"Bất kể mèo trắng mèo đen, bắt được chuột chính là mèo tốt."
Năm 1990 tại Trung Quốc, lấy tháng 9 làm cột mốc cho Đại hội Thể thao châu Á (Asiad), tình hình phân định rạch ròi. Nửa đầu năm dốc toàn lực vào việc chỉnh đốn, kinh tế nhanh chóng chuyển từ quá nóng sang ổn định; sau đó lại tái khởi động chủ đề mở cửa và phát triển.
Thất bại trong cuộc "công phá giá cả" năm 1988 cùng những biến động xã hội và sự trì trệ kinh tế xảy ra vào năm 1989 đã khiến các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc có những suy ngẫm mới về mô hình cải cách tương lai. Tư duy cấp tiến dần thoái trào, một quan điểm cải cách tiệm tiến trở thành dòng chủ lưu mới. Năm 1989, Đặng Tiểu Bình từng đề xuất rằng, vấn đề của Trung Quốc, đè bẹp tất cả chính là nhu cầu ổn định. Kể từ đó, "ổn định" trở thành một danh từ xuất hiện với tần suất dày đặc. Trong bài xã luận ngày đầu năm mới, tờ "Nhân dân Nhật báo" viết: "Chỉ cần duy trì ổn định, dù là phát triển bình ổn trong mấy chục năm, Trung Quốc cũng sẽ có những thay đổi mang tính căn bản."
"Ổn định đè bẹp tất cả", "dò đá qua sông", cũng như "bất kể mèo trắng mèo đen, bắt được chuột chính là mèo tốt", đều là những danh ngôn cải cách của Đặng Tiểu Bình. Nghiền ngẫm kỹ lưỡng, hàm ý trong đó đều nhất quán như một.
Cuộc chỉnh đốn bắt đầu từ nửa cuối năm 1989 đã để lại ấn tượng sâu sắc cho toàn thế giới về năng lực điều tiết mạnh mẽ của Chính phủ Trung Quốc. Trái với dự đoán của nhiều nhà quan sát quốc tế, kinh tế Trung Quốc không hề trượt dài mất kiểm soát trong lạm phát, mà nhanh chóng hạ nhiệt từ trạng thái quá nóng. Năm 1989, tổng mức giá cả toàn quốc tăng 17,8%, nửa cuối năm thậm chí lên tới 40%. Theo cách nói của tờ "New York Times", "giá cả tăng vọt gần như có thể sánh ngang với năm 1949 khi Đảng Cộng sản tiếp quản đất nước này". Thế nhưng, đến tháng 6 năm 1990, chỉ số giá cả đã giảm xuống còn 3,2%, thấp hơn nhiều so với ngưỡng nguy hiểm. Cơn sốt đổ xô đi mua hàng rút lui, tâm lý hoảng loạn trong xã hội cũng theo đó mà bình lặng trở lại.
Sau khi lạm phát bị cưỡng chế kiểm soát, sự trì trệ kéo dài trong tiêu dùng lập tức trở thành một nỗi phiền muộn mới trên toàn quốc. Người dân bắt đầu thắt chặt chi tiêu, tiền gửi ngân hàng tăng vọt, thị trường hàng tiêu dùng và vật tư rơi vào cảnh tiêu điều. Từ tháng 7, một danh từ mới bắt đầu được thảo luận thường xuyên — "thị trường ảm đạm". Đến tháng 8, tháng 9, lượng tồn kho sản phẩm công nghiệp toàn quốc tăng 21% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 106,7 tỷ nhân dân tệ; trong khi đó, tồn kho tại các nhà máy quốc doanh thuộc ngân sách nhà nước tăng tới 45,9%, lợi nhuận thực tế giảm 56%. Cứ trung bình 100 nhà máy thì có 33 nhà máy thua lỗ.
Rõ ràng, trạng thái kinh tế ngày càng nguội lạnh này cũng đáng sợ không kém. Thế là, "khởi động thị trường bắt đầu từ đâu" lại trở thành chủ đề bàn tán sôi nổi trên truyền thông cả nước. Tờ "Kinh tế Nhật báo" thậm chí còn mở chuyên mục thảo luận "Than đá nhiều rồi, ngành than phải làm sao", câu hỏi này nếu đặt ra trước đó hơn một năm thì gần như là chuyện viễn tưởng. Chính quyền các địa phương bắt đầu trù tính các biện pháp làm thế nào để hâm nóng kinh tế. Tổng Bí thư Giang Trạch Dân đã thị sát Hải Nam, tái khẳng định Chính phủ Trung ương dốc toàn lực ủng hộ chính sách mở cửa đặc khu của Hải Nam, làm dấy lên một "cơn sốt Hải Nam" đợt mới trên truyền thông.
Tháng 9, Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 11 được tổ chức long trọng tại Bắc Kinh, đây đương nhiên trở thành sân khấu lớn để chính phủ tập hợp lòng dân và nâng cao nhiệt huyết toàn dân. Vì đại hội này, Bắc Kinh đã đầu tư 2,5 tỷ nhân dân tệ, xây dựng hơn 20 cơ sở thể thao quy mô lớn, một số dự án đầu tư xây dựng cơ bản vốn bị đình trệ trước đó bắt đầu âm thầm phục hồi. Sự chú ý của truyền thông toàn cầu cùng sự tham gia của hàng chục vạn người cũng giúp giới doanh nghiệp vốn đã trầm lắng hơn hai năm qua có được nhiều cơ hội thương mại. Tân Hoa Xã nhiệt tình bình luận: "Asiad chủ yếu mang lại cơ hội, là những khả năng." Hãng tin AP cũng cho rằng: "Asiad là một tin vui đối với chính quyền Bắc Kinh, thể thao một lần nữa thể hiện năng lực thúc đẩy sự thịnh vượng kinh tế của nó." Tại kỳ đại hội này, ngành công nghiệp máy tính non trẻ đã phô diễn thành quả của mình; các công ty như Trường Thành, Liên Tưởng đã tự phát triển hệ thống phần mềm cần thiết cho đại hội, 90% máy tính sử dụng hàng nội địa. Tuy nhiên, để phòng ngừa sự cố, ban tổ chức vẫn mời công ty IBM đảm nhận công việc sao lưu dữ liệu.
Đến nửa cuối năm, tất cả những người quan tâm đến kinh tế Trung Quốc đều đổ dồn ánh mắt về Thượng Hải và Thâm Quyến. Tại hai thành phố đó, cuộc thử nghiệm thị trường vốn từng bị gián đoạn do biến động kinh tế xã hội cuối cùng đã gặt hái được thành quả.
Sau cuộc họp báo cáo tại Trung Nam Hải cuối năm 1988, Cao Tây Khánh và Vương Bác Minh đã thành lập "Văn phòng Liên hợp Thiết kế Nghiên cứu Sở Giao dịch Chứng khoán", bắt tay vào công tác chuẩn bị cho sở giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, công việc nhanh chóng bị gián đoạn bởi biến động bất ngờ. Trong gần nửa năm trời, họ luôn ở trong tình trạng không có việc gì làm. Vương Bác Minh sau này từng kể một chi tiết rất thú vị: Anh và một đồng nghiệp khác tên là Chương Tri Phương hằng ngày cứ nhìn nhau trong văn phòng. Một hôm, Chương thực sự ngồi không nổi nữa, bèn nói: "Tôi có chút việc, đi trước đây." Chẳng bao lâu sau, Vương Bác Minh cũng không thể ngồi yên được nữa, bèn chạy đến rạp chiếu phim gần đó xem phim. Khi mò mẫm bước vào rạp, anh chợt phát hiện người ngồi ở hàng ghế phía trước trông rất quen mắt, nhìn kỹ lại, đúng là Chương Tri Phương "có việc đi trước".
Câu chuyện cười Vương Bác Minh kể đầy tính kịch tính, nhưng cần ghi lại rằng, dù công việc thực tế bị đình trệ, song trong giới nhân sĩ cấp cao tỉnh táo và thực tế lúc bấy giờ, việc mưu tính cho sở giao dịch chứng khoán chưa bao giờ dừng lại. Ngày 2 tháng 12 năm 1989, Thành ủy Thượng Hải tổ chức họp tại hội trường nhỏ đường Khang Bình để trù tính phát triển Phố Đông. Chu Dung Cơ, người kiêm nhiệm chức Bí thư Thành ủy và Thị trưởng Thượng Hải, đã chỉ thị rõ ràng về việc tăng tốc chuẩn bị cho Sở Giao dịch Chứng khoán Thượng Hải. Tại chỗ, một số cán bộ còn tỏ ra lưỡng lự; quan chức ngân hàng lo lắng sở giao dịch mở ra sẽ phân tán nguồn vốn tín dụng ngân hàng; giới hoạch định chính sách lo ngại mua bán chứng khoán có chút tính chất đánh bạc, không có lợi cho xây dựng văn minh tinh thần; doanh nghiệp quốc doanh phát hành cổ phiếu cho cá nhân, liệu có biến tướng thành tư hữu hóa? Cán bộ phụ trách ý thức hệ thì lo lắng, mở sở giao dịch liệu có nuôi dưỡng ra một thế hệ tư sản trên bến Thượng Hải hay không? Chính thái độ của Chu Dung Cơ mới khiến tư tưởng của những cán bộ này ổn định lại.
Thượng Hải có một tình cảm đặc biệt đối với thị trường vốn. Tờ chứng chỉ cổ phần đầu tiên của Trung Quốc xuất hiện tại đây vào năm 1859. Khi đó, Công ty Quỳnh Ký Dương Hành của Mỹ chi 10 vạn bạc trắng để đóng tàu Hỏa Tiễn, thương nhân Trung Quốc góp vốn 1 vạn. Năm 1877, Lý Hồng Chương sáng lập Cục Chiêu thương Luân thuyền, huy động thương nhân góp vốn 37 vạn lượng bạc, là doanh nghiệp cổ phần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc cận đại. Trước năm 1949, Thượng Hải luôn là thành phố tài chính lớn nhất vùng Viễn Đông. Nhiều sử gia cho rằng, chính sự suy tàn của nó đã làm nên sự huy hoàng của Hồng Kông. Lúc này, với tư cách là thành phố công nghiệp lớn nhất cả nước, mỗi năm Thượng Hải nộp ngân sách chiếm 1/6 cả nước, thế nhưng trong các lĩnh vực cải cách mở cửa lại đều đã tụt hậu so với Quảng Đông. Nếu không có thủ đoạn đặc biệt, sự chấn hưng của Thượng Hải sẽ không thể bàn tới. Tháng 2 năm 1990, Đặng Tiểu Bình chuyên tâm đi về phía nam đến Thượng Hải đón Tết đã đề xuất phát triển Phố Đông, và phản tư rằng: "Nếu lúc làm bốn đặc khu kinh tế mà thêm Thượng Hải vào, thì bây giờ cục diện cải cách mở cửa của vùng đồng bằng sông Trường Giang, toàn bộ lưu vực sông Trường Giang, thậm chí là cả nước, đều sẽ khác biệt." Ngày 18 tháng 4, Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Bằng tuyên bố: Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện đồng ý để Thượng Hải đẩy nhanh việc phát triển khu vực Phố Đông, thực hiện chính sách khu phát triển kinh tế kỹ thuật và một số chính sách đặc khu kinh tế tại Phố Đông. Việc xác lập chính sách phát triển Phố Đông đã khiến Thượng Hải một lần nữa trở thành đầu tàu tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, hiệu ứng dài hạn của nó vô cùng to lớn. Từ năm 1990 đến năm 2004, GDP của Phố Đông tăng từ 6 tỷ nhân dân tệ ít ỏi lên 179 tỷ nhân dân tệ. Với 1/8 dân số và 1/10 diện tích đất của Thượng Hải, Phố Đông đã tạo ra 1/4 GDP và tổng giá trị sản xuất công nghiệp, 1/2 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ngoại thương và 1/3 tổng lượng vốn đầu tư nước ngoài của Thượng Hải, tương đương với việc tạo ra một Thượng Hải mới trong 15 năm. Nơi đây trở thành khu vực cốt lõi tài chính của Trung Quốc, cũng là khu vực tập trung trụ sở các công ty đa quốc gia dày đặc nhất. Theo quy hoạch của Trung ương năm 1990, các chính sách ưu đãi của Phố Đông sẽ kéo dài 15 năm. Đến năm 2005, ngay khi thời hạn này đến, Quốc vụ viện lại phê chuẩn cho Tân khu Phố Đông tiến hành thí điểm cải cách tổng hợp, tiếp tục kéo dài và mở rộng hiệu ứng thí điểm của nó.