cải cách. Tài liệu cho thấy, đến khoảng năm 1980, số hộ kinh doanh cá thể ở Ôn Châu đã vượt quá 3000. Tại một số thị trấn giao dịch sầm uất như Liễu Thị của Nhạc Thanh, lần lượt xuất hiện một số xưởng sản xuất chuyên nghiệp. Những người có quy mô lớn hơn được người dân địa phương đặt cho danh hiệu "Đại vương", như Đại vương điện khí Hồ Kim Lâm, Đại vương ốc vít Lưu Đại Nguyên, Đại vương đèn mỏ Trình Bộ Thanh, Đại vương cuộn dây Trịnh Tường Thanh, v.v. Tài sản của những người này lúc đó đều đã vượt quá mười vạn tệ, chất lượng sản phẩm làm ra đại khái có thể so sánh với nhà máy quốc doanh. Khác với Lỗ Quan Cầu, những "Đại vương" này và doanh nghiệp của họ ngay từ đầu đã mang tính chất tư nhân, ngoại trừ Ôn Châu và một vài khu vực ở đồng bằng sông Châu Giang, điều này gần như là không thể tưởng tượng được ở trong nước lúc bấy giờ.

Việc hoàn thành tích lũy nguyên thủy màu xám thông qua buôn lậu là yếu tố thúc đẩy quan trọng cho sự nảy mầm của kinh tế hương thôn vùng duyên hải đông nam lúc bấy giờ, điểm này vẫn chưa được giới học thuật chú ý. Khoảng năm 1980, nơi buôn lậu hoành hành nhất cả nước, một là vùng Ôn Châu, Thai Châu của Chiết Giang, hai là vùng Triều Sán của Phúc Kiến, do đó chúng trở thành những khu vực có kinh tế hàng hóa khởi động nhanh nhất và kinh tế dân doanh hoạt động sôi nổi nhất. Phóng viên Tân Hoa Xã Ngụy Vận Hanh từng mô tả cảnh tượng buôn lậu vùng duyên hải Phúc Kiến như sau: lúc đó mỗi ngày có hàng chục tàu buôn lậu Hồng Kông, Đài Loan neo đậu và tuần du ở vùng biển đảo Đông Sa, trong khi tàu buôn lậu đại lục ra đổi hàng lên tới hàng trăm chiếc. Đồng hồ điện tử và vải nylon tràn vào nội địa như thủy triều, còn vàng và bạc thì cuồn cuộn chảy ra ngoài như thủy triều rút. Hàng vạn quần chúng mê muội cuồng nhiệt, các vùng đô thị và nông thôn ven biển hình thành nên vài thị trường tập kết hàng lậu nổi tiếng gần xa.

Ngay khi các "nhà máy ngầm" ở đồng bằng sông Châu Giang và Ôn Châu mọc lên như cỏ dại, thì ở các thành phố trung tâm hoặc bán trung tâm, các hoạt động kinh tế mang màu sắc cá thể vẫn còn tỏ ra vô cùng dè dặt và thưa thớt. Kinh tế kế hoạch lâu dài đã khiến người ta quen với việc sống trong một môi trường khuôn mẫu, có kỷ luật và có tổ chức, một khi phải thoát khỏi quán tính đó, thường cần một ngoại lực hoặc lòng dũng cảm vô cùng lớn. Đây cũng là lý do tại sao trong thời kỳ đầu cải cách mở cửa, những người làm kinh tế cá thể đa số xuất thân từ tầng lớp đáy xã hội, họ là những người thất nghiệp, người hồi hương, người có tiền án tiền sự và người có trình độ văn hóa thấp. Những người này bị gạt ra ngoài thể chế "ấm áp", có "bảo đảm", trong lúc không còn cách nào khác, buộc phải bước lên con đường kinh doanh và khởi nghiệp. Tại Urumqi, thiếu niên 16 tuổi bỏ học không còn đường lui là Đường Vạn Tân đã theo anh cả Đường Vạn Lý mở một tiệm rửa ảnh. Không ai ngờ rằng hơn 20 năm sau, anh ta sẽ từ vùng biên cương hẻo lánh này xây dựng nên đế chế Đức Long với giá trị thị trường lên tới 120 tỷ tệ. Tại Bắc Kinh, một người phụ nữ trung niên tên Lưu Quế Tiên thì bất ngờ nhận được giấy phép kinh doanh cá thể đầu tiên của cả thành phố.

Lưu Quế Tiên là nhân viên tạp vụ của một trường mẫu giáo, gia đình có năm đứa con, vì sinh kế quá khó khăn nên nảy ra ý định mở một quán ăn nhỏ. Quán ăn của bà mở ở ngõ Thúy Hoa, quận Đông Thành, đặt tên là quán ăn Duyệt Tân. Hiện nay không còn tài liệu nào ghi lại tại sao Bắc Kinh lại chọn người phụ nữ không có bối cảnh này để mở quán ăn cá thể đầu tiên. Ngày đầu tiên khai trương, Cục trưởng Cục Công thương quận đã đích thân chạy đến dặn dò Lưu Quế Tiên: "Đây là quán ăn cá thể đầu tiên được cấp trên phê duyệt, cô phải làm cho tốt, tuyệt đối đừng làm xấu mặt chính phủ!" Lưu Quế Tiên mở quán thật sự không dễ dàng, thời đó, gần như tất cả thực phẩm – lương thực, dầu, thịt, gia cầm, trứng đều được cung cấp theo tem phiếu. Để giúp bà có được tem đậu phụ, tem thịt lợn và tem lương thực, quận Đông Thành đã huy động Cục Công thương, Cục Lương thực, Công ty Dịch vụ Ăn uống và các ban ngành khác. Vì là quán ăn cá thể đầu tiên ở kinh thành, ngày nào cũng có rất nhiều phóng viên nước ngoài đến chụp ảnh phỏng vấn, mà câu hỏi đại khái đều giống nhau: "Quán ăn này là do tự bà mở hay chính phủ bắt bà mở?", "Bà có lo lắng sau này mình bị phê đấu không?", "Bà kiếm được tiền có bị người khác lấy mất không?"

Thực tế, những câu hỏi này chính Lưu Quế Tiên cũng rất muốn tìm một người để hỏi cho ra nhẽ. Ngày 30 Tết năm sau, hai nhân vật lớn đã đến quán ăn Duyệt Tân, hai vị Phó Thủ tướng Trần Mộ Hoa và Diêu Y Lâm đã đích thân đến chúc Tết bà. Cũng từ lúc này, một danh từ thân phận mới bắt đầu lưu hành trong thành phố: "Cá thể hộ" (hộ kinh doanh cá thể), nó chỉ những người như Lưu Quế Tiên không có bảo đảm của nhà nước, tự chủ mở tiệm nhỏ. Nghe qua có vẻ đủ vị chua cay, có sự khinh miệt, có sự cảm thông, cũng có chút ngưỡng mộ thầm kín đối với "thân phận tự do".

Là quán ăn cá thể đầu tiên của cả Bắc Kinh, sự nghiệp của Lưu Quế Tiên chưa bao giờ bước ra khỏi ngõ Thúy Hoa. 30 năm sau, người ta vẫn có thể tìm thấy quán ăn nhỏ chỉ đặt vừa bảy tám cái bàn bát tiên trong con ngõ hẹp dài và ngày càng cũ kỹ ấy.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba