Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 362 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1982 Mùa xuân không hề lãng mạn (2)

❊ ❊ ❊

(Hai) Hàn Khánh Sinh và "Tội đầu cơ kỹ thuật"

"Sự kiện Tám đại vương" chỉ là phần nổi của tảng băng chìm trong phong trào chỉnh đốn kinh tế năm 1982. Vào ngày 11 tháng 1 và 13 tháng 4, Quốc vụ viện hai lần ban hành văn bản nghiêm khắc: "Đối với những tội phạm phá hoại nghiêm trọng nền kinh tế, bất kể là ai, thuộc đơn vị nào, giữ chức vụ cao thấp ra sao, đều phải thiết diện vô tư, chấp pháp như sơn, không cho phép có bất kỳ ngoại lệ nào, càng không cho phép bất cứ ai bao che, xin xỏ. Nếu có vi phạm, nhất định phải truy cứu trách nhiệm." Đến cuối năm đó, cả nước đã lập hồ sơ 164.000 vụ án kinh tế các loại, kết thúc 86.000 vụ, kết án 30.000 người, thu hồi số tiền 320 triệu nhân dân tệ.

Cuộc tấn công cao độ nhắm vào "Tám đại vương" ở Liễu Thị khiến các doanh nghiệp tư nhân trên toàn quốc sợ đến mức im hơi lặng tiếng, không còn ai dám công khai tranh giành nguyên liệu với doanh nghiệp nhà nước hay "làm loạn trật tự thị trường" nữa. Cùng lúc đó, một vụ án khác xảy ra tại Vũ Hán đã phơi bày sự tranh giành ở một lĩnh vực khác: lực lượng tư nhân đã vươn tay tới đội ngũ kỹ thuật trong các doanh nghiệp nhà nước, bắt đầu tranh giành công nghệ và nhân tài. Đây dĩ nhiên cũng là điều không thể dung thứ.

Tết Nguyên đán năm 1982, kỹ sư Hàn Khánh Sinh ở Vũ Hán phải trải qua trong tù, tội danh của ông là "Tội đầu cơ kỹ thuật".

Một năm trước đó, Hàn Khánh Sinh cùng ba kỹ sư khác từ Nhà máy 181 (doanh nghiệp nhà nước) đã thiết kế hai bản vẽ thiết bị lọc nước thải cho Nhà máy Nông cơ Cửu Phong – một doanh nghiệp hương trấn ở Vũ Hán, đồng thời soạn thảo hơn 20.000 chữ hướng dẫn kỹ thuật sản phẩm. Nhà máy nông cơ vốn đang trên đà phá sản đã hồi sinh nhờ sự giúp đỡ của nhóm người Hàn Khánh Sinh, ngay năm đó đã đạt lợi nhuận 50.000 nhân dân tệ. Giám đốc nhà máy là Hoàng Tòng Lương rất cảm kích những kỹ sư này, đến cuối năm đã thưởng cho mỗi người 600 tệ. Chính 600 tệ này đã đẩy Hàn Khánh Sinh vào tù. Sau khi lãnh đạo Nhà máy 181 biết chuyện, họ lập tức tố cáo lên cục công an. Hàn Khánh Sinh bị kết án với tội danh "lợi dụng kỹ thuật quốc gia để mưu lợi riêng", gọi là "Tội đầu cơ kỹ thuật". Bản án sơ thẩm tuyên phạt ông 300 ngày tù. Theo cách nói của Hàn Khánh Sinh thì "cứ như là mỗi ngày ngồi tù mất hai tệ".

Tại Trung Quốc lúc bấy giờ, người lén lút chuyển giao kỹ thuật cho doanh nghiệp tư nhân tuyệt đối không chỉ có một mình Hàn Khánh Sinh. Thời đó, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật trong nước được cho là có 8 triệu người, trong đó 1/3 đang nhàn rỗi. Các doanh nghiệp hương trấn mới nổi lại thiếu hụt nhân tài, vô cùng cần kỹ thuật. Thế là, rất nhiều kỹ sư của doanh nghiệp nhà nước vào cuối tuần được các chủ doanh nghiệp hương trấn đón đi, lén lút đến các nhà máy đó giúp làm nghiên cứu khoa học. Khi ấy có một danh từ riêng để gọi nhóm người này là "kỹ sư chủ nhật", nghĩa là từ thứ Hai đến thứ Bảy làm việc cho doanh nghiệp nhà nước, đến Chủ nhật lại được đón ra ngoại thành, cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật cho các nhà máy ở đó. Hàn Khánh Sinh chỉ là một người bình thường trong nhóm này. Vì là kỹ thuật viên đầu tiên trên cả nước bị kết án vì lý do đó, ông nhận được sự quan tâm rộng rãi và trở thành một sự kiện mang tính biểu tượng của năm.

Theo ghi chép của báo chí thời đó, ngày 2 tháng 3, Hàn Khánh Sinh và luật sư Dương Hà lần đầu ra tòa bào chữa, có hơn 300 người tham dự nghe tòa, phần lớn là những trí thức có hoàn cảnh tương tự ông. Phiên tòa bào chữa kéo dài suốt một ngày, công tố viên nói một đoạn, người bào chữa nói một đoạn, tổng cộng tranh luận mười vòng. Đây là sự minh bạch hiếm thấy trong giới tư pháp thời bấy giờ. Khi Dương Hà phát biểu, bà đã nhiều lần bị tiếng vỗ tay của khán giả ngắt quãng vì lời lẽ cảm động. Tháng 8 năm đó, Tòa án quận Vũ Xương, thành phố Vũ Hán tuyên Hàn Khánh Sinh vô tội. Công tố viên tiếp tục kháng cáo lên tòa trung cấp, đến tháng 12, Tòa án nhân dân trung cấp đổi phán quyết, tuyên Hàn Khánh Sinh có tội. Ngày hôm đó, gia đình Hàn Khánh Sinh mang theo đơn kháng cáo lên tàu hỏa đi Bắc Kinh khiếu kiện.

Đến đây, vụ án Hàn Khánh Sinh đã thu hút sự chú ý của cả nước. Tờ "Quang Minh Nhật báo" ở Bắc Kinh – nơi có ảnh hưởng lớn đối với giới trí thức và kỹ thuật viên – đã mở chuyên mục thảo luận về vụ việc này, thư của độc giả bay vào tòa soạn như những bông tuyết. Do luật pháp thời đó chưa hoàn thiện, việc xử lý vụ án này cơ bản không có thị phi đúng sai, mà dựa hoàn toàn vào sự cân nhắc của những người chấp pháp và cầm quyền. Vụ án Hàn Khánh Sinh được báo chí công khai thảo luận khiến dư luận sôi sục, đa số kỹ thuật viên cả nước đều không đồng tình với phán quyết của tòa án. Các nhà lãnh đạo trung ương đích thân hỏi thăm tiến triển vụ án, sự việc sau đó đột ngột xoay chuyển – những tình tiết kịch tính như thế này sẽ còn lặp đi lặp lại trong lịch sử doanh nghiệp sau này – 10 giờ tối ngày 3 tháng 2 năm 1983, thị trưởng thành phố Vũ Hán mang theo bản án và 600 tệ tiền hoàn trả đến tận nhà Hàn Khánh Sinh để xin lỗi.

Cái kết mang tính hài kịch của sự kiện Hàn Khánh Sinh không có nghĩa là những vụ việc tương tự đã được định đoạt. Trong nhiều năm sau đó, việc kỹ thuật viên trong các cơ quan nhà nước có được phép đi làm thêm hay không vẫn là một chủ đề dây dưa không dứt. Khoảng năm 1985, một kỹ sư trợ lý tên Trịnh Hồng Kiên tại Nhà máy Chăn ga gối đệm Thái Bình Dương Thượng Hải vẫn bị kết án tù vì làm thêm ngoài giờ. Mãi đến ngày 18 tháng 1 năm 1988, Quốc vụ viện mới ban hành văn bản riêng, tuyên bố "cho phép cán bộ khoa học kỹ thuật làm thêm", từ đó cuộc tranh luận này mới tạm thời lắng xuống. Thực tế, lúc bấy giờ, việc doanh nghiệp tư nhân thuê kỹ thuật viên đã trở thành một hiện tượng rất phổ biến và tự nhiên. Một điều nực cười và đáng suy ngẫm là, trong các cuộc thảo luận về việc kỹ thuật viên có được phép bán kỹ thuật hay không, chưa bao giờ có ai nghiêm túc thảo luận vấn đề này dưới góc độ pháp lý về sáng chế chức vụ, mặc dù quốc gia đã thành lập Cục Sáng chế và thông qua "Luật Sáng chế" từ năm 1980.①

"Sự kiện Tám đại vương" và "Sự kiện Hàn Khánh Sinh" đều gây chấn động vào năm đó. Nhìn từ góc độ người hậu thế: Quốc gia đang huy động bộ máy chính phủ để kiềm chế lực lượng tư bản ngoài hệ thống. Sự kiềm chế mang tính thể chế này sẽ tiếp tục diễn ra trong 20 năm tiếp theo. Đây không phải là hành vi quyết sách của một cá nhân nào, mà là logic tất yếu của quá trình cải cách doanh nghiệp Trung Quốc. Kể từ năm đầu tiên của cuộc cải cách, việc đặt ra các chính sách khác nhau dựa trên thân phận tài sản đã trở thành một chiến lược không thể nghi ngờ, nhiều khi nó thậm chí trở thành một kiểu giá trị quan cải cách. Năm 1981, khi cải cách doanh nghiệp nhà nước tiến triển yếu ớt, trong khi lực lượng tư nhân mới manh nha bắt đầu hình thành một nguồn lực kinh tế, thì việc bảo vệ bên này và kiềm chế bên kia đã trở thành một phản ứng chính sách mang tính bản năng.

Cần phải chỉ ra rằng, sự chỉnh đốn kinh tế đã khiến kinh tế tư nhân gặp phải đợt rét đậm đầu tiên, làm chậm đáng kể đà tăng trưởng của nó, đặc biệt là các khu vực tiên phong như phía nam Chiết Giang và đồng bằng sông Châu Giang đã phải chịu đựng những cú sốc và áp lực khổng lồ. Nhiều năm sau, có phóng viên hỏi Nhậm Trọng Di: "Trong thời gian chủ trì công việc tại Quảng Đông, ông có sai sót nào không?" Nhậm thẳng thắn nói: "Con người sao có thể không sai sót, năm 1982 suýt chút nữa là không qua nổi ải."

Nguyên nhân của việc "không qua nổi ải", nhìn từ bề ngoài, là do hoạt động buôn lậu ở vùng Hoa Nam đang trở thành phong trào. Khi đó, không ít huyện thị ở Quảng Đông xuất hiện tình trạng "ngư dân không đánh cá, công nhân không làm việc, nông dân không cày ruộng, học sinh không đi học", tất cả đổ xô ra dọc đường quốc lộ, ngõ hẻm để bán hàng lậu. Rất khó có dữ liệu chính xác để chứng minh những vụ buôn lậu này liên quan đến lưu lượng hàng hóa và số tiền giao dịch lớn đến mức nào, nhưng đó thực sự là cách tích lũy nguyên thủy của rất nhiều người. Thông qua "phong trào buôn lậu công cộng" phi pháp và không thiếu phần máu me này, vùng Hoa Nam (bao gồm khu vực Triều Sán phía nam Phúc Kiến và khu vực Ôn Châu, Thai Châu ven biển phía nam Chiết Giang) đã giành được nguồn vốn và dòng sản phẩm cho sự phát triển doanh nghiệp. Không ít doanh nhân sau này mở nhà máy đều có trải nghiệm "trốn sang Hong Kong" và buôn lậu trong thời kỳ đó. Trước thực trạng này, tháng 1 năm 1982, Trung ương ban hành thông báo khẩn, yêu cầu trấn áp mạnh mẽ các hoạt động buôn lậu. Tháng 2, Ban Bí thư Trung ương triệu tập hội thảo hai tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, chuyên đề nghiên cứu việc trấn áp buôn lậu và tham ô hối lộ. Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang chủ trì hội nghị, bầu không khí vô cùng nghiêm trọng, việc nghiên cứu về buôn lậu nhanh chóng chuyển thành sự phê phán đối với chính sách mở cửa. Tại hội nghị, có người nói: "Cuộc đấu tranh này là sự tấn công điên cuồng của giai cấp tư sản nhắm vào chúng ta một lần nữa." Có người nói: "Quảng Đông cứ phát triển thế này thì không đầy ba tháng là sụp đổ." Lại có người nói: "Thà chịu tổn thất về kinh tế, cũng phải đấu tranh đến cùng!"

Nhậm Trọng Di, người chủ trì công việc tại Quảng Đông, dưới áp lực đã buộc phải viết bản kiểm điểm đầu tiên trong đời. Tuy nhiên, ông vẫn đề xuất "bài trừ ô nhiễm chứ không bài trừ ngoại bang", chính sách mở cửa đã triển khai không thể thu hồi. Sự kiên trì nhất thời của ông đã giữ vững trận địa mở cửa của đặc khu. Không lâu sau, Quảng Đông ban hành các quy định địa phương mới, tiếp tục thúc đẩy mở cửa. Thâm Quyến bắt đầu cấp giấy phép xuất nhập cảnh nhiều lần cho thương nhân Hong Kong và Macau, miễn trừ những phiền phức khi qua cửa khẩu, đồng thời cho phép các nhà máy nước ngoài có quyền thuê và sa thải công nhân. Việc cho thuê đất ở đặc khu cũng dần đi vào quy củ, giá thuê đất công nghiệp mỗi mét vuông mỗi năm là 10~30 nhân dân tệ, đất thương mại là 70~300 nhân dân tệ, trung bình thấp hơn khoảng 10 lần so với Hong Kong. Tờ "South China Morning Post" bình luận trong bài xã luận: "Đây là điều mà tất cả thương nhân Hong Kong hằng mơ ước." Còn tờ "BusinessWeek" của Mỹ thì bình luận: "Chính sách của tỉnh Quảng Đông cho thấy, kể từ năm 1949, lần đầu tiên người nước ngoài được phép thuê đất dài hạn, tự định mức lương và sa thải công nhân tại Trung Quốc." Dường như để hưởng ứng quyết tâm mở cửa của Nhậm Trọng Di, tháng 10 năm đó, Viên Canh – chủ nhiệm khu phát triển Xà Khẩu – đã yêu cầu cấp dưới làm một tấm biển quảng cáo lớn, dựng trước cổng ban quản lý khu công nghiệp, trên đó viết: "Thời gian là tiền bạc, hiệu quả là sinh mệnh". Câu khẩu hiệu này lúc đầu gây ra tranh cãi rộng rãi, nhưng chẳng bao lâu sau nó đã trở thành một kinh điển của cuộc cải cách Trung Quốc.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba