Ba Mươi Năm Sôi Động – Doanh Nghiệp Trung Quốc 1978–2008

Lượt đọc: 314 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1988 Sự thức tỉnh của tư bản (3)

❊ ❊ ❊

Tháng 4 năm 1988, Dương Hoài Định, một thủ kho tại Nhà máy Hợp kim sắt Thượng Hải, đã đùng đùng nộp đơn từ chức. Khoảng thời gian trước và sau Tết, kho hàng của nhà máy bị mất trộm hơn một tấn đồng. Vì vợ của Dương Hoài Định có nhận thầu một nhà máy dây điện vốn sử dụng nguyên liệu là đồng, nên ông trở thành đối tượng bị nghi ngờ trọng điểm. Chẳng bao lâu sau, vụ án được phá, hóa ra chẳng liên quan gì đến Dương Hoài Định, thế nhưng, vì quá ấm ức, ông quyết định không làm nữa.

Dương Hoài Định đặt mua 26 tờ báo. Thời đó chưa có Internet, mọi thông tin đều được giấu kín trong những dòng văn bản quan liêu khô khan. Ông đọc được trên báo rằng, bắt đầu từ tháng 4, Trung ương đã lần lượt mở cửa nghiệp vụ chuyển nhượng công trái tại bảy thành phố. Mí mắt ông giật liên hồi.

Trước đó, việc giao dịch công trái trên thị trường đen vốn chẳng phải tin tức gì mới mẻ, nhưng xét về quy định chính sách thì vẫn là hành vi phi pháp. Nửa năm trước, vào tháng 10 năm 1987, Thượng Hải từng có một tin tức: nhân viên công an bắt quả tang Triệu Đức Vinh, một công nhân trẻ của nhà máy dệt bông, ngay trước cửa chi nhánh Tĩnh An của Ngân hàng Công thương Thượng Hải. Lúc đó, cậu ta đang bán lại công trái với tỷ giá 100:71. Công an thu giữ 1.800 nhân dân tệ tiền mặt và 2.000 nhân dân tệ công trái, đồng thời khám xét nhà riêng và phát hiện thêm 26.000 nhân dân tệ công trái nữa. Thế nhưng, việc xử phạt Triệu Đức Vinh lại trở thành một vấn đề nan giải. Cơ quan công an cho rằng việc buôn bán công trái là hành vi "đầu cơ trục lợi", còn Cục Công thương - cơ quan quản lý đầu cơ - lại nói rằng giao dịch thị trường đen này diễn ra ngay trước cửa quầy giao dịch ngân hàng, ngân hàng không báo chúng tôi thì chúng tôi cũng khó quản. Phía ngân hàng thì thanh minh: "Chúng tôi chỉ quản bên trong cửa, chuyện bên ngoài chúng tôi không quản được". Cuối cùng, Triệu Đức Vinh bị tịch thu "tang vật", giáo dục một phen rồi thả về.

So với cậu Triệu "xui xẻo" kia, Dương Hoài Định của nửa năm sau lại may mắn hơn nhiều. Sau khi nhìn thấy tin tức trên báo, ngay ngày hôm sau, ông gom góp được 10 vạn tệ rồi thẳng tiến đến Hợp Phì, An Huy. Tính toán của ông rất đơn giản: giá công trái ở các nơi khác nhau, chỉ cần có chênh lệch giá là có thể kiếm lời. Quả nhiên, ông thu mua 10 vạn tệ công trái ngay trước cửa ngân hàng Hợp Phì, rồi bán lại cho ngân hàng ở Thượng Hải, chỉ trong ba ngày kiếm được 2.000 tệ. Những tờ công trái mà Dương Hoài Định thu mua đều có tem niêm phong của ngân hàng Hợp Phì. Sợ ngân hàng Thượng Hải nhìn ra mánh khóe trong việc điều tiết giữa các ngân hàng, ông đã rất khôn khéo xé bỏ niêm phong, làm xáo trộn số hiệu, khiến những ngân hàng chậm chạp không thể lần ra phương pháp kiếm tiền của mình.

Trong một tháng sau đó, Dương Hoài Định chạy đôn chạy đáo, đi khắp sáu thành phố mở cửa còn lại ngoài Thượng Hải. Lúc bấy giờ, doanh số giao dịch công trái hàng ngày tại ngân hàng Thượng Hải khoảng 70 vạn tệ, một mình ông đã chiếm tới 1/7. Cứ như thế, một chính sách từ Trung ương được ban hành vội vã đã thành toàn cho giấc mơ làm giàu của một người thủ kho. Dương Hoài Định là người bình thường đầu tiên tại Trung Quốc phát tài nhờ thị trường vốn, sau này ông nổi danh trong những năm đầu của thị trường chứng khoán Trung Quốc với biệt danh "Dương Triệu phú".

Ngay từ mùa thu năm 1988, Dương Hoài Định đã quen biết Quản Kim Sinh, người lớn hơn ông ba tuổi. Sự nhạy bén chung đối với việc kinh doanh chênh lệch giá công trái liên tỉnh đã khiến họ trở thành "tri kỷ tâm giao" trên bến Thượng Hải. Trong cuốn tự truyện "Làm một triệu phú" viết năm 2002, ông có kể lại một chi tiết năm ấy:

Ngay sau ngày đầu năm 1989, Quản Kim Sinh nói với Dương Hoài Định rằng ông đến chơi tại phòng quản lý tài chính của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc chi nhánh Thượng Hải và thấy trên bàn của Trưởng phòng Trương Ninh có đè một văn bản, nội dung là công trái năm 1988 chuẩn bị được niêm yết trong thời gian tới. Nếu ai biết tin này, mua vào với giá thị trường đen 75 tệ, khi niêm yết có thể lên tới 100 tệ, lợi nhuận khổng lồ 25 tệ, đây chính là cơ hội phát tài lớn. Thế là, "Dương Triệu phú" trở thành đại diện được ủy quyền của công ty chứng khoán Vạn Quốc, mang theo một chiếc máy đếm tiền của Vạn Quốc, công khai thu mua tại văn phòng riêng ở số 1028 đường Hải Ninh. Chỉ trong thời gian ngắn, ông đã mua sạch một nửa số công trái năm 1988 trên thị trường Thượng Hải. Hành động thu mua điên cuồng của Quản và Dương đã thu hút sự chú ý của phòng quản lý tài chính. Một ngày nọ, Trương Ninh đến Vạn Quốc kiểm tra đột xuất. Quản Kim Sinh nghĩ ra một diệu kế: chuyển toàn bộ công trái từ kho dưới tầng hầm lên văn phòng mình, chất đống từ mặt đất lên tận trần nhà. Trương Ninh đến kiểm tra, không thu được gì đành ra về, công ty chứng khoán Vạn Quốc thoát một kiếp nạn. Vài tháng sau, công trái năm 1988 niêm yết với giá 104 tệ. Với tư cách là hai "con chuột chũi công trái" lớn nhất trong nước lúc bấy giờ, công ty chứng khoán Vạn Quốc của Quản Kim Sinh và Dương Hoài Định đã hoàn thành cuộc tích lũy nguyên thủy đầy kịch tính và giàu có.

Câu chuyện về dòng chảy ngầm của tư bản tạm thời khép lại tại đây. Đây là sự khởi đầu của một cuộc chơi lợi ích mới, tiền đồ chưa hoàn toàn rõ ràng, quy tắc vẫn còn trong trạng thái hỗn mang. Nhiều năm sau, khi người ta nhớ về năm 1988, họ sẽ bàn luận nhiều hơn về "cú đột phá giá cả" gây chấn động thời bấy giờ và "cơn sốt mua sắm" càn quét khắp cả nước.

Năm 1988, kinh tế vĩ mô lại trở nên căng thẳng, sự tăng trưởng tốc độ cao hơn ba năm qua đã khiến đoàn tàu Trung Quốc một lần nữa tiến vào vùng nhạy cảm của chu kỳ kinh tế. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp nhẹ, số lượng doanh nghiệp tăng vọt, nguồn cung vật tư càng trở nên khan hiếm. Cơ chế giá cả "song轨" (hai đường ray) đã thực thi được bốn năm lúc này cuối cùng cũng giải phóng tất cả các tác động tiêu cực của nó. Tháng 4 năm trước, các bộ ngành thuộc Quốc vụ viện đã thành lập một nhóm giám sát kiểm tra giá cả tư liệu sản xuất, chia thành 28 tổ đi khảo sát thực tế tại các địa phương. Trong báo cáo gửi Quốc vụ viện vào tháng 9, nhóm này kết luận: "Tình trạng loạn tăng giá, loạn thu phí đối với tư liệu sản xuất vô cùng nghiêm trọng, một số nơi và lĩnh vực đã đến mức vô pháp vô thiên". Một thời gian sau đó, mặc dù Trung ương đã nhiều lần ra lệnh cấm, nhưng vẫn không thể ngăn cản vô số cơ quan chính phủ và đơn vị quốc doanh lao vào việc buôn bán tư liệu sản xuất. Người ta lợi dụng quyền lực trong tay, dù lớn hay nhỏ, để trục lợi từ cơ chế hai đường ray. Tờ "Nhật báo Kinh tế Nhật Bản" đã đưa tin về một trường hợp rất cường điệu: tại Nam Kinh, 1.000 tấn thép nằm yên một chỗ mà bị đầu cơ tới 129 lần, giá tăng gần gấp ba. Tham gia vào sự kiện này có 83 cơ quan từ Giang Tô, Quảng Đông, An Huy và Hồ Bắc, bên liên quan chính là các đơn vị lưu thông vật tư như Trung tâm Giao dịch Vật tư Nam Kinh vốn có quyền kinh doanh độc quyền.

Trong năm tháng đầu năm ấy, Bắc Kinh có thêm 700 công ty mới, Thượng Hải tăng vọt 3.000 công ty, các loại công ty do hệ thống cơ quan nhà nước Trung ương thành lập lên tới 2 vạn đơn vị, trong đó rất nhiều là những "công ty ma" chuyên buôn bán vật tư. Trong dân gian bắt đầu lan truyền câu ca dao: "Mười ức dân, chín ức buôn, còn một ức đang tìm kiếm". Tháng 7, Cục Công thương Nhà nước liệt kê 95 vụ án lớn về buôn bán tư liệu sản xuất, trong đó 58 vụ là do các cơ quan chủ quản vật tư gây ra: "Họ lợi dụng quyền lực để điều chuyển tư liệu sản xuất theo giá nhà nước quy định ra ngoài, sau đó tung ra thị trường, bán lại với giá cao". Tờ "Nhật báo Kinh tế" đưa ra "Thuyết quan thương gây họa quốc", khẳng định: "Giá tư liệu sản xuất tăng vọt, nhà nước nhiều lần ra lệnh cấm tăng giá loạn xạ nhưng hiệu quả ít ỏi, tạo ra cục diện này chủ yếu là những công ty không phân biệt được chính trị và doanh nghiệp, không phân biệt được quan chức và thương nhân". Hiện tượng lợi dụng kiểm soát giá cả để mưu cầu tư lợi chưa bao giờ chấm dứt. Năm 2005, Lưu Chí Tường, Trạm trưởng ga tàu hán Khẩu, bị kết án tù. Ông ta nắm giữ "quyền phân phối vé kế hoạch", chỉ định phân phối một lượng lớn vé tàu khan hiếm cho các đối tác của mình, sau đó thu thêm "phí thủ tục" rồi tung ra thị trường: "Thông thường vé ngồi tối thiểu cộng thêm 5 tệ, dịp Xuân vận cộng thêm 30 tệ". Nhờ buôn vé và nhận hối lộ, trong 9 năm, Lưu đã thu lợi bất chính 47,45 triệu tệ. Chu Kỳ Nhân, nhà kinh tế học tại Đại học Bắc Kinh, khi phân tích vụ án này đã nói: "Kiểm soát giá cả là chính sách đi ngược lại mong muốn nhất trên đời".

Song hành với nền kinh tế Trung Quốc đầy bụi bặm là bối cảnh quốc tế đang chuyển mình nhanh chóng theo hướng thị trường tự do. Trong năm này, nhà kinh tế học người Anh, chủ nhân giải Nobel Kinh tế năm 1974, Friedrich Hayek đã xuất bản cuốn "Sự tự phụ chí tử". Trong tác phẩm có tầm ảnh hưởng lớn này, ông cho rằng việc theo đuổi nền kinh tế kế hoạch hóa cao độ là một "sự tự phụ chí tử" của những người duy lý. Ông chứng minh một cách có hệ thống những hạn chế của kinh tế kế hoạch. Trong phần dẫn nhập mang tên "Chủ nghĩa xã hội có phải là sai lầm không?", Hayek viết: "Trật tự được hình thành trong điều kiện không có thiết kế có thể vượt xa những kế hoạch mà con người tự giác theo đuổi". Tác phẩm này đã cung cấp vũ khí lý luận kịp thời cho thế giới tư bản phương Tây.

Cũng trong năm này, chủ nhân giải Nobel Kinh tế năm 1976, Milton Friedman, đã đến thăm Trung Quốc và được các nhà lãnh đạo Trung ương tiếp kiến. Friedman là bậc thầy về lý thuyết giá cả và lý thuyết tiền tệ nổi tiếng nhất quốc tế thời bấy giờ. Trong cuộc hội đàm, người vốn kiên định với thị trường tự do này đã cực lực chủ trương rằng chính phủ Trung ương nên nới lỏng kiểm soát giá cả. Ông cho rằng cải cách của Trung Quốc đã đến "thời khắc cuối cùng". Tờ "Tín báo" Hồng Kông dẫn quan điểm của ông: "Không nên đánh đồng việc thả nổi giá cả với lạm phát. Nếu thả nổi giá cả, chỉ một bộ phận hàng hóa tăng giá, trong vài ngày đầu, người dân có thể cảm thấy đau đớn, nhưng rất nhanh sẽ phát hiện ra giá cả không nhất thiết phải tăng vọt theo kiểu xoay vòng". Khi khảo sát tại Tứ Xuyên, Friedman nói với Tỉnh trưởng Tứ Xuyên: "Nếu ông muốn chặt đuôi chuột, đừng chặt từng đoạn một, hãy chặt một nhát là xong, đau dài không bằng đau ngắn". Tỉnh trưởng thỉnh giáo: "Thưa giáo sư, ông biết đấy, chuột ở Trung Quốc chúng tôi khác biệt lắm, chúng có rất nhiều cái đuôi quấn lấy nhau, ông bảo tôi chặt cái nào trước?". Friedman nhún vai, không trả lời. Sau đó, một nhà kinh tế học đăng bài viết: "Tôi có đáp án, nhưng lúc đó tôi không nói. Đáp án của tôi là, hãy chặt tất cả các cái đuôi cùng một lúc". Tháng 4 năm 2001, nhà kinh tế học này thừa nhận tại một buổi diễn thuyết ở Đại học Trung Sơn: "Friedman luôn chủ trương thả nổi kiểm soát giá cả, năm 1988 chúng tôi đã kiến nghị điều này với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, kết quả là một mớ hỗn độn".

Cũng như Friedman và những người khác, một số lãnh đạo cấp cao của Trung ương lúc bấy giờ cũng muốn chặt "đuôi chuột Trung Quốc" trong một lần duy nhất. Họ rõ ràng nhận thức được rằng sự biến động bất thường của giá cả hiện nay là do thể chế kế hoạch và cơ chế giá cả hai đường ray gây ra. Muốn thoát khỏi sự quấn chặt của quái vật thể chế, phải dùng thủ đoạn sấm sét, để giá cả nhanh chóng tiến vào quỹ đạo điều tiết thị trường. Lời khuyên của bậc thầy về giá cả Friedman đã cung cấp cơ sở lý luận cho tầng lớp lãnh đạo Trung ương, còn một cuộc điều tra chọn mẫu đối với công nhân doanh nghiệp cơ sở do Viện Nghiên cứu Cải cách Thể chế Kinh tế Trung Quốc thực hiện đã khiến Trung ương cảm thấy vô cùng tự tin. Kết quả cuộc điều tra cho thấy, 75,3% người dân tán thành: "Chỉ cần cải cách có thể làm tốt, mức sống của chúng tôi thấp một chút cũng không sao". Thế là, Trung ương quyết định nới lỏng kiểm soát, xóa bỏ cơ chế giá cả hai đường ray, tiến hành "cú đột phá giá cả".

Hành động đột phá bắt đầu từ tháng 3 tại Thượng Hải, thành phố công nghiệp lớn nhất. Trong tháng đó, Thượng Hải điều chỉnh giá bán lẻ của 280 loại hàng hóa, phần lớn là hàng tiêu dùng nhỏ hoặc nhu yếu phẩm hàng ngày, biên độ tăng giá từ 20-30%. Tháng 4, Quốc vụ viện đưa ra phương án trợ cấp thích đáng cho công nhân viên chức trước sự biến động giá bán lẻ các mặt hàng thực phẩm phụ chính. Ngày 19 tháng 5, Tân Hoa Xã đăng điện tín: "Cải cách giá cả của Trung Quốc là một hành động táo bạo, phải chấp nhận rủi ro nhất định, nhưng Trung ương có lòng tin làm tốt việc này..."

Chính sách điều chỉnh giá này nhanh chóng lan rộng ra toàn quốc. Từ tháng 5, giá thịt lợn và các loại thịt khác tại các thành phố trung tâm toàn quốc tăng với biên độ khoảng 70%, các loại hàng hóa nhỏ khác cũng nhanh chóng tăng theo. Điều nằm ngoài dự đoán của Friedman và Đặng Tiểu Bình là "cú đột phá giá cả" nhanh chóng bộc lộ xu hướng mất kiểm soát đáng sợ, giá cả các nơi như con ngựa bất kham, chạy loạn xạ. Lúc đó, tiền tiết kiệm của cư dân toàn quốc là 3.000 tỷ tệ (năm 1992 là một nghìn tỷ, năm 2005 là 14 nghìn tỷ), không phải là một con số quá lớn, nhưng do tâm lý hoảng loạn sợ giá tăng của công chúng, nó đã gây ra cơn sốt mua sắm trên toàn quốc. Điều này dường như ứng nghiệm với câu nói nổi tiếng của Keynes: "Tâm lý xã hội quyết định vấn đề kinh tế vĩnh cửu của nhân loại". Theo báo chí đưa tin thời bấy giờ: "Người dân như mất trí, thấy gì mua nấy, vừa tranh nhau mua hàng hóa giữ giá, vừa tranh nhau mua nhu yếu phẩm cơ bản, ngay cả hàng tồn kho cũng không tha. Tivi có hình là ôm, quạt điện quay được là mua, tủ lạnh có hơi lạnh là lấy". Điều khác thường là việc mua sắm của người dân đã tách rời khỏi cung cầu thực tế. Lấy quạt điện làm ví dụ, lúc đó có hơn 200 nhà máy sản xuất quạt, sản lượng hàng năm đạt 34 triệu chiếc, trở thành quốc gia sản xuất lớn nhất thế giới. Từ hai năm trước, trong nước đã xuất hiện tình trạng cung vượt cầu, quạt điện tồn kho rất nhiều, nhưng trong cơn sốt mua sắm, tất cả quạt điện trong kho toàn quốc đều bị quét sạch. Tại các tỉnh xa xôi như Quý Châu, Vân Nam, người ta thậm chí đánh nhau trên phố chỉ để tranh mua len sợi. Giá cả tăng vọt khiến các tầng lớp xã hội đều kêu "không chịu nổi". Một số giáo viên đại học vì giá cả tăng phi mã, không thể duy trì sinh kế, đã công khai bày sạp trong khuôn viên trường bán hoành thánh, bánh mì, trứng và kem que. Tân Hoa Xã trong một bản tin năm đó đã trích dẫn lời một "cán bộ cấp bộ trưởng" rằng người giúp việc nhà ông không dám đi chợ, vì cứ đi là hết tờ giấy bạc 10 tệ, nhìn mà hoa mắt.

Cơn sốt mua sắm không chỉ kích động lạm phát mà còn gây ra tình trạng khan hiếm vật tư sản xuất chưa từng có. Tháng 5, tất cả các nhà máy điện ở Thượng Hải không đủ than dự trữ quá hai ngày, hàng chục vạn doanh nghiệp thoi thóp. Chu Dung Cơ, người vừa nhậm chức Thị trưởng Thượng Hải không lâu, buộc phải đưa ra quyết định đảm bảo cung cấp than cho Thượng Hải.

Ngày 28 tháng 8, cơn sốt mua sắm tại Thượng Hải lên đến đỉnh điểm, chính quyền thành phố buộc phải thực hiện các biện pháp khẩn cấp: cung cấp muối ăn và diêm theo phiếu, nồi nhôm chỉ được mua theo hình thức đổi cũ lấy mới hoặc phải có giấy đăng ký kết hôn và hộ khẩu. Ngày 26 tháng 9, tờ "Tuần báo Thương mại" Mỹ đưa tin với tiêu đề "Những khúc quanh trên con đường cải cách của Trung Quốc": "Hôm nay, cải cách của Trung Quốc đang mất kiểm soát. Để đối phó với khủng hoảng, cải cách giá cả đã bị đóng băng vào tháng trước. Sự chuyển hướng chính sách đột ngột mang lại cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước một giai đoạn hoang mang về tiền đồ. Trung Quốc hiện đang bước vào trạng thái kiểm soát khẩn cấp. Một nhà kinh tế học thuộc Đại sứ quán Úc nói: Chúng ta đang chứng kiến một cuộc vận động kiểu thảm trải sàn nhằm khôi phục niềm tin của người tiêu dùng..."

Cuốn "Niên giám giá cả Trung Quốc" của Cục Giá cả Nhà nước ghi chép: "Năm 1988 là năm giá cả tăng mạnh nhất và lạm phát tăng cao rõ rệt ở nước ta. Trong 385 loại hàng hóa được nhà nước tính chỉ số giá bán lẻ, diện biến động giá đạt trên 95%, chỉ số giá bán lẻ tổng hợp cả năm tăng 18,5% so với năm trước, biên độ tăng này lại nằm trên cơ sở lũy kế tăng giá 23,7% trong ba năm liên tiếp".

"Cú đột phá giá cả" được coi là lần mất kiểm soát kinh tế lớn nhất kể từ sau cải cách năm 1978. Nó tuyên bố thất bại vào tháng 10, Trung ương bắt đầu điều chỉnh chính sách, một lần nữa đề ra phương châm "điều tiết vĩ mô, quản lý chấn chỉnh". Sự thất bại lần này biểu hiện qua việc tranh nhau mua hàng và giá cả tăng vọt. Dù ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế vĩ mô nhưng nó không dẫn đến sự sụp đổ sản xuất mang tính hủy diệt. Tuy nhiên, nó là một đòn giáng mạnh vào nhiệt huyết cải cách của người dân toàn quốc. Những người dân bị tổn hại lợi ích trong lạm phát càng căm ghét những kẻ "quan thương" phát tài lớn nhờ cơ chế "hai đường ray", từ đó nảy sinh ấn tượng rằng "cải cách gây ra bất công xã hội".

Do ảnh hưởng của cú đột phá thất bại, doanh nghiệp Trung Quốc năm 1988 không có gì đáng kể. Bộ Hâm Sinh, người nổi tiếng với việc phá vỡ "bát cơm sắt", lúc này đã xế chiều; còn kế hoạch thầu 100 nhà máy giấy của Mã Thắng Lợi ở Hà Bắc thì đầu voi đuôi chuột, đến giữa năm đã xuất hiện tín hiệu nguy hiểm. Một cuộc khủng hoảng kinh tế mà chính phủ và người dân Trung Quốc chưa từng thấy đang diễn ra một cách đáng sợ.

Tháng 4, vận động viên nổi tiếng nhất Trung Quốc, "hoàng tử thể dục" 26 tuổi Lý Ninh, sau khi giành tấm huy chương vàng thứ 106 đã tuyên bố giải nghệ. Ông từ bỏ cơ hội vào đại học, làm huấn luyện viên, làm quan chức, đi về phía nam đến Quảng Đông, đảm nhận chức trợ lý đặc biệt cho Tổng giám đốc tập đoàn Kiện Lực Bảo của Lý Kinh Vĩ. Hai năm sau, ông sáng lập công ty TNHH sản phẩm thể thao Lý Ninh Quảng Đông và tự mình làm tổng giám đốc. Mười năm sau, quần áo thể thao "thương hiệu Lý Ninh" sánh vai cùng Nike và Adidas trên thị trường Trung Quốc, chiếm giữ nửa giang sơn sản phẩm thể thao Trung Quốc.

Tháng 8, công ty hóa mỹ phẩm lớn nhất thế giới P&G (Mỹ) cùng nhà máy xà phòng Quảng Châu và công ty Hòa Ký Hoàng Phố của Lý Gia Thành (Hồng Kông) hợp tác thành lập công ty TNHH P&G Quảng Châu. Những năm trước đó, P&G luôn kiên trì xin mở nhà máy 100% vốn nước ngoài nhưng không bao giờ được chấp thuận. Trong một thời gian dài, các công ty đa quốc gia sản xuất hàng tiêu dùng muốn mở nhà máy tại Trung Quốc đều phải hợp tác với doanh nghiệp quốc doanh cùng ngành tại địa phương. Ví dụ, các nhà máy của Coca-Cola và Pepsi ở các nơi đều liên doanh với các nhà máy địa phương thuộc Tập đoàn Lương thực Trung Quốc, còn P&G và Unilever thì bị yêu cầu liên doanh với nhà máy hóa chất địa phương. "Tuần báo Thương mại" Mỹ tháng đó bình luận: "Kể từ khi Đặng Tiểu Bình mở cửa vào năm 1978, các công ty Mỹ luôn cố gắng thâm nhập vào thị trường tiêu dùng khổng lồ của Trung Quốc. Nhưng chính phủ Trung Quốc lại có ý đồ khác. Họ muốn người nước ngoài đầu tư vào sản phẩm xuất khẩu và các dự án công nghệ cao, những công ty muốn bán sản phẩm cho 1 tỷ người Trung Quốc luôn phải đối mặt với vô vàn trở ngại. Ví dụ như Coca-Cola và KFC đều bị hạn chế giấy phép, chỉ có rất ít doanh nghiệp thực sự hưởng lợi từ các công ty liên doanh. Nhưng tình hình đang thay đổi, những doanh nghiệp nổi tiếng tại Mỹ đang thực hiện các giao dịch mới với đối tác Trung Quốc. Ngoài việc P&G bắt đầu kinh doanh các sản phẩm tẩy rửa và chăm sóc cá nhân tại Trung Quốc, những người mới đến còn có Bausch & Lomb, Johnson & Johnson, Nabisco, v.v. Chẳng bao lâu nữa người tiêu dùng Trung Quốc có thể mua bánh quy Nabisco và băng cá nhân Band-Aid do Trung Quốc sản xuất..."

Tháng 9, dây chuyền lắp ráp ô tô dài nhất trong nước (871 mét), sử dụng điều khiển máy tính, công suất 200 chiếc/ngày đã khánh thành tại công ty Thượng Hải Volkswagen. Kể từ khi lắp ráp thành công chiếc sedan Santana đầu tiên năm 1983, các chuyên gia Đức và Trung Quốc luôn nỗ lực nội địa hóa. Đầu năm, chính quyền thành phố Thượng Hải đã ra lệnh cứng cho Chủ tịch Thượng Hải Volkswagen Lục Cát An: "Năm nay tỷ lệ nội địa hóa phải đạt 25%, năm sau 50%, không được thiếu, nếu không ông phải từ chức vì lỗi của mình". Đến cuối năm, tỷ lệ nội địa hóa của Santana đã tăng từ 12,6% lên 30,6%. Những con số thống kê này được xem là thành quả rực rỡ nhất và có ý nghĩa chiến lược nhất năm đó.

Ngày 15 tháng 12, Đại học Bắc Kinh phát triển thành hệ thống xuất bản điện tử thế hệ mới. Tại "Hội nghị báo cáo kỹ thuật hệ thống xuất bản điện tử Bắc Đại Hoa Quang" tổ chức cùng ngày, hơn 300 đại biểu ngành báo chí, in ấn từ thủ đô và các tỉnh đã đến xem biểu diễn hệ thống này. Một đoạn văn 1.000 chữ dàn ngang, nếu biên tập muốn chuyển thành dàn dọc, một thợ sắp chữ lành nghề phải mất ít nhất mười phút để dùng tay xoay từng chữ chì. Bây giờ, chỉ cần gõ nhẹ vài phím, chưa đầy một phút là xong. Người phát minh ra công nghệ này là Giáo sư Vương Tuyển của Đại học Bắc Kinh, ông được ca ngợi là "Tất Thăng đương đại". Tập đoàn Phương Chính do ông sáng lập tại Trung Quan Thôn đã trở thành nhà cung cấp hệ thống sắp chữ điện tử lớn nhất Trung Quốc.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ngô Hiểu Ba