Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 314 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1987 Kỷ nguyên doanh nhân

❊ ❊ ❊

"Bạn tựa như ngọn lửa trong mùa đông ấy,

Ngọn lửa rực cháy sưởi ấm lòng tôi."

—— Phí Tường: "Ngọn lửa trong mùa đông ấy"

Mã Thắng Lợi, giám đốc Nhà máy Giấy Thạch Gia Trang tại Hà Bắc, đã treo một tấm biển bằng đồng trước cổng nhà máy, bên trên khắc năm chữ lớn: "Giám đốc Mã Thắng Lợi". Ở các doanh nghiệp quốc doanh thời bấy giờ, đây là một chuyện khó tin, nhưng vì ông ấy là "Mã Thắng Lợi", nên chẳng ai cảm thấy có gì không thỏa đáng. Mã Thắng Lợi khi đó là vị giám đốc nổi tiếng nhất Trung Quốc.

Hai năm trước đó, Mã Thắng Lợi trở nên nổi tiếng nhờ việc nhận thầu. Năm 1984, Nhà máy Giấy Thạch Gia Trang cũng giống như nhiều doanh nghiệp quốc doanh lâu đời tại địa phương, rơi vào cảnh khó duy trì. Nhà máy với hơn 800 công nhân này đã thua lỗ liên tiếp ba năm. Đầu năm, cấp trên giao chỉ tiêu lợi nhuận 170.000 tệ, nhưng vị giám đốc nhậm chức chưa lâu lại chần chừ không dám cam kết. Mã Thắng Lợi vốn là trưởng phòng nghiệp vụ của nhà máy. Ngày 28 tháng 3, ông dán một "tờ đại tự báo" trước cổng nhà máy với tiêu đề "Quyết tâm với ban lãnh đạo mới", đề nghị được nhận thầu nhà máy giấy, cam kết cuối năm nộp ngân sách 700.000 tệ lợi nhuận, lương công nhân tăng gấp đôi, "nếu không đạt mục tiêu, nguyện chịu sự trừng phạt của pháp luật". Hành động táo bạo mang tính kịch tính này đã gây chấn động Thạch Gia Trang. Nửa tháng sau, thị trưởng Vương Bảo Hoa tổ chức "hội nghị chất vấn" với 160 người tham dự. Sau khi nghe Mã Thắng Lợi diễn thuyết về phương án nhận thầu, ông Vương lập tức quyết định giao nhà máy cho ông.

Xuất thân từ trưởng phòng nghiệp vụ, Mã Thắng Lợi tập trung công sức vào cơ cấu sản phẩm và khích lệ bán hàng. Nhà máy sản xuất giấy vệ sinh dùng trong gia đình, Mã Thắng Lợi dựa theo nhu cầu thị trường, thay đổi loại "cuộn lớn" ban đầu thành sáu quy cách khác nhau, màu sắc cũng từ một loại tăng thành ba loại, đồng thời nghiên cứu ra "giấy vệ sinh có hương thơm". Để khuyến khích nhân viên kinh doanh mở rộng thị trường, Mã Thắng Lợi thiết lập "thưởng khai thác khách hàng mới", quy định mỗi khi mở thêm một khách hàng lớn sẽ thưởng mười tệ, khách hàng nhỏ thưởng năm tệ. Những biện pháp này khiến nhà máy vốn như vũng nước đọng lập tức tràn đầy sức sống. Tháng đầu tiên nhận thầu, nhà máy đạt lợi nhuận 210.000 tệ, nhiều hơn cả chỉ tiêu 170.000 tệ của cả năm trước. Hết năm đầu nhận thầu, Mã Thắng Lợi hoàn thành 1,4 triệu tệ lợi nhuận. Qua báo chí tuyên truyền, "Mã nhận thầu" lập tức nổi tiếng toàn quốc. Khi ấy, Bộ Hâm Sinh - người bốn năm trước từng được dựng làm "điển hình cải cách" - đã bước vào giai đoạn xế chiều. Cải cách doanh nghiệp quốc doanh đang gặp muôn vàn khó khăn, rất cần một huyền thoại mới "nhận thầu là linh nghiệm". Sự xuất hiện đúng lúc của Mã Thắng Lợi đã bù đắp cho nhu cầu này. Thí điểm của ông cho mọi người thấy sức hút của việc nhận thầu doanh nghiệp. Trong một thời gian, "học tập Mã Thắng Lợi" trở thành trào lưu toàn quốc. Tư duy cải cách của ông được tổng kết thành "Ba mươi sáu kế" và "Bảy mươi hai phép biến hóa", chế độ nhận thầu trở thành phương thuốc linh nghiệm giúp doanh nghiệp quốc doanh thoát khỏi khốn cùng.

Ngày 26 tháng 7 năm 1985, các báo trên toàn quốc đều đăng tải bài thông tấn dài của Tân Hoa Xã với tiêu đề "Vị giám đốc tốt luôn nghĩ đến lợi ích quốc gia và nhân dân: Mã Thắng Lợi". Giống như Bộ Hâm Sinh, Mã Thắng Lợi nhanh chóng trở thành nhân vật tin tức nóng hổi. Ông đi diễn thuyết khắp nơi, xuất bản sách, nhận đủ loại vinh dự. Chính quyền các tỉnh như Hà Bắc, Sơn Đông còn phát động phong trào "Học tập đồng chí Mã Thắng Lợi". So với Bộ, Mã Thắng Lợi rõ ràng có tố chất của một doanh nhân hiện đại hơn. Nhà máy của ông liên tục tăng trưởng lợi nhuận qua các năm: năm 1985 đạt 2,8 triệu tệ, năm 1986 là 3,2 triệu tệ. Năm 1987, Mã Thắng Lợi đang ở thời kỳ đỉnh cao đã công bố một quyết định gây phấn khích: ông sẽ thành lập "Tập đoàn Doanh nghiệp Giấy Mã Thắng Lợi Trung Quốc", bắt đầu từ nay sẽ lần lượt nhận thầu 100 doanh nghiệp giấy tại 20 tỉnh thành trên cả nước.

Đề xuất này của ông trở thành tin tức doanh nghiệp bùng nổ nhất năm đó. Đây thực sự là một ý tưởng khổng lồ đầy khích lệ, thể hiện rõ khí phách hùng tráng của thế hệ cải cách mới cũng như sức mạnh ma thuật mà chế độ nhận thầu sắp lan tỏa. Hơn nữa, đối với nhiều nhà máy giấy địa phương đang thoi thóp, việc được quy về dưới lá cờ của Mã Thắng Lợi rõ ràng là cơ hội sống sót tốt nhất. Sau khi đề xuất của Mã Thắng Lợi lan truyền, điện tín từ khắp nơi gửi về yêu cầu ông đến nhận thầu và đấu thầu bay tới như tuyết rơi. Doanh nghiệp đầu tiên đăng ký là Nhà máy Giấy Hà Trạch ở Sơn Đông. Khi nhóm nhận thầu của Mã Thắng Lợi đến nơi, hàng nghìn thị trưởng, bí thư và giám đốc các doanh nghiệp chủ chốt từ 10 huyện thị tại khu vực Hà Trạch đã tề tựu đông đủ để lắng nghe báo cáo nhận thầu mang tính thuyết giáo của Mã Thắng Lợi. Ông tuyên bố, cơ sở nhận thầu là 370.000 tệ; nếu tăng lợi nhuận dưới 100.000 tệ, Mã Thắng Lợi và nhà máy Hà Trạch sẽ chia theo tỷ lệ 2-8; nếu tăng trên 100.000 tệ, hai bên chia theo tỷ lệ 3-7; thời hạn nhận thầu ba năm, khiến lợi nhuận tăng gấp ba lần. Bài diễn thuyết của Mã Thắng Lợi bị những tràng pháo tay nhiệt liệt nhấn chìm và ngắt quãng. Trong ánh mắt ngưỡng mộ đầy kính trọng của mọi người, Mã Thắng Lợi đứng trong vòng hào quang tựa như một vị thần có khả năng "điểm đá thành vàng". Phóng viên Qua Hồng trong bài báo "Tân truyền về 'Mã nhận thầu'" đã mô tả: "Mã Thắng Lợi làm báo cáo không bao giờ cầm bản thảo, không đọc theo sách vở. Ông nói cười thoải mái, lời lẽ hài hước dí dỏm. Trong và ngoài hội trường im phăng phắc, người nghe mê mẩn. Bài báo cáo kéo dài ba tiếng đồng hồ mà không một ai rời khỏi chỗ, có người nhịn tiểu cũng không dám đi vệ sinh."

Cảnh tượng như vậy liên tục lặp lại trong hơn nửa năm sau đó. Mã Thắng Lợi không ngừng nghỉ chạy đôn chạy đáo khắp cả nước. Mỗi nơi ông đến đều trở thành tin tức đầu trang, việc nhận thầu của ông trở thành một màn trình diễn cải cách đầy tính nghi thức. Từ chính phủ đến doanh nghiệp, từ truyền thông đến công nhân, ai nấy đều khao khát thay đổi tình trạng khó khăn hiện tại, và Mã Thắng Lợi dường như đã trở thành chiếc phao cứu sinh thần kỳ. Hết lần này đến lần khác diễn thuyết, từng nhà máy nhận thầu, từng hợp đồng ký kết, đến đầu năm 1989, số doanh nghiệp quy về dưới quyền ông đã lên tới hàng chục. Đó đều là những nhà máy giấy quy mô nhỏ, hiệu quả kém. Mã Thắng Lợi đã thu nhận tất cả vào sổ sách mà không hề thực hiện bất kỳ cuộc khảo sát hay đánh giá nào. Có lần đến tỉnh Quý Châu, phóng viên Tân Hoa Xã đã ghi lại "hiệu suất làm việc" như cơn lốc của ông với sự kính trọng: tối 26 đến Quý Dương; cả ngày 27 làm báo cáo cho cán bộ doanh nghiệp tỉnh Quý Châu; 28 đến Nhà máy Giấy Quý Dương đàm phán việc nhận thầu và xem xưởng; 29 ký hợp đồng, cam kết năm sau đạt lợi nhuận 1 triệu tệ, ba năm trả hết nợ, giá trị sản lượng tăng gấp đôi. Mã nhậm chức giám đốc Nhà máy Giấy Quý Dương, biến nơi đây thành doanh nghiệp thứ sáu trong tập đoàn mà ông dự định. Một bài bình luận trên trang nhất của tờ "Quý Châu Vãn báo" đã thán phục: "Nhịp điệu tựa cơn lốc này tự thân nó đã là một khúc ca cải cách, chẳng phải sao? Nếu đổi lại là những đồng chí khác, không biết phải nghiên cứu bao nhiêu ngày, thậm chí cả năm trời! Thế nhưng đồng chí Mã Thắng Lợi lại ra quyết định trong vòng 48 giờ, điều này không thể không tạo ra một cú sốc mạnh mẽ cho chúng ta."

Không ai suy ngẫm về tính khả thi cũng như rủi ro kinh doanh tiềm ẩn của kiểu nhận thầu "cơn lốc" này. Không có khảo sát thực địa nghiêm túc, cơ sở nhận thầu đầy tùy hứng, không có sự tích hợp nguồn lực, không có sự hỗ trợ về quản lý, nhân tài và kỹ thuật, cũng không có chiến lược kinh doanh tập đoàn hóa. Việc nhận thầu của Mã Thắng Lợi là một kiểu gộp chung đơn giản, đôi khi thậm chí mang màu sắc lý tưởng hóa khó hiểu. Khi đưa tin về chuyến khảo sát của Mã Thắng Lợi tại Chiết Giang, tờ "Hàng Châu Nhật báo" viết: "Đa số doanh nghiệp mà Mã Thắng Lợi khảo sát đều là doanh nghiệp thua lỗ. Ông vô cùng cảm thông và quan tâm đến hoàn cảnh của họ. Ông nói, cải cách nên thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, càng khó khăn, càng thua lỗ, doanh nghiệp càng khó sống thì chúng ta lại càng phải giúp đỡ và hỗ trợ." Không nghi ngờ gì nữa, những phát ngôn như vậy khiến người ta đầy ắp ảo tưởng. Giám đốc một nhà máy giấy thua lỗ ở huyện Lâm An đã ba lần đến Hàng Châu xin gặp Mã Thắng Lợi, ông ta còn treo cả khẩu hiệu "Kiên quyết yêu cầu giám đốc Mã Thắng Lợi nhận thầu nhà máy chúng tôi" ngay trong xưởng. Khí phách của Mã Thắng Lợi còn khơi dậy nhiệt huyết cải cách của nhiều người. Khi ông đến Hàng Châu nhận thầu doanh nghiệp, một giám đốc địa phương đã đăng một bài thơ trào phúng trên báo: "Trên thành Hàng Châu cắm cờ trắng, từ Hà Bắc đến Mã Thắng Lợi, Tiền Đường xưa nay nhiều anh kiệt, quyết đấu một phen mới phục lòng."

Từ tháng 11 năm 1987 đến tháng 1 năm sau, Mã Thắng Lợi "đêm ngày vất vả" (cụm từ ông dùng trong cuốn tự truyện "Phong vũ Mã Thắng Lợi"), trong vòng chưa đầy hai tháng đã nhận thầu 27 nhà máy giấy. Ngày 19 tháng 1 năm 1988, "Tập đoàn Doanh nghiệp Giấy Mã Thắng Lợi Trung Quốc" được thành lập trong tiếng chiêng trống vang dội. Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ tại Bắc Kinh và Tỉnh trưởng tỉnh Hà Bắc cùng tham dự lễ thành lập. Trước đó bốn ngày, tờ "Nhân dân Nhật báo" đăng tin giám đốc Nhà máy Áo sơ mi Hải Diêm là Bộ Hâm Sinh bị miễn nhiệm. Sự thay thế cũ mới của các "nhân vật điển hình" khiến người ta hoa mắt.

Thế nhưng, điều không ai ngờ tới là sự sụp đổ của thần thoại họ Mã lại diễn ra nhanh hơn cả sự suy tàn của người tiền nhiệm. Chỉ bốn tháng sau, truyền thông Chiết Giang đưa tin ông nhận thầu Nhà máy Giấy Phổ Giang, Chiết Giang bị "thất bại"; tháng 7, Quý Châu đưa tin "Nhà máy Giấy Quý Dương sau khi Mã Thắng Lợi nhận thầu rơi vào cảnh khó khăn"; tháng 8, Nhà máy Giấy Bồng Lai, Yên Đài chấm dứt hợp đồng với Mã Thắng Lợi vì thua lỗ; tháng 9, "Nhân dân Nhật báo" đăng bài bình luận "Suy ngẫm từ sự thất bại của Mã Thắng Lợi", lần đầu tiên đặt "sự thất bại của Mã Thắng Lợi" ngang hàng với "sự thăng trầm của Bộ Hâm Sinh". Hiệu ứng quân bài domino đáng sợ đã xảy ra. Đến cuối năm, Mã Thắng Lợi tuyên bố dừng tiếp nhận doanh nghiệp mới, từ nay không kinh doanh liên tỉnh nữa. Lúc này, đã có 16 nhà máy giấy lần lượt rút khỏi tập đoàn.

Trong lịch sử doanh nghiệp, Mã Thắng Lợi được gọi là "Người nhận thầu doanh nghiệp số một". Ông không phải là giám đốc đầu tiên thử nghiệm chế độ nhận thầu, nhưng lại là người đầu tiên nhận được sự chú ý của cả nước nhờ việc nhận thầu. Đến khoảng năm 1987, chế độ nhận thầu trở thành phương thuốc linh nghiệm để cứu vãn doanh nghiệp quốc doanh. Tháng 8 năm đó, Ủy ban Kinh tế Nhà nước, Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tổng Công hội toàn quốc cùng triệu tập hội nghị đẩy mạnh toàn diện chế độ giám đốc chịu trách nhiệm. Hội nghị chỉ ra rằng, tất cả các doanh nghiệp công nghiệp vừa và lớn trên toàn quốc trong năm 1987 phải phổ biến thực hiện chế độ giám đốc chịu trách nhiệm, coi đây là chế độ căn bản của doanh nghiệp để đẩy nhanh tốc độ cải cách. Theo số liệu công bố, tính đến cuối tháng 6 năm 1987, các doanh nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu toàn dân thực hiện chế độ giám đốc chịu trách nhiệm chiếm 63,9% tổng số doanh nghiệp cùng loại. Cuộc cải cách này đã chuyển từ thí điểm sang giai đoạn thực hiện toàn diện.

Cơn lốc nhận thầu và giấc mơ tập đoàn hóa của Mã Thắng Lợi chính là xuất hiện trong bối cảnh vĩ mô như vậy. Đây là cuộc thử nghiệm giàu trí tưởng tượng nhất của các nhà quản lý doanh nghiệp quốc doanh thời kỳ đó. Nó cố gắng thông qua nhận thầu, tức là phương thức thị trường hóa, dùng sức của một người để cứu vãn hàng trăm doanh nghiệp thua lỗ. Mặc dù Nhà máy Giấy Thạch Gia Trang của Mã Thắng Lợi là một doanh nghiệp quốc doanh quy mô trung bình dưới một nghìn người, nhưng thành quả cải cách và tham vọng mà nó thể hiện đã khiến mọi người chấn động. Một nửa số nhà máy giấy mà Mã Thắng Lợi thu mua là doanh nghiệp tập thể địa phương, có nơi còn là doanh nghiệp hương trấn. Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp quốc doanh trong phong trào cải cách càng khiến tầng lớp hoạch định chính sách cảm thấy hài lòng. Ngay trong thời gian ông chạy đôn chạy đáo khắp cả nước, phóng viên truyền thông theo sát, quan chức chính phủ ngóng đợi, các nhà kinh tế học sử dụng đủ loại lý thuyết để diễn giải ý nghĩa cải cách và giá trị quảng bá của nó. Tuy nhiên, sự sụp đổ nhanh chóng của kế hoạch khổng lồ này lại khiến tất cả mọi người thất vọng tràn trề.

Các nhà bình luận sau này cho rằng, thất bại của Mã Thắng Lợi là một đòn giáng bất ngờ và nghiêm trọng vào quan điểm cải cách "cứ cải là linh", "cứ nhận thầu là sống".

Ngoài Mã Thắng Lợi, doanh nhân đáng nhớ nhất năm này chính là Lý Kinh Vĩ, người nổi tiếng chỉ sau một đêm nhờ "Nước ma phương Đông".

Tháng 11, tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ sáu (Lục vận hội) tổ chức ở Quảng Châu, lần đầu tiên xuất hiện cảnh tượng doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh cùng sân với các doanh nghiệp đa quốc gia. Lúc này, tỉnh Quảng Đông đã thể hiện phong thái người dẫn đầu trong công cuộc mở cửa đối ngoại. Hàng loạt doanh nghiệp vốn nước ngoài và công ty dân doanh kiểu mới mọc lên như nấm sau mưa. Trong bảy năm qua, Quảng Đông đã trực tiếp sử dụng 4,3 tỷ USD vốn nước ngoài, chiếm 66% tổng số cả nước, nhập khẩu tổng cộng 500.000 thiết bị (bộ), 700 dây chuyền sản xuất, kim ngạch xuất khẩu chiếm 1/7 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Việc tổ chức Lục vận hội trở thành thời cơ tốt nhất để các doanh nghiệp Quảng Đông phô diễn năng lực trước người dân cả nước.

Công ty Kiện Lực Bảo - cái tên gây chấn động tại Olympic Los Angeles hai năm trước - lúc này đang ở đỉnh cao phong độ. Để giành được danh hiệu "Đồ uống chỉ định tại Lục vận hội", Kiện Lực Bảo, khi đó đã là doanh nghiệp đồ uống lớn nhất toàn quốc, đã cạnh tranh gay gắt với Coca-Cola. Phía Coca-Cola sẵn sàng chi 1 triệu tệ, còn Lý Kinh Vĩ lập tức nâng giá lên 2,5 triệu tệ, cộng thêm tặng kèm 100.000 tệ đồ uống. Kết quả là Kiện Lực Bảo đạt được ý nguyện, còn Coca-Cola chỉ giành được quyền chỉ định cho đồ uống "kiểu Cola". Chi tiết này được giới truyền thông thời bấy giờ bàn tán rất lâu. Trong thời gian diễn ra đại hội, tại Trung tâm Thể thao Thiên Hà, Quảng Châu mới xây dựng, từ tường nhà cho đến những thứ nhỏ như ống nhổ, thùng rác, đâu đâu cũng tràn ngập quảng cáo của Kiện Lực Bảo. Cảnh tượng khoa trương nhất xuất hiện tại lễ bế mạc: tại lối vào hội trường ngày hôm đó, hơn 200 nhân viên đều được yêu cầu mặc trang phục thể thao đồng bộ in logo Ả Rập. Họ còn tặng cho mỗi người trong số 80.000 khán giả vào sân một chai đồ uống Kiện Lực Bảo. Phóng tầm mắt ra sân vận động hình tròn, chỗ nào cũng thấy lon đồ uống Kiện Lực Bảo, nơi đây gần như biến thành một đại dương màu cam đỏ.

Tại Lục vận hội, cuộc chiến quảng cáo giữa các doanh nghiệp đã nổ ra. Công ty Thuốc lá Mỹ - Anh dùng 1 triệu tệ và 3 triệu điếu thuốc để đổi lấy quảng cáo phía mặt sau vé tham quan thi đấu; Fuji Film cung cấp cho 1.200 phóng viên những chiếc "áo vest không gian" in quảng cáo; thẻ công tác và thẻ phóng viên bị chiếm mất bởi "Tài trợ bởi Công ty Polaroid Mỹ"; còn trên giấy phép thông hành xe cộ của đại hội thì in quảng cáo của "Cà phê Maxwell" và "Máy photocopy Xerox".

So với sự giàu có của các công ty đa quốc gia và Lý Kinh Vĩ, một số nhà máy đồ uống khác ở Quảng Đông lại vắt óc suy nghĩ theo cách khác. Ngày chung kết cử tạ, vận động viên Quảng Đông Hà Chước Cường - người xuất thân từ nghề chăn ngỗng - đã hai lần phá kỷ lục thế giới. Trước ống kính truyền hình trực tiếp, Hà đột nhiên lấy ra một lon "Nước ngọt Á Châu", hét lớn: "Nước ngọt Á Châu đã ủng hộ tôi!" Hành vi quảng cáo lộ liễu mà tuyệt vời này đã được truyền đi khắp cả nước qua Đài Truyền hình Trung ương. Thời bấy giờ, điều này không hề gây ra sự phản cảm, ngược lại, từ công chúng đến truyền thông đều tán thưởng không ngớt cho "chiêu trò" này của Nhà máy Nước ngọt Á Châu.

Sự thành công của Kiện Lực Bảo đã kích thích mạnh mẽ trí tưởng tượng của mọi người. Một nhóm doanh nhân đầy tham vọng ồ ạt tiến vào lĩnh vực đồ uống và thực phẩm. Năm 1987, gần như cùng lúc tại Quảng Đông và Chiết Giang, hai nhà máy thực phẩm bảo vệ sức khỏe ra đời, chúng sẽ cùng nhau thống trị thị trường này ở Trung Quốc trong mười năm tiếp theo.

Tháng 8, Hoài Hán Tân, 36 tuổi, mở Nhà máy Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Hoàng Giang tại thị trấn Hoàng Giang, huyện Đông Quản. Trước đó, ông từng là tài xế cho Ủy ban Thể thao thành phố Quảng Châu, câu chuyện huyền thoại của Lý Kinh Vĩ đã khơi dậy trong ông sự thôi thúc khởi nghiệp. Cha vợ của Hoài Hán Tân làm việc tại Bệnh viện Thể thao tỉnh Quảng Đông. Cách đó không lâu, ông đã nghiên cứu ra một loại dịch bổ dưỡng cho đội thể thao tỉnh Quảng Đông bằng cách trộn dịch chiết xuất từ gà và rắn để chữa chứng chán ăn và mất ngủ, kết quả thử nghiệm rất khả quan. Hoài Hán Tân mang công thức này cùng 50.000 tệ chạy đến thị trấn Hoàng Giang mở một nhà máy nhỏ.

Ngay khi sản phẩm còn chưa sản xuất hàng loạt thành công, Hoài Hán Tân đã học theo chiêu thức ban đầu của Lý Kinh Vĩ. Tháng 1 năm 1988, Ủy ban Thể thao Nhà nước tổ chức hội nghị bình chọn đồ uống thể thao và thực phẩm bổ sung dinh dưỡng chuyên dụng cho đoàn đại biểu Trung Quốc tham dự Olympic lần thứ 24 tại Quảng Châu. Hoài mang sản phẩm "Sinh vật kiện" (Sun God) chưa ra mắt thị trường đi vận động khắp nơi. Kết quả bình chọn được công bố, dung dịch uống Sinh vật kiện giành giải thực phẩm bổ sung dinh dưỡng chuyên dụng cho đoàn đại biểu Trung Quốc và Huy chương Vàng dinh dưỡng thể thao Trung Quốc. Mang theo vầng hào quang đó, Hoài Hán Tân bắt đầu hành trình chinh phục thị trường Trung Quốc. Để doanh nghiệp của mình mang hơi hướng hiện đại hơn, sau khi đoạt giải, Hoài Hán Tân thống nhất tên nhà máy, tên hàng hóa và nhãn hiệu đều là "Thái Dương Thần" (Sun God). Ông còn thuê công ty quảng cáo thiết kế bộ "Hệ thống nhận diện thương hiệu" (CI) đầu tiên của Trung Quốc. Thái Dương Thần mang lại cảm giác mới mẻ về hình ảnh và bao bì, vừa xuất hiện đã nổi bật hẳn so với các thương hiệu nội địa vốn tầm thường và thô sơ.

Đúng lúc Hoài Hán Tân đang nổi lên tại Quảng Đông, thì tại một con ngõ nhỏ ẩm thấp ở Hàng Châu, Tông Khánh Hậu, 47 tuổi, đã thành lập Nhà máy Thực phẩm trẻ em Oa Cáp Cáp. Ông là người Hàng Châu chính gốc, vẻ ngoài điềm đạm, không giỏi ăn nói, là người khiến người ta khó lòng ghi nhớ ngay từ cái nhìn đầu tiên. Thời trẻ, ông từng bị đưa về nông thôn, phơi muối trên đảo Chu Sơn, nung gốm trong xưởng trà ở Thiệu Hưng. Năm 1979, để con trai có thể trở về thành phố, người mẹ đang làm công nhân tại một nhà máy do trường học quản lý [Thời bấy giờ nhiều trường học tự mở "ngành nghề thứ ba", từ nhà máy dệt, nhà máy in, nhà máy tivi đến hiệu sách, ngư trường. Khoảng năm 1990, cả nước có 680.000 nhà máy do trường học quản lý, giá trị sản lượng hàng năm đạt 8,5 tỷ tệ] đã nghỉ hưu sớm, nhường lại "chỉ tiêu vị trí làm việc". Tông Khánh Hậu thay mẹ trở về Hàng Châu, làm công việc tiếp thị sách giáo khoa và bán kem. Dưới cái nắng gay gắt, ông thường một mình đạp xe ba bánh bán đủ loại hàng hóa nhỏ trước cổng trường tiểu học. Khoảng năm 1985, ông bắt đầu làm đại lý bán dung dịch uống phấn hoa cho một nhà máy thực phẩm bảo vệ sức khỏe, qua đó ông nhìn thấy tiềm năng của thị trường này. Một cơ hội tình cờ, khi đã là giám đốc bộ phận kinh doanh của nhà máy do trường quản lý, ông biết được một giáo sư tại Đại học Y dược Chiết Giang đã nghiên cứu ra một loại dung dịch dinh dưỡng cho trẻ em. Ông lập tức đến tận nơi bái phỏng và cuối cùng nhận được công thức. Đây là loại dung dịch uống chiết xuất từ nguyên liệu là long nhãn, táo đỏ, sơn tra, hạt sen... Tông Khánh Hậu đã thiết kế cho nó một câu quảng cáo thuận miệng: "Uống Oa Cáp Cáp, ăn cơm thật ngon".

Sự nghiệp của Hoài Hán Tân và Tông Khánh Hậu đều bắt đầu vô cùng suôn sẻ. Đó là thời đại hàng hóa khan hiếm nhưng nhu cầu ngày càng tăng cao, chỉ cần chất lượng tạm ổn, bao bì có chút đặc sắc, phương thức tiếp thị có chút đổi mới là có thể nhanh chóng giành được sự ưu ái của thị trường. Sau này Tông Khánh Hậu nhớ lại: lúc mở rộng thị trường toàn quốc, đến một thành phố, việc đầu tiên là gặp gỡ các tòa soạn báo, đài truyền hình địa phương, ký hợp đồng quảng cáo, sau đó là dội bom quảng cáo tới tấp. Chưa đầy một tháng, một thành phố đã được "đánh hạ". Nếu công ty đường rượu không hứng thú với sản phẩm, chúng tôi sẽ trốn trong một nhà nghỉ nhỏ, giở danh bạ điện thoại địa phương ra, gọi điện cho từng trung tâm thương mại, bách hóa, công ty phân phối quận huyện, chỉ hỏi một câu: "Ở đây các vị có bán dung dịch dinh dưỡng Oa Cáp Cáp không?". Đến ngày thứ ba, người của công ty đường rượu bắt đầu tìm kiếm Oa Cáp Cáp khắp nơi.

Đây gần như là kinh nghiệm chung của tất cả các công ty thành công thời bấy giờ, và nó sẽ cực kỳ hiệu quả trong hơn mười năm sau đó. Đến năm 1990, doanh thu của Oa Cáp Cáp đạt gần 100 triệu tệ, trong khi Thái Dương Thần đạt 240 triệu tệ, chiếm 63% thị phần thực phẩm bảo vệ sức khỏe toàn quốc, lập nên kỷ lục đáng kinh ngạc.

Tháng 9, Nhậm Chính Phi - người mười năm trước từng tham dự Đại hội Khoa học toàn quốc - lúc này đang ở Thâm Quyến. Ông thành lập một "công ty công nghệ dân doanh" mang tên Huawei, nhưng thực tế, ông vẫn hoàn toàn mù mờ về tương lai của chính mình. Trước đó, cuộc đời ông có thể dùng từ "xám xịt" để mô tả.

Ông sinh ra trong một gia đình đông con với bảy anh chị em, cha là một "phần tử dị biệt" từng làm việc trong nhà máy của Quốc Dân Đảng, vì thế cuộc sống luôn áp lực và nghèo khó. Nhậm Chính Phi nhớ lại: "Tôi thường thấy mẹ cứ đến cuối tháng lại đi vay mượ khắp nơi vài ba đồng để sống qua ngày, mà thường đi mấy nhà cũng chưa chắc vay được. Cho đến khi tốt nghiệp cấp ba tôi vẫn chưa được mặc áo sơ mi. Nhà tôi lúc đó hai ba người đắp chung một cái chăn, mà dưới tấm ga trải giường cũ kỹ lại là rơm rạ." Ba năm cấp ba, lý tưởng của Nhậm Chính Phi chỉ là được ăn một cái bánh bao bột trắng. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông gia nhập đơn vị binh chủng công trình cơ sở hạ tầng, vì kỹ thuật xuất sắc nên được trọng dụng, nhưng do vấn đề lịch sử của cha, ông không bao giờ được khen thưởng, cũng không thể gia nhập Đảng. Năm 1982, Trung Quốc thực hiện cắt giảm quân đội quy mô lớn, đơn vị binh chủng công trình bị giải thể, Nhậm Chính Phi xuất ngũ đến phương Nam, làm phó giám đốc một công ty điện tử. Trong một lần làm ăn, ông vô tình bị lừa và mất việc. Năm 1987, ông đã 43 tuổi, mắc bệnh tiểu đường nặng, tim cũng không tốt, nhưng vẫn chưa làm nên trò trống gì. Mùa thu năm đó, để mưu sinh nuôi gia đình, ông cùng năm người bạn góp vốn thành lập Công ty Huawei với vốn đăng ký 21.000 tệ, kinh doanh đại lý thiết bị chuyển mạch mô phỏng nhập khẩu từ Công ty Khang Lực, Hồng Kông.

Giống như tất cả những người khởi nghiệp cùng thời, Nhậm Chính Phi có một khởi đầu vô cùng khiêm tốn. Mười mấy năm trời hoang vu khiến một thế hệ không còn ở độ tuổi xuân sắc, họ bị năm tháng giễu cợt, bị khổ nạn mài giũa. Việc lăn lộn dưới đáy xã hội và sự tan vỡ của lý tưởng đã khiến họ có cái nhìn tỉnh táo đến tàn nhẫn về cuộc sống. Họ sở hữu tố chất như "loài sói", nếu số phận trao cho một cơ hội để đổi đời, họ sẽ dốc toàn lực để đánh cược một phen đầy hào khí. Nhậm Chính Phi là người ít nói, thường ngày ăn mặc xuề xòa, không có bất kỳ sở thích cá nhân nào. Ông là chuyên gia về viễn thông, trong lúc làm đại lý cho công ty Hồng Kông, ông bắt đầu âm thầm nghiên cứu tổng đài kỹ thuật số của riêng mình. Bốn năm sau đó vẫn là quãng thời gian gian nan và tẻ nhạt, đến năm 1991, công ty Huawei chỉ có hơn 20 nhân viên, Nhậm Chính Phi thường xuyên phải chạy đôn chạy đáo vì chuyện vay vốn. Sau này ông kể lại: "Nhiều năm liền, thứ tôi suy nghĩ mỗi ngày đều là thất bại, coi thường thành công, cũng chẳng có cảm giác vinh dự hay tự hào gì cả, mà chỉ có cảm giác khủng hoảng. Có lẽ chính vì vậy mà tôi mới sống sót được". Mãi đến năm 1992, khi tổng đài chương trình điều khiển kỹ thuật số quy mô lớn do ông nghiên cứu ra đời, số phận mới bắt đầu nở nụ cười muộn màng đầu tiên với ông.

Không lâu sau khi Nhậm Chính Phi mở công ty, vào ngày 26 tháng 11, chính quyền thành phố Thâm Quyến nơi ông đặt trụ sở đã trích ra một khu đất rộng 8588 mét vuông để đấu giá quyền sử dụng có thời hạn 50 năm. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc mới lấy đất đai làm hàng hóa để giao dịch. Truyền thông ghi chép lại rằng có 44 doanh nghiệp tham gia đấu giá, mức giá khởi điểm là 2 triệu nhân dân tệ, sau hơn 20 vòng đấu trong vòng 17 phút, Công ty Bất động sản Đặc khu Kinh tế Thâm Quyến đã trúng thầu với giá 5,25 triệu nhân dân tệ. Thử nghiệm này của Thâm Quyến nhận được sự quan tâm rộng rãi, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách Thể chế Nhà nước Lý Thiết Ánh đã bay đến Thâm Quyến để theo dõi quá trình đấu giá này. Một tháng sau, Đại hội đại biểu nhân dân tỉnh Quảng Đông thông qua "Điều lệ quản lý đất đai Đặc khu Kinh tế Thâm Quyến", quy định quyền sử dụng đất có thể được chuyển nhượng hoặc cho thuê có thu phí. Bốn tháng sau đó, Bắc Kinh thông qua "Dự thảo sửa đổi Hiến pháp", xóa bỏ hai chữ "cho thuê" trong điều khoản cấm cho thuê đất, quy định rằng "quyền sử dụng đất có thể được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật".

Vương Thạch, người lúc đó đang mải mê buôn bán văn kiện phê duyệt và chỉ tiêu ngoại hối tại Thâm Quyến, hiển nhiên đã chú ý đến tin tức xảy ra ngay bên cạnh mình. Ông nhận ra rằng, phương thức phát triển của công ty mình đã đi đến điểm nghẽn, buộc phải tìm kiếm ngành nghề mới, và ngành bất động sản sau khi chế độ đất đai được nới lỏng có thể sẽ là một sự nghiệp đầy hứa hẹn. Cũng chính vào lúc này, nhân vật biểu tượng của ngành bất động sản Trung Quốc sau này bắt đầu bước chân vào lĩnh vực địa ốc.

Trong rất nhiều trường hợp, "khả năng dự đoán chính xác" đối với doanh nhân là một thiên phú kỳ lạ. Giống như việc Vương Thạch nhìn thấy ánh bình minh của bất động sản trong cuộc đấu giá đất, tại Bắc Kinh, Liễu Truyền Chí cũng nhìn thấy hướng đi của máy tính cá nhân giữa chốn ồn ào.

Tại Trung Quan Thôn, những "chú chim" dậy sớm dường như đều sống khá ổn. Những công ty có tầm nhìn xa đều đặt cược tương lai của mình vào ngành công nghiệp máy tính đang trỗi dậy, điểm khác biệt là họ chọn sản phẩm khác nhau, dẫn đến số phận cũng khác nhau. Khi đó, công ty có độ nổi tiếng cao nhất ở Trung Quan Thôn là công ty Tứ Thông của Vạn Nhuận Nam. Trong lễ kỷ niệm ba năm thành lập, công ty đã long trọng trưng bày sản phẩm mới - máy đánh chữ MS-2401. Vạn Nhuận Nam dõng dạc nói: "Chúng ta không thể bỏ lỡ thời đại máy tính nữa". Trong mắt ông, máy đánh chữ điện tử sẽ là lựa chọn chủ lưu của thị trường máy tính Trung Quốc, và "máy đánh chữ Tứ Thông là một sáng kiến trong lịch sử văn hóa Trung Quốc".

Ngược lại, Liễu Truyền Chí của công ty Liên Tưởng, vốn có quy mô nhỏ hơn nhiều so với Tứ Thông của Vạn Nhuận Nam, lại không nghĩ như vậy. Lúc này, mỗi năm Liên Tưởng bán được hơn 6000 bộ Hán thẻ (thẻ hỗ trợ tiếng Trung) và làm đại lý bán hơn 1000 máy vi tính IBM, doanh thu đạt hơn 70 triệu nhân dân tệ, nhân viên công ty hơn một trăm người, đồng thời còn xây dựng mạng lưới hơn 1000 đại lý trên khắp cả nước. Thời điểm này, các công ty Hán thẻ trong nước ngày càng nhiều, đủ loại phiên bản và hệ thống xuất hiện tràn lan, Liên Tưởng bắt đầu rơi vào cuộc chiến giá cả. Chính vào lúc này, Liễu Truyền Chí nhạy bén nhận ra: "Thị trường máy tính Trung Quốc trong tương lai chắc chắn là thiên hạ của máy tính cá nhân, sớm muộn gì công ty cũng phải đi theo con đường này". Về nhận định này, Liễu Truyền Chí và các cộng sự đã xảy ra tranh cãi gay gắt. Các nhà khoa học trong công ty đều cho rằng Liên Tưởng đã có nền tảng thì nên dựa vào thực lực nghiên cứu của Viện Tính toán để đầu tư nghiên cứu máy tính lớn, gánh vác "trách nhiệm lịch sử" nâng cao trình độ nghiên cứu máy tính của Trung Quốc. Còn Liễu Truyền Chí thì kiên định: "Hướng đi tương lai của Liên Tưởng không phải do chúng ta định đoạt, mà là do người ta cần gì. Vì vậy, định hướng theo nhu cầu thị trường là tiền đề cho sự phát triển của Liên Tưởng". Thực tế sau này đã chứng minh, một Liễu Truyền Chí thực tế là đúng đắn, chính nhận định đó đã khiến Liên Tưởng trở thành công ty vĩ đại nhất ở Trung Quan Thôn.

Trong năm này, một quyết định quan trọng khác của Liễu Truyền Chí là rời xa IBM - sự hợp tan với "gã khổng lồ xanh" này sẽ trở thành một đường dây xuyên suốt trong sự nghiệp của ông. Khi đó, IBM, đơn vị gia nhập thị trường máy vi tính sớm nhất, đang ở thời kỳ đỉnh cao. Cổ phiếu của họ vào ngày 20 tháng 8 vượt mức 170 USD, lập kỷ lục lịch sử của công ty. Tất cả các công ty máy tính trên thế giới đều tung ra khẩu hiệu "tương thích với IBM" và coi đó là niềm vinh dự. Có lẽ đã quá chán ngấy việc các đồng nghiệp "đi nhờ xe", IBM quyết định nuốt trọn toàn bộ thị trường, họ mạnh mẽ tung ra dòng máy vi tính "P/S" mới. Dòng máy này hoàn toàn dựa trên hệ điều hành và chip tự sản xuất, các hệ thống phần mềm của người dùng khác đều không thể tương thích. IBM cố gắng thông qua chiến lược độc quyền này để thống trị thị trường máy vi tính. Chiến lược khép kín này là sai lầm nghiêm trọng nhất mà IBM phạm phải trong thập niên 80, nó dẫn đến việc hàng loạt công ty sản xuất máy tương thích thừa cơ xâm nhập. Công ty Intel vốn đang thoi thóp lập tức tuyên bố mở hệ thống nền tảng, những tên tuổi mới nổi như SUN và Microsoft cũng trỗi dậy ngay sau đó. Sự độc quyền theo chiều ngang của ngành công nghiệp PC bị đập tan, bắt đầu bước sang thời đại phân công theo chiều dọc.

Là đại lý lớn nhất của IBM tại Trung Quốc, Liễu Truyền Chí có lẽ là thương nhân Trung Quốc đầu tiên nhận ra sai lầm này. Chiến lược của IBM khiến tất cả hệ thống nhập liệu chữ Hán - bao gồm cả Hán thẻ của Liên Tưởng - không thể hoạt động trên máy của họ. Mùa thu năm đó, Liễu Truyền Chí xuống phía nam tới Thâm Quyến, mang về một chiếc máy tương thích tên là AST, ông tuyên bố chấm dứt hợp tác với IBM và chuyển sang làm đại lý bán AST. Sai lầm của một gã khổng lồ sẽ khai sinh ra một nhóm người khác. Sai lầm của IBM năm 1987 đã giúp Intel và Microsoft gây dựng đại nghiệp, còn ở Trung Quốc, Liên Tưởng đã đẩy AST trở thành sản phẩm máy vi tính thành công nhất. Ba năm sau, Liễu Truyền Chí thuận thế tung ra máy vi tính Liên Tưởng của riêng mình.

Ngay khi Coca-Cola và Kiện Lực Bảo "giao hỏa" trực diện tại Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ 6 ở Quảng Đông, những doanh nghiệp đa quốc gia khác cũng bắt đầu tiến vào Trung Quốc. Mặc dù nhiều người đã ngửi thấy triển vọng rộng lớn của thị trường Trung Quốc, nhưng không ít trong số họ vẫn phải trả giá cho sự cố chấp và thiếu hiểu biết của mình.

Năm nay, công ty thực phẩm lớn nhất nước Pháp là Danone đã đến Trung Quốc, sau này họ sẽ xuất hiện trong lĩnh vực đồ uống thực phẩm Trung Quốc với hình ảnh "kẻ thâu tóm công nghiệp". Tháng 8, Danone liên doanh với Công ty Sữa Quảng Châu, đầu tư 5,695 triệu USD thành lập doanh nghiệp sữa chua Danone Quảng Châu, nhưng vừa ra đời đã chịu thất bại thảm hại. Sữa chua Danone thuộc loại lên men vi khuẩn sống, có giá trị dinh dưỡng cao, nhưng chi phí khá đắt đỏ, mỗi chai bán lẻ hơn ba nhân dân tệ, không phải mức giá mà người tiêu dùng phổ thông thời bấy giờ có thể chấp nhận. Nghiêm trọng hơn, sữa chua vi khuẩn sống cần được bảo quản lạnh trong quá trình bán hàng. Một vị giám đốc kinh doanh của họ chạy đến con phố thương mại sầm uất nhất Trung Quốc - đường Nam Kinh ở Thượng Hải, chạy từ đầu này đến đầu kia, tất cả các cửa hàng thực phẩm trên toàn bộ đường Nam Kinh chỉ có duy nhất một cửa hàng có tủ đông. Vị giám đốc này sau đó nói rằng, số phận bi đát của sữa chua Danone đã được định đoạt từ chi tiết này.

Unilever và Nestlé cũng đến Trung Quốc trong năm này. Unilever chọn Thượng Hải, còn Nestlé lại gây khó hiểu khi mở nhà máy ở Song Thành, một thành phố nhỏ hẻo lánh ở Hắc Long Giang. Khi đó, Song Thành không có lấy một con đường tử tế, điện thoại là loại quay tay, rất khó liên lạc với bên ngoài, mở tài khoản ở ngân hàng phải đợi ba tuần. Nestlé cử một đội ngũ chuyên gia từ châu Âu sang, xây dựng một hệ thống mạng lưới thu mua sữa và chế độ khuyến khích nông dân nuôi bò, đồng thời dạy kỹ thuật chăn nuôi và lấy sữa cho nông dân địa phương. Họ trông giống như một công ty kiên nhẫn. Thị trường sữa lỏng của Trung Quốc phải mất 15 năm sau mới bước vào thời kỳ chín muồi, và khi đó, những công ty Trung Quốc giành được thành công đầu tiên là Yili và Mengniu ở Nội Mông.

So với Danone và Nestlé, Motorola cũng đến vào năm này nhưng có vẻ thực tế hơn. Motorola là doanh nghiệp đầu ngành viễn thông vô tuyến toàn cầu, họ có rất nhiều sản phẩm có thể mang đến Trung Quốc để sản xuất và bán, nhưng họ lại chọn máy nhắn tin không mấy nổi bật. Máy nhắn tin vô tuyến còn gọi là máy BP, chuyên dùng để nhận thông tin từ hệ thống nhắn tin vô tuyến. Thượng Hải mở hệ thống nhắn tin mô phỏng đầu tiên vào năm 1983, vài năm sau, dùng máy nhắn tin làm công cụ liên lạc trở thành trang bị thời thượng nhất của giới trẻ và thương nhân Trung Quốc. Dạo bước trên đường phố Trung Quốc thời đó, đâu đâu cũng có thể nghe thấy những tiếng "tít, tít, tít". Nhà máy đầu tiên của Motorola mở tại Thiên Tân lấy máy nhắn tin làm sản phẩm chủ lực, từ đó làm điểm đột phá, họ nhanh chóng trở thành một trong những công ty đa quốc gia đầu tiên kiếm được tiền và có độ nhận diện thương hiệu cao nhất tại thị trường Trung Quốc. Ngành công nghiệp máy nhắn tin phải đến năm 1996 mới bị điện thoại di động dần phổ biến thay thế, và đến lúc đó, Motorola đã trở thành một trong những nhà sản xuất sản phẩm viễn thông vô tuyến lớn nhất Trung Quốc.

Ngày 12 tháng 11, nhà hàng đầu tiên của KFC tại Trung Quốc chính thức khai trương tại khu vực sầm uất Tiền Môn, Bắc Kinh. Họ bổ nhiệm một nhân viên sinh ra ở Trung Quốc, du học ở Mỹ và làm việc lâu năm tại KFC làm Tổng giám đốc công ty Trung Quốc, ngay từ đầu đã thực hiện chiến lược thông minh là hòa nhập toàn diện vào văn hóa ẩm thực Trung Quốc. Thời điểm gia nhập của họ sớm hơn đối thủ khổng lồ thức ăn nhanh khác của Mỹ là McDonald's ba năm. Và lợi thế đi trước ba năm này, McDonald's sau đó có mất gần 20 năm cũng không đuổi kịp.

Năm 1987, Peter Drucker xuất bản cuốn sách nổi tiếng "Đổi mới và tinh thần doanh nhân". Trong tác phẩm mang tính thời đại này, lần đầu tiên ông coi đổi mới (innovation) và tinh thần doanh nhân (entrepreneurship) là gen tăng trưởng của doanh nghiệp, đồng thời trình bày một cách hệ thống các phương án khả thi để đưa đổi mới vào vận hành kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, Drucker chỉ ra một cách đầy tầm nhìn rằng nước Mỹ đã bước vào thời đại "kinh tế doanh nhân". Ông viết đầy nhiệt huyết: Doanh nghiệp và doanh nhân đang trở thành nguồn động lực tăng trưởng của kinh tế Mỹ, sự xuất hiện của "kinh tế doanh nhân" là điều có ý nghĩa nhất và đầy hy vọng nhất trong lịch sử kinh tế và xã hội Mỹ. Trong tương lai gần, Nhật Bản, châu Âu, bao gồm tất cả các quốc gia hiện đại đang tiến hành cải cách kinh tế, đều sẽ không ngoại lệ mà nối gót theo sau.

Tại Trung Quốc, năm này lần đầu tiên xuất hiện danh từ "doanh nhân" - thời điểm nó xuất hiện lần đầu trên "Từ Hải" là năm 1989, trước đó, họ đều được gọi là giám đốc xưởng hoặc quản lý.

Đầu năm, tạp chí "Fortune" của Mỹ bình chọn 50 doanh nhân đáng chú ý nhất toàn cầu, Vinh Nghị Nhân của công ty CITIC có tên trong danh sách, đứng ngang hàng với ông là Tiểu Tùng Khang của Ngân hàng Sumitomo Nhật Bản, Jack Welch của General Electric Mỹ và Kim Vũ Trung của Daewoo Hàn Quốc... Đây là lần đầu tiên nhà quản lý công ty của Trung Quốc xã hội chủ nghĩa lọt vào bảng xếp hạng doanh nhân quốc tế. Tạp chí thậm chí còn bình luận: "Vinh Nghị Nhân 70 tuổi là một nhà tư bản phục sinh, ông đang lãnh đạo công tác đầu tư ra nước ngoài do Đặng Tiểu Bình hoạch định".

Tháng 4, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước, Ủy viên Quốc vụ Tống Kiện trong chuyến khảo sát tại Tứ Xuyên đã ghé thăm trại chim cút của bốn anh em nhà họ Lưu ở Tân Tân. Lúc đó họ đã nổi tiếng khắp nơi, món trứng bắc thảo chim cút do họ sản xuất bán rất chạy. Khi Tống Kiện đến, bốn anh em vừa huy động vốn 200.000 nhân dân tệ để thành lập Viện nghiên cứu khoa học "Hy vọng". Trước khi chia tay, Tống Kiện đề từ, khéo léo lồng tên viện nghiên cứu của họ vào: "Sự chấn hưng kinh tế của Trung Quốc đặt hy vọng vào những doanh nhân xã hội chủ nghĩa". Ngay tại hội nghị triển khai toàn diện chế độ trách nhiệm giám đốc xưởng vào tháng 8, Ủy ban Kinh tế Nhà nước tuyên bố sẽ bình chọn "Doanh nhân ưu tú Trung Quốc" lần thứ nhất, phương thức bình chọn là do chính quyền các địa phương đề cử, chính thức công bố vào đầu năm sau. Trong những câu chuyện doanh nghiệp của năm này, chúng ta dần cảm nhận được ngày càng nhiều khí chất thương mại, dù là Mã Thắng Lợi thất bại hay Lý Kinh Vĩ đối đầu trực diện với Coca-Cola, hay Liễu Truyền Chí chia tay IBM, họ đều bắt đầu thực sự vận dụng các thủ đoạn và quy luật thương mại để điều hành một doanh nghiệp. Sau gần mười năm phát triển quanh co, thị trường tiêu dùng Trung Quốc dần mở rộng, sức mạnh trỗi dậy từ dân gian bắt đầu thể hiện năng lực của mình, điều này cũng tạo ra mảnh đất tốt cho sự xuất hiện của các doanh nghiệp hiện đại.

Nhìn từ góc độ kinh tế vĩ mô, sau vài năm phát triển tốc độ cao, kinh tế Trung Quốc lại đi đến một ngã rẽ. Tháng 10, ba phóng viên trẻ của tờ "Nhân dân Nhật báo" là Chúc Hoa Tân, Tào Hoán Vinh và La Vinh Hưng đã đăng bài quan sát chính trị dài kỳ "Phương vị lịch sử của cải cách Trung Quốc". Đây là lần đầu tiên phóng viên Trung Quốc đứng từ góc độ toàn cầu hóa để thực hiện những suy ngẫm mang màu sắc lý tưởng về công cuộc cải cách của Trung Quốc.

Cách đây 140 năm, vào năm 1847, Marx và Engels công bố "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản". Cách đây 70 năm, vào năm 1917, tiếng súng của tuần dương hạm Rạng Đông đã khơi mào cuộc cách mạng Liên Xô. Còn vào năm 1987, phe xã hội chủ nghĩa đã xảy ra những thay đổi to lớn. Gorbachev đang lãnh đạo một cuộc cải cách đầy bất định ở Liên Xô, ông xuất bản cuốn "Cải cách và tư duy mới" trong năm này. Cuốn sách được dịch và giới thiệu đến Trung Quốc ngay lập tức. Ông cảnh báo: "Trì hoãn cải cách sẽ gây ra sự trầm trọng thêm của tình hình trong nước trong thời gian tới, nói thẳng ra, tình hình này chứa đựng mối đe dọa xảy ra khủng hoảng kinh tế xã hội và chính trị nghiêm trọng". Cũng trong năm này, giáo sư Đại học Yale Mỹ Paul Kennedy xuất bản cuốn "Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc". Sau khi khảo sát lịch sử hưng vong của các cường quốc trong 500 năm qua, ông dự đoán: "Tiến trình hưng vong của các cường quốc vẫn chưa dừng lại, tốc độ tăng trưởng lực lượng và tiến bộ kỹ thuật của các cường quốc khác nhau, điều này sẽ khiến sự so sánh lực lượng kinh tế toàn cầu thay đổi". Kennedy không dự đoán được sự sụp đổ của Bức tường Berlin hai năm sau, cũng không dự đoán được sự tan rã của Liên Xô ba năm sau, nhưng mệnh đề mà ông đưa ra lại khiến các chính trị gia trên toàn thế giới phải bàng hoàng tỉnh ngộ.

Thực trạng lúc bấy giờ là sự mất cân bằng tâm lý toàn dân đã bộc lộ rõ rệt. Mọi người đều bất mãn với cuộc sống và công việc của mình, ai ai cũng nghe ngóng những mánh khóe và cơ hội kiếm tiền. Ở các vùng ven biển, làm "nghề tay trái" trở thành một trào lưu mới, người Quảng Đông gọi là "đội quân xào canh". Theo một cuộc khảo sát thời bấy giờ, số công nhân viên chức nhà nước làm "nghề tay trái" đã đạt tới 27%. Phóng viên tờ "Liên hợp Tảo báo" của Singapore khi phỏng vấn tại Trung Quốc phát hiện ra rằng, dù là công chức hay nhân viên doanh nghiệp quốc doanh, mọi người đều nhiệt tình dùng thiết bị công để kiếm thêm thu nhập, không ai quan tâm đến công việc chính. Báo cáo viết: "Hiện tại ở Trung Quốc có hai loại người được hưởng lợi, người cần cù thông minh giỏi xoay xở, và những kẻ gian xảo tham ô phạm pháp".

Lời than vãn và cằn nhằn ở khắp nơi, một số câu vè lưu truyền rộng rãi trong dân gian, cảm xúc chủ đạo là sự khinh miệt và bất mãn đối với những người làm lưu thông mà giàu lên trước. Ví dụ như: "Dao mổ không bằng dao cạo đầu, chế tạo tên lửa không bằng bán trứng trà", "Số một (công nhân) ra rìa, số hai (nông dân) chia ruộng, số chín (trí thức) lên trời, kẻ không ra gì lại kiếm được tiền", "Công nhân vui, nông dân cười, trí thức cởi truồng ngồi kiệu hoa".

Rõ ràng, trong một thời đại chuyển đổi, mọi giá trị đều đang chờ được tái thiết. Người ta dường như vẫn ôm ấp những ảo tưởng đơn thuần về những người giàu lên trước đó. Truyền thông cũng rất muốn tìm ra những ví dụ để chứng minh rằng những người giàu lên này vẫn có "lương tâm". Tờ "Quảng Châu Nhật báo" năm đó đã đưa một tin tức như vậy: Tại địa phương có một hộ kinh doanh cá thể đóng giày tên là Hà Bính, nghe nói tổng tài sản của ông đã vượt quá 200.000 nhân dân tệ nhưng lại vô cùng tiết kiệm, trong nhà đến cái tủ lạnh cũng không nỡ mua. Có một nhà máy giày quốc doanh thua lỗ nhiều năm, mời ông đến cứu giúp, ông dẫn sáu người đến làm một tháng, thiết kế cho nhà máy năm sáu kiểu dáng mới, giúp nhà máy thoát khỏi khó khăn. Thế nhưng Hà Bính không nhận lấy một xu, ngay cả tiền lương của sáu người mang đi cũng do ông chi trả. "Việc làm" của Hà Bính lên báo, được mọi người tán dương. Ví dụ này dường như muốn nói với mọi người rằng, những người giàu lên này sẽ không đi quá xa, họ sẽ quay lại giúp đỡ những người tụt hậu và các doanh nghiệp quốc doanh đang lâm vào cảnh khó khăn.

Ba phóng viên của tờ "Nhân dân Nhật báo" nhắc nhở: "Cải cách là một công trình hệ thống xã hội đặc biệt phức tạp, không thể tiến hành trong điều kiện thiết kế hoàn hảo từ trước được, sự ma sát và va chạm giữa các nhóm lợi ích khác nhau trong quá trình cải cách là không thể tránh khỏi". Những âm thanh như vậy nghe rất chói tai vào thời điểm đó, đại đa số mọi người vẫn đắm chìm trong sự sùng bái cải cách, họ vẫn chưa nhận thức đầy đủ về những tác động thể chế, sự lật đổ quan niệm và phân hóa giai tầng mà cuộc cải cách kinh tế này có thể gây ra cho xã hội Trung Quốc.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba