Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 286 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1978 Trung Quốc, trở lại (5)

❊ ❊ ❊

(Năm) Thà ngồi tù chém đầu, cũng phải chia đất cho hộ, thực hiện khoán sản

Năm 1978, sự kiện kinh tế trọng đại nhất của Trung Quốc không diễn ra ở các thành phố, mà lại ở một vùng nông thôn hẻo lánh, nghèo nàn. Điều này chẳng có gì lạ trong suốt 30 năm sau đó, bởi lẽ về sau, nhiều sự kiện làm thay đổi vận mệnh đất nước đều không hề được lên kế hoạch trước, mà đều bùng phát một cách bất ngờ tại những nơi xa xôi, bởi những con người vô cùng bình thường.

Đêm ngày 24 tháng 11 năm ấy, trong một túp lều tranh rách nát tại đội sản xuất Tiểu Cương, huyện Phượng Dương, tỉnh An Huy, 18 người nông dân quần áo cũ kỹ, mặt mày vàng vọt, dưới ánh đèn dầu leo lắt, đã đối diện với một bản khế ước và lần lượt run rẩy điểm chỉ bằng máu. Ai nấy đều thề rằng: "Thà ngồi tù chém đầu, cũng phải chia đất cho hộ, thực hiện khoán sản". Bản khế ước khoán sản này sau đó được lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Trung Quốc, được coi là "phát súng đầu tiên" của cuộc cải cách nông thôn Trung Quốc.

Trước năm 1978, chế độ công xã nhân dân đã thực hiện hơn 20 năm, trói chặt nông dân cả nước vào mảnh đất. Những bất cập của kiểu "ăn cơm nồi chung" bộc lộ rõ rệt, hiệu suất nông nghiệp thấp kém đến mức khiến nông dân không thể sống nổi. Thôn Tiểu Cương khi đó nổi tiếng gần xa là "thôn ba dựa": "Ăn lương dựa vào trợ cấp, dùng tiền dựa vào cứu tế, sản xuất dựa vào vay vốn". Sau mỗi vụ thu hoạch mùa thu, hầu như nhà nào cũng phải đi ăn mày. Năm 1978, An Huy xuất hiện hạn hán từ mùa xuân, sản lượng lương thực mùa hè toàn tỉnh giảm mạnh. Nông dân Tiểu Cương trong đường cùng, bị ép phải đi theo con đường khoán sản đến hộ. Chế độ khoán sản tỏ ra vô cùng linh nghiệm, ngay năm sau thôn Tiểu Cương đã đạt được vụ mùa bội thu, lần đầu tiên nộp đủ lương thực cho nhà nước và trả được nợ. Dưới sự chủ trì mạnh mẽ của Bí thư Tỉnh ủy An Huy khi đó là Vạn Lý, kinh nghiệm khoán sản của thôn Tiểu Cương đã được phổ biến khắp toàn tỉnh chỉ sau một đêm. Kể từ đó, cuộc cải cách nông thôn Trung Quốc với tên gọi "Chế độ trách nhiệm liên kết sản xuất hộ gia đình" nhanh chóng lan rộng ra cả nước, mang lại những thay đổi được thế giới công nhận cho nông thôn Trung Quốc.

Ý nghĩa của việc khoán sản đến hộ là vô cùng to lớn. Nó giúp nông dân Trung Quốc thoát khỏi chế độ công xã nhân dân vốn kìm hãm tính tích cực lao động, từ đó giải phóng sức sản xuất, giải quyết tận gốc vấn đề lương thực của Trung Quốc. Ở một khía cạnh khác, nó giải phóng nông dân khỏi sự ràng buộc của ruộng đất. Tại các vùng duyên hải Đông Nam, nơi đất đai thiếu hụt nghiêm trọng nhưng tư duy lại đi trước một bước, một lượng lớn dân cư nhàn rỗi bắt đầu rời bỏ đất đai. Họ tự nhiên chuyển sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp để tìm kiếm cơ hội sinh tồn. Sự xuất hiện của nhóm người này đã trực tiếp dẫn đến "sự trỗi dậy bất ngờ" của các doanh nghiệp hương trấn. Theo một nghĩa nào đó, sự tăng trưởng khổng lồ của các công ty tư nhân Trung Quốc cũng có thể truy nguyên nguồn gốc logic từ đêm đông ấy tại thôn Tiểu Cương.

Nếu nói chế độ khoán sản của thôn Tiểu Cương là một cuộc cách mạng, thì cũng trong năm 1978, cách đó vài trăm cây số tại thôn Hoa Tây, tỉnh Giang Tô, một cuộc cải cách nông thôn khác cũng đang diễn ra. Khác với Tiểu Cương, đây là một nền kinh tế tập thể biến dị từ cơ thể của công xã nhân dân. Nó đại diện cho một mô hình công ty dân doanh khác, trong một thời gian dài được chính phủ công nhận và thực sự phát triển sức sản xuất.

Thôn Hoa Tây từ những năm 60 của thế kỷ 20 đã là điển hình toàn quốc về "nông nghiệp học Đại Trại". Ngô Nhân Bảo đã làm Bí thư Đảng ủy thôn này suốt 48 năm, một kỷ lục khó tin. Ông vừa là lãnh đạo chính quyền cơ sở nông thôn, vừa là doanh nhân điều hành công ty làng xã. Vai trò kép này giúp ông nhiều lúc xoay xở khéo léo, nhưng cũng có lúc đối mặt với những nan đề cực hạn. Vận mệnh vui buồn đan xen này sẽ xuyên suốt cả sự nghiệp cải cách của ông.

Năm xưa, thôn Hoa Tây trở thành đại đội mẫu mực về "nông nghiệp học Đại Trại" nổi tiếng cả nước. Ngô Nhân Bảo nhờ đó từng làm Bí thư Huyện ủy Giang Âm. Ở vùng Giang Chiết, địa vị và phong quang của thôn Hoa Tây có thể sánh ngang với Đại Trại, còn Ngô Nhân Bảo thì hiển nhiên là cán bộ tốt kiểu "Trần Vĩnh Quý". Trên tờ Nhân dân Nhật báo ngày 26 tháng 10 năm 1975, phóng viên Tân Hoa Xã từng dùng những dòng đầy nhiệt huyết để miêu tả thôn Hoa Tây: "Đại đội Hoa Tây nghiêm túc học Đại Trại 11 năm, trước đây sản lượng lương thực mỗi mẫu vượt một tấn, năm nay có thể đạt 2400 cân... Đồng chí Ngô Nhân Bảo đưa ra 5 yêu cầu cho bản thân... thứ tư là 80% sức lực dùng vào nông nghiệp, 10% tài lực địa phương dùng vào cơ giới hóa nông nghiệp, đưa các ngành nghề vào quỹ đạo lấy nông nghiệp làm gốc; thứ năm là tiếp tục làm tốt 64 đại đội tiên tiến, đồng thời giúp đỡ 6 công xã lạc hậu đuổi kịp. Ngoài ra, còn phải xây dựng đội ngũ lý luận 1 vạn người, đội ngũ khoa học kỹ thuật 1 vạn người. Ông còn giảng cho đại biểu toàn tỉnh về cải tạo đất, trị thủy, bố trí giống cây trồng, bón phân mùa thu, san phẳng ruộng đất. Ông biên soạn bản đồ quy hoạch của mình thành một bài thơ: Chín mươi vạn nhân dân lòng hướng Đảng, bảy mươi vạn mẫu ruộng thành ô, sáu vạn đồi núi khoác áo mới, năm nghề phát triển sáu súc vượng, xã viên ai nấy đều hân hoan".

Những bản tin như vậy tràn ngập các dữ liệu nghe chừng xác thực và lấp lánh, từng khiến nhà văn 81 tuổi Diệp Thánh Đào vô cùng xúc động. Người con của Giang Âm này đã viết một bài thơ ca ngợi dài, trong đó có câu: "Nhân Bảo đồng chí chúng Giang Âm, anh hùng nghiệp tích gánh trên vai, lại nghĩ ngàn huyện khắp cả nước, ai được như Giang Âm chăng". Nhưng trên thực tế, trong khi Ngô Nhân Bảo cao giọng học Đại Trại, ông lại đang làm những công việc "không thể lộ diện". Ngay từ năm 1969, ông đã điều 20 người lén lút mở một xưởng ngũ kim nhỏ trong thôn. "Lúc đó tuyệt đối không được để bên ngoài biết, vì đang là thời điểm cắt đuôi chủ nghĩa tư bản mà", Ngô Hiệp Ân, con trai thứ tư của Ngô Nhân Bảo, người sau này kế nhiệm cha làm Bí thư Đảng ủy thôn Hoa Tây, hồi tưởng lại. "Trên đồng cờ đỏ phấp phới, loa đài vang dội, cán bộ kiểm tra vừa đi khỏi, chúng tôi quay người lại vào xưởng. Tại sao mạo hiểm làm công nghiệp? Vì làm ruộng thực sự không kiếm được tiền. Lúc đó cả thôn vắt kiệt sức lực, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 24 vạn tệ, trong khi xưởng ngũ kim chỉ dùng 20 người, ba năm sau đã đạt sản lượng 24 vạn tệ". Năm 1978, Ngô Nhân Bảo kiểm kê gia sản thôn Hoa Tây, tổng cộng có tài sản cố định 100 vạn tệ, tiền gửi ngân hàng 100 vạn tệ, ngoài ra còn dự trữ lương thực đủ dùng ba năm. Trong hàng ngàn làng quê cả nước, đây có thể gọi là giàu có bậc nhất. Thời đó, một bao thuốc lá giá 0,2 tệ, tổng giá trị sản xuất công nông nghiệp toàn huyện Giang Âm cũng chỉ vài trăm triệu tệ mà thôi.

Cứ như vậy, Ngô Nhân Bảo cải tạo quê hương mình bằng một cách rất đặc biệt. Ngày 8 tháng 12 năm 1978, Nhân dân Nhật báo đăng tin về thôn Hoa Tây ở vị trí trang nhất, tiêu đề là "Nông dân yêu mến chủ nghĩa xã hội như thế này", đồng thời đính kèm bài viết của "Bình luận viên báo này" với tựa đề "Kinh nghiệm của Hoa Tây nói lên điều gì". Đây là bản tin cấp cao nhất của "cơ quan truyền thông số 1 Trung Quốc" dành cho nông thôn trong năm đó. Thế nhưng, tại tỉnh Giang Tô và vùng Giang Âm, Hoa Tây bị giễu cợt là "đại đội khoác lác", còn có người viết đơn tố cáo lên trung ương rằng "thôn Hoa Tây là điển hình giả". Trong cơn sóng gió ấy, Ngô Nhân Bảo kỳ diệu thoát khỏi những mũi tên ám hại. Chức "Bí thư Huyện ủy Giang Âm" của ông bị tước bỏ sau một lần tố cáo, nhưng những xưởng nhỏ ông gây dựng tại thôn Hoa Tây vẫn âm thầm vận hành dưới lòng đất. Những xưởng ngũ kim lén lút, không được bảo hộ này đã trở thành phôi thai cho các doanh nghiệp tập thể hương trấn làm bùng cháy cả Trung Quốc sau này.

Nếu mở rộng tầm nhìn, không khó để nhận ra rằng vào thời điểm đó, Ngô Nhân Bảo thực ra không hề cô đơn. Tại Đại Khâu Trang, Thái Công Trang, huyện Tĩnh Hải, Thiên Tân ở phía Bắc, một Bí thư chi bộ thôn tên là Vũ Tác Mẫn cũng lén lút mở một xưởng thép cán nguội trong thôn. Đại Khâu Trang vốn là thôn nghèo nổi tiếng, địa phương có câu vè: "Thà ăn cám ba năm, có con gái không gả về Đại Khâu Trang". Không ai ngờ được mười năm sau nơi đây lại trở thành "thôn đệ nhất thiên hạ" giàu có một thời. Còn ở vùng Giang Chiết vốn có truyền thống công nghiệp, một loạt xưởng công nghiệp nhỏ—dù không ai thống kê chính xác, nhưng nếu dùng con số "hàng ngàn" thì chắc cũng không quá xa sự thật—đã lác đác mọc lên. Tại Chiết Giang, bên bờ sông Tiền Đường, huyện Tiêu Sơn, xưởng máy nông nghiệp do Lỗ Quán Cầu sáng lập đã lặng lẽ kỷ niệm 10 năm thành lập.

Tại đây, chúng tôi phải nhắc nhở độc giả một sự thật: Sự trưởng thành của các công ty dân doanh Trung Quốc ngay từ đầu đã có hai nguồn gốc, một là chính quyền cơ sở nông thôn và các tổ chức doanh nghiệp tập thể kiểu Hoa Tây, hai là các doanh nghiệp tự khởi nghiệp kiểu xưởng của Lỗ Quán Cầu. Trong một thời gian dài về sau, Ngô Nhân Bảo và Lỗ Quán Cầu là "cặp song tinh" chói lọi nhất của doanh nghiệp hương trấn, nhưng điểm xuất phát của họ lại cách xa nhau. Người trước luôn dựa vào cơ thể chính quyền cấp thôn, còn sự trỗi dậy của người sau phần lớn là sự sáng tạo cá nhân. Sự khác biệt này lúc đầu không dễ thấy, thậm chí trong thời gian dài, ngay cả bản thân họ cũng không nhận ra. "Doanh nghiệp hương trấn" luôn là khái niệm chung mà họ sử dụng, cho đến khi quyền sở hữu tài sản doanh nghiệp trở thành vấn đề, vận mệnh của họ mới bắt đầu rẽ sang những hướng khác nhau, đó đương nhiên là chuyện của sau năm 1990.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba