Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 362 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1979 Những chuyển biến mới và những vì sao lấp lánh (3)

❊ ❊ ❊

Tháng 2 năm 1979, đội quân thanh niên trí thức (thanh niên trí thức) gồm 7,6 triệu người ùn ùn đổ về các thành phố nơi họ từng rời đi như thủy triều. Những vụ xô xát nhỏ nổ ra khắp nơi, vấn đề việc làm lập tức trở thành nỗi cấp bách hàng đầu cần giải quyết tại Trung Quốc. Mười năm trước, phong trào thanh niên trí thức về nông thôn do Mao Trạch Đông phát động đã dấy lên mạnh mẽ, học sinh trung học bước ra khỏi cổng trường, khoác ba lô lên đường về nông thôn để nhận sự "tái giáo dục" của bần nông và trung nông. Giờ đây, chính nhóm người được gọi là "thanh niên trí thức" ấy, sau mười năm được tôi luyện trong phong trào về nông thôn, như những người du hành bừng tỉnh sau cơn mộng mị, đồng loạt tháo chạy trở về thành phố. Số liệu cho thấy, ngoài 7 triệu người đã về, vẫn còn 3 triệu người nữa sẽ lần lượt trở về thành phố trong hai năm tới. Họ cần ăn, cần việc làm, cần sinh tồn. Đây là một nhóm người khổng lồ, tràn đầy sức sống, tự cho rằng tuổi xuân của mình đã bị lãng phí, cái gì cũng dám làm, nhưng lại chẳng có việc gì để làm.

Tạp chí "Newsweek" của Mỹ trong bài viết "Đặng Tiểu Bình có thể cứu Trung Quốc không?" đã đặt câu hỏi: "Chúng ta nhìn thấy một Trung Quốc đã thức tỉnh, nhưng Trung Quốc đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề, trật tự sản xuất và môi trường làm việc bị 'Cách mạng Văn hóa' phá hoại, lượng lớn thanh niên trở về thành phố, v.v. Câu hỏi đặt ra cho Đặng Tiểu Bình là, làm thế nào để cứu vãn tất cả mà không làm thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc."

Đặng Tiểu Bình đưa ra quyết định ngay lập tức. Tại Hội nghị toàn thể lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tổ chức vào tháng 12 năm trước, hai văn kiện về nông nghiệp đã được thông qua, tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm đối với công thương nghiệp nông thôn, kinh tế phụ gia đình và thị trường chợ phiên nông thôn được công nhận. Ngay trong tháng mà thanh niên trí thức đồng loạt trở về thành phố, Trung ương Đảng và Quốc vụ viện đã nhanh chóng phê chuẩn báo cáo đầu tiên về phát triển kinh tế cá thể: "Các địa phương có thể căn cứ vào nhu cầu thị trường, sau khi được sự đồng ý của cơ quan quản lý nghiệp vụ liên quan, cho phép một số lao động nhàn rỗi có hộ khẩu chính thức làm các công việc cá thể như sửa chữa, dịch vụ và thủ công nghiệp." Tờ giấy phép kinh doanh cá thể đầu tiên của cả nước được cho là đã cấp cho Chương Hoa Muội, một người bán hàng rong ở Ôn Châu. Đến cuối năm này, cả nước có khoảng 100.000 hộ kinh doanh cá thể được phê duyệt mở cửa.

Đối mặt với áp lực việc làm dữ dội, cách làm sáng suốt nhất không gì hơn là "mở cống xả nước". Tính tất yếu của việc tư nhân hóa nền kinh tế Trung Quốc đã lộ rõ trong năm 1979, thuận theo nó thì tồn tại, nghịch lại nó thì diệt vong.

Về mặt pháp lý và chính sách, tính hợp pháp của các công ty tư nhân Trung Quốc đã được xác định vào thời điểm này. Hai năm sau, nó sẽ gặp phải thử thách đầu tiên, và để tạo thành một sự bảo hộ pháp lý hoàn chỉnh, nó còn phải trải qua 20 năm gián đoạn. Tuy nhiên, một câu chuyện mới thực sự đã bắt đầu, mặc dù khởi đầu một cách miễn cưỡng và đầy trắc trở.

Tại Vu Hồ, An Huy, một tiểu thương không biết chữ, tự xưng là "thằng ngốc" đã đưa ra một bài toán hóc búa cho các nhà lý luận trên toàn Trung Quốc.

Niên Quảng Cửu, 42 tuổi, là một nhân vật nhỏ bé không đáng kể ở địa phương. Ông là người mù chữ, 7 tuổi đã bắt đầu nhặt đầu thuốc lá trên đường phố để kiếm tiền, 9 tuổi làm học việc kinh doanh, mười mấy tuổi đã tiếp quản sạp trái cây của cha để quán xuyến gia đình. Năm 1963, ông bị kết án một năm tù vì "tội đầu cơ trục lợi" (Đầu cơ trục lợi, chỉ việc "dùng các thủ đoạn gian lận như mua khống bán khống, tích trữ đầu cơ, mua đi bán lại để trục lợi". Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi để hạn chế các hành vi giao dịch kinh tế cá nhân, do biên độ định nghĩa mơ hồ nên có câu "đầu cơ trục lợi là cái giỏ, tội gì cũng nhét vào trong". Tháng 9 năm 1987, Quốc vụ viện ban hành "Điều lệ tạm thời về xử phạt hành chính đối với hành vi đầu cơ trục lợi". Năm 1997, trong bản sửa đổi "Hình luật", "tội đầu cơ trục lợi" đã bị xóa bỏ trong nhóm tội phạm kinh tế). Sau khi ra tù, để duy trì cuộc sống, Niên Quảng Cửu bắt đầu rang hạt hướng dương. Ông không biết đã học trộm được ngón nghề ở đâu mà hạt hướng dương rang ra lại cực kỳ ngon, cắn một cái tách làm ba, hương thơm nồng nàn, dần dần trở nên nổi tiếng. Năm đó, ông muốn đặt tên cho hạt hướng dương của mình, nghĩ đi nghĩ lại bỗng nhớ ra cha mình thường bị hàng xóm gọi là "thằng ngốc", từ nhỏ ông cũng bị gọi là "thằng ngốc nhỏ", thế là ông quyết định đặt luôn là "Hạt hướng dương thằng ngốc".

Thương hiệu "Hạt hướng dương thằng ngốc" vừa treo lên, không ngờ vì sự đặc biệt mà thu hút vô số lời khen ngợi. Công việc kinh doanh của ông ngày càng phát đạt, một ngày có thể bán được hai ba nghìn cân, ông bèn thuê một số thanh niên thất nghiệp làm người giúp việc. Những người này ngày một đông lên, đến mùa thu, người khác giúp ông đếm thử thì thấy đã có tới 12 người, thế là rắc rối lớn nảy sinh.

Việc kinh doanh của Niên Quảng Cửu thuận lợi vốn đã khiến người xung quanh ghen tị, nay ông lại thuê tới 12 người làm công, có người lập tức liên tưởng đến luận điểm nổi tiếng của Marx trong bộ "Tư bản": "Thuê người làm đến 8 người thì không còn là kinh tế cá thể thông thường nữa, mà là kinh tế tư bản chủ nghĩa, là bóc lột." Thế là, tin đồn "An Huy xuất hiện một nhà tư bản tên Niên Quảng Cửu", "Niên Quảng Cửu là phần tử bóc lột" lập tức lan truyền khắp An Huy. Cuộc tranh luận này dường như không xuất hiện trên các tờ báo công khai lúc bấy giờ, nhưng lại lan truyền rất rộng trong giới quan chức chính phủ: "Ở An Huy có một Niên Quảng Cửu, rang hạt hướng dương mà thuê tới 12 người, có tính là bóc lột không?" Đây trở thành một mệnh đề vô cùng nhạy cảm lan truyền khắp cả nước, tranh luận, biện hộ, chỉ trích, một cuộc đại tranh luận mang đậm đặc trưng ý thức hệ đã bắt đầu.

Rõ ràng, trong hệ thống ngôn ngữ kinh tế chính trị chính thống thời bấy giờ, bản chất bóc lột của Niên Quảng Cửu là điều không cần bàn cãi. Trong "Tư bản" tập 1, thiên thứ ba, chương 9 "Tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư", Marx từng phân định rõ ranh giới giữa "tiểu chủ" và "nhà tư bản". Theo tính toán của ông, vào thời điểm đó (giữa thế kỷ 19), nếu thuê dưới 8 người và bản thân cũng trực tiếp tham gia quá trình sản xuất như công nhân thì là "nhân vật trung gian giữa nhà tư bản và công nhân, trở thành tiểu chủ", còn nếu vượt quá 8 người thì bắt đầu "chiếm hữu giá trị thặng dư của công nhân", đó là nhà tư bản. Trong hầu hết các lý thuyết xã hội chủ nghĩa, "dưới 7 trên 8" là một ranh giới sắt đá. Nay xưởng hạt hướng dương của Niên Quảng Cửu thuê tới 12 người, bản chất của nó gần như không cần nói cũng biết.

Thằng ngốc là nhà tư bản, nói ra chẳng ai tin, nhưng áp dụng lý thuyết vào thì đúng là như vậy. Trước thực tế sống động, "kinh điển" cuối cùng cũng lộ ra sự nhợt nhạt và lúng túng. Nếu "Hạt hướng dương thằng ngốc" của Niên Quảng Cửu phải bị xóa bỏ, vậy thì "kinh tế phụ gia đình" làm sao có thể phát triển được? Chẳng lẽ tất cả các xưởng đều phải khống chế số lượng người dưới 7 người? Bài toán hóc búa mà "thằng ngốc" đưa ra khiến các nhà lý luận trên toàn Trung Quốc tranh cãi đến đỏ mặt tía tai.

Thực tế, ở Trung Quốc thời bấy giờ, Niên Quảng Cửu tuyệt đối không phải là trường hợp cá biệt. Đối với 100.000 hộ kinh doanh cá thể vừa mới mở cửa, số lượng người thuê có nên hạn chế hay không, rốt cuộc có thể vượt quá tám người hay không, đã từ một vấn đề lý luận trừu tượng biến thành bài toán thực tế. Tại huyện Cao Yếu, Quảng Đông, một nông dân tên Trần Chí Hùng đã thầu 105 mẫu ao cá, thuê một lao động dài hạn và 400 công lao động thời vụ, năm đó thu lợi nhuận ròng hơn mười nghìn tệ, điều này gây ra một cuộc tranh luận gay gắt tại địa phương. Ở Quảng Châu, một hộ kinh doanh cá thể tên Cao Đức Lương, sau khi ra khơi lập nghiệp với món "Gà thái gia Chu Sinh Ký", chưa đầy nửa năm đã thuê sáu người giúp việc, bị xã hội chỉ trích là bóc lột. Ông rất bất phục, viết một lá thư dài gửi lãnh đạo Trung ương, phản ánh các vấn đề như nới lỏng thuê người làm. Cuối năm 1979, Nhậm Trọng Di đến Quảng Đông nhậm chức Bí thư Tỉnh ủy, phát hiện hộ kinh doanh cá thể ở Quảng Đông khá nhiều, người thuê mười mấy, hai mươi mấy, thậm chí hàng trăm người cũng có. Vấn đề này rốt cuộc phải giải quyết thế nào? Ông cũng rất đau đầu, lúc đó liền yêu cầu giới khoa học xã hội Quảng Đông "nghiên cứu cho kỹ".

Cuộc đại tranh luận này kéo dài đến tận năm 1982, khi xưởng hạt hướng dương của Niên Quảng Cửu đã thuê tới 105 người, sản lượng mỗi ngày 9.000 kg, số tiền kiếm được nghe nói cũng đã vượt quá 1 triệu tệ, nhưng cuộc tranh luận về việc "hộ kinh doanh cá thể thuê bao nhiêu người thì tính là bóc lột" vẫn chưa ngã ngũ. Lúc này, Đặng Tiểu Bình lên tiếng. Tại một cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Đặng Tiểu Bình đề nghị áp dụng phương châm "xem xét một thời gian" đối với doanh nghiệp tư nhân, ông đã nêu ví dụ về Niên Quảng Cửu ngay lúc đó.

Niên Quảng Cửu nhờ một câu nói của Đặng công mà lưu danh trong sử sách cải cách Trung Quốc. Và trong chính sách đối với doanh nghiệp dân doanh, đây chỉ là vết rách nhỏ đầu tiên, một vết rách rất nhỏ, nhưng lại quyết định vận mệnh của các doanh nghiệp Trung Quốc. Về mặt chính sách, việc thực sự xóa bỏ hạn chế về số lượng người thuê làm phải đợi đến năm 1987, trong văn kiện số 5 của Trung ương năm đó, số lượng người thuê của doanh nghiệp tư nhân mới được hoàn toàn cởi trói.

Năm đó, người Mỹ Ezra Vogel, tác giả cuốn "Nhật Bản, số một thế giới", đã đến Quảng Đông. Ông phát hiện một loạt các xưởng nhỏ đang lặng lẽ nổi lên trên diện rộng tại đây. Người sáng lập của chúng phần lớn lại chính là những kẻ vượt biên năm xưa, và hình thức lập xưởng của họ được người dân địa phương gọi là "ba đến một bổ" (ba loại hình gia công và bù đắp thương mại).

Cái gọi là "ba đến một bổ" chỉ việc mẫu mã sản phẩm, nguyên liệu và thiết bị của xưởng đều được vận chuyển từ nước ngoài đến, sản phẩm làm ra lại được xuất khẩu theo phương thức thương mại bù trừ, lao động trong nước và chính phủ thu một khoản phí gia công nhất định. Xưởng may Đại Tiến ở huyện Thuận Đức, thành lập tháng 8 năm 1978, là xưởng "ba đến một bổ" đầu tiên của cả nước, năm đầu tiên phí gia công mà thương nhân Hồng Kông trả là 800.000 đô la Úc. Hình thức này nhanh chóng lan rộng khắp vùng Đồng bằng sông Châu Giang. Nó dựa vào thương nhân Hồng Kông để giải quyết các vấn đề về nguyên liệu, kỹ thuật và kênh thị trường, trở thành mô hình chủ yếu cho sự trỗi dậy của ngành công nghiệp phương Nam. (Ngay sau khi xưởng may Đại Tiến thành lập 3 tháng, Tào Quang Bưu - nhà sản xuất len sợi lớn nhất Đông Nam Á của Công ty TNHH Xí nghiệp Vĩnh Tân Hồng Kông - đã thành lập xưởng len sợi Hương Châu tại Chu Hải, truyền thông Hồng Kông lần đầu tiên sử dụng các khái niệm mới là "gia công nguyên liệu đến" và "thương mại bù trừ" trong các bản tin).

Điều thú vị là, hầu hết các thương nhân Hồng Kông sáng lập những xưởng này đều là những kẻ vượt biên năm xưa. Theo ghi chép của Ezra Vogel, "Các quan chức Đông Quản ước tính rằng, khoảng 50% các hợp đồng ký kết với Hồng Kông là ký với những cư dân Đông Quản cũ. Rõ ràng, chính quyền tỉnh Quảng Châu và chính quyền huyện trực thuộc đã nảy sinh những khác biệt tinh tế trong cách đối xử với những kẻ vượt biên." Năm đó, báo chí tỉnh Quảng Đông tràn ngập các tin tức về việc trấn áp những kẻ vượt biên: tháng 12, chính quyền tỉnh còn thông qua "Quy định về xử lý vượt biên trốn ra nước ngoài", hình phạt đối với những kẻ vượt biên không thành rất nghiêm khắc. Trong khi đó, tại một số huyện thị ở Đồng bằng sông Châu Giang, các quan chức địa phương bắt đầu chào đón những kẻ vượt biên năm xưa quay về quê hương lập xưởng. Đặc biệt là ở các huyện Đông Quản, Trung Sơn, một lượng lớn các dự án "ba đến một bổ" đều do những người trốn sang Hồng Kông năm xưa quay về thực hiện. Một cán bộ Đông Quản nói với Ezra Vogel đến phỏng vấn: "Mười năm trước, nhiệm vụ chính của tôi là ngăn chặn vượt biên và bắt giữ kẻ vượt biên. Trước đây chúng tôi coi họ là người xấu, nhưng giờ chúng tôi cho rằng họ giàu tinh thần mạo hiểm, tài năng xuất chúng, không giống như những người nông dân thật thà ở lại."

Để nâng cao hiệu quả chính phủ, cũng trong năm đó, chính quyền huyện Đông Quản đã thành lập một cơ quan gọi là "Văn phòng gia công lắp ráp đối ngoại", tuyên truyền "một cửa sổ đối ngoại, một con dấu giải quyết công việc". Thương nhân Hồng Kông ký một hợp đồng ở đây chỉ mất chừng một tiếng đồng hồ, điều này gần như là không thể tưởng tượng được ở Trung Quốc thời bấy giờ. Cơ quan độc nhất vô nhị trên cả nước này đã tồn tại mười năm, số lượng xưởng ở Đông Quản tăng vọt qua từng năm. Từ năm 1978 đến 1991, Đông Quản thu hút 1,7 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, đứng đầu các thành phố cấp huyện trên cả nước.

Trong năm cuối cùng của thập niên 70, người Trung Quốc bắt đầu tỉnh giấc sau cơn cuồng nhiệt cách mạng, nghèo đói như một chiếc gai đâm xuyên qua làn da vừa mới hồi sinh, khiến người ta cảm thấy đau đớn. Ở Phúc Kiến miền Nam, một nữ thi sĩ tên Thư Đình đã viết về khát vọng thoát nghèo của mọi người bằng một phương thức tinh tế hơn: "Tôi là nghèo khó / Tôi là bi ai / Tôi là hy vọng đau đớn / Của bao đời tổ tiên các người / Là đóa hoa / Chưa từng rơi xuống mặt đất / Trong ngàn vạn năm / Giữa tay áo 'Phi Thiên' / — Tổ quốc ơi!"

Tạp chí "The Economist" trong bản tin cuối năm đã thống kê: "Sau 20 năm thiếu thốn, các chỉ số của Bắc Kinh bắt đầu tăng vọt. Năm 1979, Trung Quốc sản xuất 334 triệu bao tải đay, 8,5 tỷ bóng đèn sợi đốt, 186.000 chiếc xe máy, sản lượng tivi đạt 1,3 triệu chiếc, tăng 157% so với năm 1978. Theo số liệu của Cục Thống kê Quốc gia, tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc đạt 5,8%, vì vậy chính phủ Trung Quốc thừa nhận thu nhập thực tế của một số người thực chất đã giảm, nhưng thu nhập của công nhân và cán bộ doanh nghiệp nhà nước tăng trung bình đạt 7,6%." Một người châu Âu tên H. Jensen đã trở lại Thượng Hải. 35 năm trước, ông đã trải qua thời thơ ấu tại thành phố thuộc địa lớn nhất vùng Viễn Đông này, cha ông là kỹ sư hóa học người Đan Mạch, mẹ là người Nga. Giờ đây, Thượng Hải trong mắt ông là một thành phố để lại dấu vết thuộc địa khắp nơi. "Tại Thượng Hải nơi Mao Trạch Đông phát động 'Cách mạng Văn hóa', đã không còn một tấm chân dung nào của Mao Trạch Đông, không một ai nhắc đến chính trị. Họ quan tâm nhiều hơn đến hàng hóa, hàng nhập khẩu, và việc liệu người Mỹ có thực sự ai cũng có xe hơi hay không."

Một thời đại vật chất hóa đã đến.

Ngày 31 tháng 12 năm 1979, Mưu Kỳ Trung, người Vạn Huyện, Tứ Xuyên, một người đàn ông mặt vuông cao gầy, được phóng thích khỏi nhà tù. Bốn năm trước, vì viết một bài luận dài "Trung Quốc đi về đâu", ông bị gán tội phản cách mạng. Nghe nói ban đầu đã định án tử hình, sau đó vụ án cứ kéo dài mãi nên mới không thực sự bị tuyên án. Nửa cuối năm này, Tứ Xuyên bắt đầu thanh lọc các vụ án oan sai trong thời kỳ "Cách mạng Văn hóa", Mưu Kỳ Trung và những người khác được tuyên bố vô tội và phóng thích. Ông không trở lại xưởng thủy tinh của huyện để tiếp tục làm công nhân lò đốt, mà một tháng sau khi ra tù, ông vay người khác 300 tệ, thành lập "Bộ phận dịch vụ tín thác thương mại Giang Bắc, thành phố Vạn Huyện". Lúc này, ông đã gần 40 tuổi. Năm 19 tuổi, ông từng điền một bài "Ngu Mỹ Nhân", từ rằng: "Chín người đạp sương vào núi, lại leo lên đỉnh Thái Bạch. Một lớp ngói vỡ một lớp cỏ, không giống phong cảnh năm xưa tốt đẹp. Tường đổ cột xiêu miếu đã bại, cần gì phải băn khoăn. Nguyện đến Dao Trì lấy cột ngọc, chớ nói giang sơn tươi đẹp không người ngó."

Hay cho câu "chớ nói giang sơn tươi đẹp không người ngó", con người họ Mưu làm ra bài từ hay như vậy cuối cùng không phải là vật trong ao, khí phách thiếu niên của ông đã lãng phí suốt hai mươi năm vào lý tưởng chính trị, giờ đây lại muốn trút hết vào đại dương thương mại. "Thời đại của Mưu Kỳ Trung" quả nhiên sắp đến rồi.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba