Cái chết hấp hối của Nhật Bản (Trích từ tác phẩm "Đại thảm sát thế giới" của Armin von Roon)
Lời người dịch tiếng Anh: Ngay khi cuốn "Đại thảm sát thế giới" vừa được xuất bản tại Đức, "Tập san Lưu trữ Học viện Hải quân Hoa Kỳ" đã cho dịch và đăng tải chương gây tranh cãi dưới đây. Vì tôi từng là Tư lệnh một phân đội thiết giáp hạm trong trận Vịnh Leyte, nên tòa soạn đã mời tôi viết một bài phản biện. Nay tôi xin đính kèm bài viết đó vào sau chương này.
Cuộc tấn công mà chúng ta phát động tại Ardennes vào cuối năm 1944, hay còn gọi là trận "Bulge", là một trận chiến diễn ra đồng thời với trận Vịnh Leyte. Trong cả hai trận chiến này, mỗi bên đều có một quốc gia đang đối mặt với thất bại phải thực hiện canh bạc tất tay. Hitler hy vọng có thể dọa nạt các nước Đồng minh phương Tây, từ đó dẫn đến hòa giải, để có được một khoảng lặng nhằm chống lại cuộc tấn công của người Nga; hắn thậm chí còn nuôi ảo tưởng hoang đường rằng Anh và Mỹ sẽ quay sang hỗ trợ hắn tác chiến. Trong khi đó, người Nhật hy vọng rằng người Mỹ sẽ bắt đầu chán ghét cuộc chiến tranh cách xa vạn dặm và cuối cùng đồng ý đàm phán hòa bình.
Cuộc tấn công Ardennes mà tác giả sẽ đề cập ở chương tiếp theo từng khiến Roosevelt và Churchill lo sốt vó trong vài tuần. Hai kẻ buôn chiến tranh già nua này đều tưởng rằng cục diện bại trận của Đức đã định, nhưng chúng ta đã chia cắt được chiến tuyến của họ tại Pháp, có thời điểm còn đạt được bước tiến lớn. Đáng tiếc là do Hitler vạch ra kế hoạch tác chiến quá tham vọng, chúng ta bị trói buộc về mặt chiến thuật, cộng thêm sức mạnh không quân của phe Đồng minh phương Tây quá lớn, có lẽ ngay từ khi bắt đầu, chúng ta đã định sẵn thất bại.
Tuy nhiên, người Nhật lại suýt chút nữa giành được một thắng lợi xoay chuyển càn khôn. Đó là nhờ sự ngu xuẩn của Tư lệnh Hạm đội Mỹ - Halsey đã tạo ra cơ hội. Và cũng chính sự ngu xuẩn hơn nữa của Tư lệnh Hạm đội Nhật - Kurita đã đánh mất cơ hội đó. Trận công thủ Vịnh Leyte là ví dụ lớn nhất về sự lỡ lầm quân cơ mà chúng ta có thể nghiên cứu. Quân nhân các nước đều nên lấy đó làm răn.
Chính trị và chiến tranh: Chiến tranh là chính trị thực hiện mục đích của mình bằng vũ lực. Bất kỳ hành động quân sự nào cũng khó lòng vượt quá mục đích chính trị của nó; nếu mục đích chính trị sai lầm, thì tiếng đại bác sẽ trở nên vô ích, máu đổ sẽ trở nên vô nghĩa. Những lời lẽ bình dị, dễ hiểu này của Clausewitz có thể giải thích nguyên nhân của thất bại gần như hoang đường tại Vịnh Leyte.
Cuối năm 1944, tình hình chính trị khu vực Thái Bình Dương như sau: Một mặt, nước Nhật đầy tham vọng, muốn xưng bá trong khu vực của riêng mình. Mặc dù đã bị chủ nghĩa đế quốc Mỹ đánh bại không thương tiếc, nhưng các nhà lãnh đạo của họ vẫn khăng khăng muốn đánh tiếp. Đầu hàng vô điều kiện là điều không thể tưởng tượng nổi đối với những kẻ cuồng tín võ sĩ đạo này. Thế nhưng, Franklin Roosevelt đã đưa ra yêu cầu như vậy để chiều lòng tâm lý người dân nước mình - những người chưa từng thấy một quả bom nào rơi xuống đất nước họ, họ đang chơi một cuộc chiến tranh kiểu Hollywood.
Vì đã hình thành thế bế tắc chính trị tại khu vực Thái Bình Dương - bởi xét về mặt quân sự, sau khi Tojo sụp đổ, người Nhật đáng lẽ đã phải cầu hòa - nên cần một cú hích quân sự để phá vỡ thế bế tắc này. Mỗi khi chiến tranh kéo dài, sẽ xuất hiện một vài phái chủ hòa: điều này công khai ở các nước dân chủ, còn ở các nước độc tài thì ẩn giấu bên trong nội bộ những kẻ cầm quyền. Mỗi khi xảy ra một cú hích, nó sẽ làm tăng cường phe chủ hòa ở quốc gia chịu cú hích đó. Khi ấy, người Nhật lập kế hoạch tạm thời rút lui, đợi đến khi người Mỹ đánh tới vòng phòng thủ nội địa của Đế quốc mới tung ra một đòn phản kích hủy diệt. Một khi đã tới cuối tuyến tiếp tế kéo dài, áp sát các căn cứ hải không quân Nhật Bản, lũ Yankee sẽ rơi vào thế bất lợi tạm thời, có lẽ sau khi chịu một đòn đại bại lúc đó, họ sẽ chấp nhận đàm phán hòa bình hợp lý.
Mục đích thực sự của người Mỹ khi phát động cuộc chiến xâm lược Philippines chẳng qua chỉ để thỏa mãn sự hư vinh của Tướng MacArthur, đồng thời làm dịu những lời phàn nàn ở chiến tuyến trong nước. Nhưng cuộc xâm lược này đã đẩy lực lượng lục quân mạnh nhất của Nhật Bản trên quần đảo Philippines vào cuộc chiến một cách không cần thiết. Cuộc chiến tranh tàu ngầm không hạn chế đáng sợ của Mỹ đã khiến những quân đội này rơi vào khốn cùng, hoàn toàn có thể để mặc họ chết đói ở đó. Thế nhưng, Douglas MacArthur muốn quay lại Philippines, còn Roosevelt lại muốn diễn màn kịch khôi phục lãnh thổ đã mất ngay trước thềm bầu cử.
Bề ngoài mà nói, việc chiếm đóng đảo Leyte - hòn đảo lớn ở giữa quần đảo - là để xây dựng vài kho tiếp tế và một căn cứ không quân lớn nhằm tấn công đảo Luzon. Thế nhưng, Leyte núi non trùng điệp, thung lũng bằng phẳng duy nhất quan trọng lại toàn là những cánh đồng lúa nước đọng đầy bùn lầy. Các mưu sĩ dưới quyền MacArthur đều phản đối việc chọn đảo Leyte để đạt được mục đích trên. Vị Nguyên soái này chỉ nóng lòng muốn thực hiện màn khải hoàn hoành tráng của mình mà không thèm để ý đến ý kiến của họ. Sau khi đảo Leyte bị chiếm đóng, nó chưa bao giờ trở thành một căn cứ tác chiến quan trọng. Tiến hành một trận hải chiến lớn nhất thế giới như vậy, chỉ để giành lấy một chiến lợi phẩm vụn vặt vô dụng.
Khi thực hiện kế hoạch tác chiến tấn công trung tâm Thái Bình Dương của Nimitz, cả hai vị tướng King và Spruance đều hiến kế tốt hơn để kết thúc cuộc chiến này. Cả hai đều đề nghị bỏ qua quần đảo Philippines. King chủ trương chiếm đóng Formosa (Đài Loan). Spruance - người không hề già dặn thận trọng như lời đồn - đã đưa ra kế hoạch táo bạo là đổ bộ lên đảo Okinawa. Một lần đổ bộ thực chất là vào vùng biển nội địa Nhật Bản như vậy, rất có thể tạo thành một cú hích, cuối cùng là lật đổ nội các thời chiến, thực hiện hòa bình. Khi đó, còn cách thời điểm bom nguyên tử trở thành hiện thực hơn nửa năm. Sự kiện man rợ ném bom Hiroshima có lẽ hoàn toàn không cần thiết. Nhưng chín tháng sau, đợi đến khi người Mỹ thực sự đi đánh Okinawa, người Nhật lại hạ quyết tâm tử chiến, lúc đó chỉ có sự thảm sát của bom nguyên tử mới có thể đánh thức họ khỏi cơn mê chiến.
Tóm lại, sự kiêu ngạo tự cho mình là đúng của Nguyên soái MacArthur và sự chơi đùa chính trị thâm hiểm của Franklin Roosevelt đã trao cho người Nhật một cơ hội. Nắm bắt được cơ hội này, đáng lẽ họ phải thắng. Người Mỹ đã lỡ lầm quân cơ, tiến thoái lưỡng nan, nhưng cuối cùng họ lại may mắn giành được một "thắng lợi" tạm chấp nhận được, đó là do một vị tướng Nhật phạm phải sai lầm khó tin.
Trong phần phân tích tác chiến, tôi đã mô tả chi tiết kế hoạch tác chiến "Số 1" của Nhật Bản, kèm theo nhiều bản đồ hải quân tác chiến từng ngày của bốn trận chiến chính. Phần tóm lược dưới đây chỉ bàn đến vài luận điểm đặc biệt gây tranh cãi trong trận Vịnh Leyte.
Đi qua eo biển Surigao để thực hiện gọng kìm kẹp đôi lực lượng đổ bộ của MacArthur là phương án không thể chê vào đâu được. Sử dụng mấy chiếc hàng không mẫu hạm mỏng manh của Ozawa làm hạm đội nhử địch cũng là chiến lược vô cùng khôn khéo. Trừ phi có thể lừa được Đệ tam Hạm đội của Halsey rời khỏi chiến trường, nếu không thì thế trận gọng kìm khó mà thành công. Tranh cãi chính tập trung vào vấn đề chiến lược của Halsey và Kurita.
Sau chiến tranh, khi các nước còn đang bận chôn cất những người tử nạn, vị tư lệnh người Mỹ chỉ huy sai lầm trong trận chiến trên, William F. Halsey, để che đậy sai lầm của mình đã vội vàng xuất bản một cuốn sách và đăng tải dài kỳ trên một tạp chí phổ thông. Cuốn sách này vừa mở đầu đã có mấy dòng do một tham mưu được cho là đồng tác giả viết: Năm 1946, Thống đốc Hải quân năm sao Halsey tham dự một buổi chiêu đãi, một người phụ nữ chen vào đám đông vây quanh ông, nắm lấy tay ông và hét lớn: "Lúc này tôi cảm thấy như đang chạm vào bàn tay của Chúa vậy!"
Câu đầu tiên trong "Câu chuyện của Tướng Halsey" đã giải thích tính cách của nhân vật này. Ông ta là một George Patton trên biển, là một kẻ hiếu chiến cuồng nhiệt và thích làm màu; thế nhưng, trong chiến công của ông ta, chúng ta không tìm thấy một sự kiện nào có thể sánh ngang với những chiến tích của Patton: cuộc tiến quân vào Sicily, cuộc hành quân thần tốc giải vây Bastogne trong trận "Bulge" hay quét sạch nước Đức với khí thế chẻ tre.
Những người chỉ trích việc Halsey chỉ huy trận Vịnh Leyte đều nhắm vào mấy vấn đề sau: 1. Ngay cả khi hàng không mẫu hạm của Ozawa dùng để nhử địch, quyết định truy kích chúng của Halsey có đúng đắn không? 2. Tại sao Halsey lại rời bỏ eo biển San Bernardino mà không phòng thủ? 3. Việc hàng không mẫu hạm hạng nhẹ của Sprague đột ngột chạm trán địch ở vùng biển ngoài khơi đảo Samar, ai nên chịu trách nhiệm?
Sau khi cuộc chiến đó kết thúc, ngay tối hôm đó Tướng Halsey đã gửi một bức điện khẩn cho Nimitz để biện hộ cho những điểm trên. Lúc đó ông ta và các tham mưu của mình đang lo lắng khôn nguôi về tình trạng hỗn loạn khủng khiếp do mình gây ra, chưa nghĩ ra được lý do nào để thoái thác trách nhiệm. Nhưng đợi đến khi Halsey viết cuốn sách đó, lời biện hộ của ông ta nghe ra đã rõ ràng hợp lý rồi.
1. Quyết định truy kích những hàng không mẫu hạm đó là đúng. Những hàng không mẫu hạm đó cấu thành mối đe dọa chính đối với cuộc chiến Thái Bình Dương. Nếu ông ta không tấn công chúng, chúng sẽ "ném bom con thoi" hạm đội của ông, máy bay sẽ bay từ boong hàng không mẫu hạm tới các sân bay Philippines rồi lại bay ngược về. Còn chuyện Ozawa nhử địch, Halsey cho rằng đó là lời nói dối khi hắn bị thẩm vấn. "Người Nhật suốt thời gian chiến tranh đều nói dối... Tại sao cứ đợi đến khi chiến tranh kết thúc, chúng ta lại phải tin từng lời của chúng chứ?"
2. Nếu để hạm đội ở lại eo biển San Bernardino, đó sẽ là hạ sách, vì người Nhật cũng sẽ "ném bom con thoi" Đệ tam Hạm đội ở đó. Để lại hạm đội thiết giáp hạm phòng thủ eo biển cũng là hạ sách. "Ném bom con thoi" đối với hạm đội phân tán, uy lực thậm chí còn mạnh hơn. Ông ta dẫn tất cả tàu thuyền của mình hành trình về phía bắc, như vậy có thể "giữ hạm đội của mình toàn vẹn và ở thế chủ động".
3. Việc bị tập kích ngoài khơi đảo Samar nên đổ lỗi cho Kinkaid. Kinkaid đã được thông báo rằng Halsey sẽ không kiêm nhiệm trông coi eo biển. Việc bảo vệ lực lượng đổ bộ của MacArthur và hàng không mẫu hạm hạng nhẹ của bản thân ông ta, tất cả đều do Kinkaid chịu trách nhiệm. Kinkaid không phái máy bay tìm kiếm về phía bắc, không kịp thời phát hiện hạm đội của Kurita tiến gần, đây là sự thiếu trách nhiệm của ông ta.
Những lời biện hộ không thể phản bác trên có lẽ có thể lừa được độc giả của mấy cuốn tạp chí đó, nhưng không thể lừa được các nhà sử học quân sự thông thường.
Nói đến "ném bom con thoi", chính Halsey từng nỗ lực chủ trương xâm lược đảo Leyte sớm hơn và cuối cùng được các tham mưu trưởng ba quân đồng ý. Khi đó lý do ông ta đưa ra là: gặp phải không quân cất cánh từ căn cứ Philippines, phát hiện sức kháng cự của chúng rất yếu ớt. Trong trận chiến Formosa, ông ta đã tiêu diệt phần lớn lực lượng không quân còn sót lại của Nhật. Ông ta tận mắt chứng kiến, phi công Nhật hiện tại thiếu kinh nghiệm, sức chiến đấu yếu đến đáng thương. Khi đích thân chỉ huy ném bom sân bay Luzon, ông ta hầu như không gặp phải tổn thất gì. Các vị tướng dưới quyền ông ta cũng đều cho rằng, binh lực bố trí trên hàng không mẫu hạm hạng nhẹ không thể là mạnh được. Lee - người tinh thông chiến lược - từng không biết mệt mỏi cảnh báo ông ta rằng đó là một hạm đội nhử địch. Việc bịa đặt câu chuyện "ném bom con thoi" chẳng qua chỉ là cố gắng chắp vá vài sự thật để tô điểm cho hành động ngu xuẩn của Halsey khi mắc mưu nhử địch của quân Nhật.
Halsey giải thích tại sao lại dẫn toàn bộ hạm đội đi về phía bắc, bỏ mặc eo biển, nói đó là để "giữ hạm đội của mình toàn vẹn", đó cũng là lời nói quá. Ông ta không cần thiết phải dẫn 64 chiến hạm đi đánh với 7 chiến hạm, lại càng không cần phải chỉ huy 10 hàng không mẫu hạm đi quyết chiến với 4 hàng không mẫu hạm. Chỉ cần dựa vào lẽ thường cũng biết, đáng lẽ nên để lại một hạm đội phòng thủ eo biển. Khi đó tất cả các tư lệnh cấp cao đều tưởng ông ta đã làm như vậy. Chỉ là do bức điện của ông ta soạn thảo cẩu thả không rõ ràng, nên họ mãi không nhận ra sự sơ suất của ông ta.
Đổ lỗi việc bị tập kích ngoài khơi đảo Samar cho Kinkaid, phong cách của Halsey cũng quá thấp kém. Bảo vệ eo biển San Bernardino vốn là trách nhiệm của Halsey, vả lại, trong số những người có mặt khi đó, ông ta là tướng hải quân cấp cao hơn. Nếu nói ông ta thực sự muốn Kinkaid gánh vác trọng trách này, thì ông ta phải nói rõ trong bức điện, tốt nhất là đi hỏi ý kiến Nimitz trước, mà lúc đó có dư dả thời gian để ông ta làm việc đó.
Halsey tại Vịnh Leyte về cơ bản đã phạm sai lầm mà Napoleon phạm phải tại Waterloo. Ông ta gặp hai đường quân địch, giáng một đòn nặng nề nhưng không mang tính quyết định vào một cánh quân, sau đó vì nhất tâm muốn đánh cánh quân thứ hai mà chỉ tin rằng cánh quân thứ nhất đã bị đánh tan, làm ngơ trước mọi bằng chứng ngược lại. Việc Kurita rút lui rồi lại tấn công tại Sibuyan, cũng giống như Blücher rút lui rồi tấn công tại Ligny vậy. (Độc giả có thể vui lòng đọc tác phẩm "Waterloo: Phân tích hiện đại" của tôi, xuất bản tại Hamburg năm 1937.)
Lý do Halsey cứ mãi không quên hạm đội hàng không mẫu hạm là vì ông ta muốn tranh cao thấp với Spruance. Kể từ lần bị bệnh, không thể tham gia trận Midway, ông ta vẫn luôn cảm thấy thất vọng. Ông ta cuồng nhiệt muốn đánh một trận thắng lớn tiêu diệt hàng không mẫu hạm. Một khi chiến sự xảy ra, ông ta muốn đích thân tham gia, đích thân chỉ huy. Vì lúc đó ông ta đang ở trên một thiết giáp hạm, ông ta muốn bố trí lực lượng của mình để thiết giáp hạm đánh chìm những chiến hạm địch đã bị thương, giành lấy một thắng lợi huy hoàng, thế là ông ta dẫn đại đội thiết giáp hạm tiến về phía bắc.
Roosevelt khi lựa chọn hai chiến lược khác nhau để đánh bại Nhật Bản của MacArthur và Nimitz - một là dùng hải quân vượt trung tâm Thái Bình Dương tấn công, một là dùng lục quân đi đường dài trên các quần đảo Nam Thái Bình Dương - đã dẫn đến tai họa tại Vịnh Leyte. Halsey là thuộc cấp của Nimitz. Kinkaid tuân theo lệnh của Nimitz trở thành thuộc hạ của MacArthur. Việc xâm lược đảo Leyte là thắng lợi chiến lược của MacArthur. Còn Halsey thì chỉ muốn truy kích hàng không mẫu hạm, cho rằng đây là đang thực hiện chiến lược của Nimitz. Một khi đã nuốt phải mồi câu của người Nhật, ông ta liền quên mất nhiệm vụ của mình tại Vịnh Leyte; tất nhiên, chúng ta giả định như vậy là vì cho rằng ông ta hiểu rõ nhiệm vụ của mình.
Halsey mãi không thừa nhận mình chỉ huy sai lầm tại Vịnh Leyte, chỉ chịu nói rằng việc quay tàu cứu viện Kinkaid làm không thỏa đáng mà thôi. Theo ông ta, sai lầm đó chỉ là do nóng giận và là do hiểu lầm. Nimitz hỏi lúc 10 giờ sáng: "Lực lượng đặc nhiệm số 34 hiện ở đâu?" Theo Halsey, ông ta cảm thấy ngạc nhiên vì câu hỏi này, bởi ông ta đã thông báo cho mọi người rằng hạm đội thiết giáp hạm đang cùng ông hành trình về phía bắc. Nhưng câu tiếp theo, "Cả thế giới ngạc nhiên", dường như là cố ý sỉ nhục ông ta, khiến ông ta vô cùng tức giận. Mãi một thời gian dài sau ông ta mới biết, hóa ra đó là mã trộn do sĩ quan giải mã thêm vào.
Mấy câu này nói rất vụng về, và nếu chúng đều là sự thật, nếu Halsey thực sự là do nóng giận, thì những việc ông ta làm càng tồi tệ hơn. Nhà sử học xuất sắc của Hải quân Mỹ là Morison cuối cùng cũng nương tay, ông không hề đề cập đến mấy lời biện hộ này trong tập sách mô tả trận Vịnh Leyte. Vả lại, Halsey cứ như vậy bày tỏ sự hối tiếc về việc duy nhất hợp lý mà mình làm trong trận Vịnh Leyte, đồng thời lại đổ lỗi sai lầm mà mọi người công nhận là ông ta phạm phải cho một kẻ vô danh nào đó quản lý máy mã hóa - theo cách nói của ông ta - là một "kẻ mạo hiểm".
Halsey là một vị tướng hổ trên báo chí mà Hải quân Mỹ không dám phủ nhận. Sau trận Vịnh Leyte, trong nội bộ từng lan truyền việc yêu cầu ông ta nghỉ hưu. Nhưng sau đó ông ta vẫn tại vị, để hạm đội gặp phải hai trận bão, tổn thất về tàu thuyền và nhân lực không kém gì một trận đại bại. Ông ta được thăng lên Thống đốc năm sao; khi người Nhật ký văn kiện đầu hàng, ông ta đứng cạnh Nimitz trên boong tàu "Missouri". Spruance lúc đó ở Manila. Spruance mãi không bao giờ nhận được ngôi sao thứ năm. Hitler đối xử với tham mưu của chúng ta rất không công bằng, nhưng Quốc hội và Hải quân Mỹ trong việc xử lý những chuyện kiểu này cũng nên chịu một phần trách nhiệm.
Kurita: Trước khi Kurita trở nên ngu xuẩn như vậy, ông ta đã đóng một vai trò vừa có phẩm chất cao quý vừa có yếu tố bi tráng tại Vịnh Leyte. Ông ta xuất phát khi gánh vác trọng trách hy sinh vì quốc gia. Hạm đội do ông ta chỉ huy dũng cảm chịu đựng sự đả kích và phá hoại của tàu ngầm và máy bay. Phần thưởng ông ta nhận được là phát hiện lối ra của eo biển San Bernardino không được phòng thủ. Ông ta đáng lẽ phải dũng cảm tiến lên, đột nhập vào Vịnh Leyte, một đòn tiêu diệt lực lượng đổ bộ của MacArthur. Nhưng ông ta đã không làm vậy, đối với Nhật Bản đây là một bi kịch, và như tôi sắp giải thích dưới đây, đối với Đức cũng là một bi kịch.
Kurita hành xử thất thường vào sáng ngày 25 tháng 10, đó là vì ông ta căng thẳng mệt mỏi đã tới giới hạn mà con người có thể chịu đựng, đồng thời do liên lạc của tàu Nhật xảy ra sai sót. Liên lạc của tàu Mỹ mặc dù được trang bị nhiều thiết bị tinh vi nhưng hiệu năng cũng rất kém; thế nhưng đối với công việc phía Nhật Bản, chúng ta chỉ có thể nói nó thật thảm hại. Giống như chúng ta tại Ardennes, Kurita còn thiếu sự hỗ trợ và trinh sát trên không. Ông ta đang tác chiến mù quáng trong những tình huống khó tưởng tượng.
Ông ta phạm ba sai lầm lớn, trong đó cái thứ ba là sai lầm quyết định thắng bại chiến cuộc tại Vịnh Leyte. Chỉ vì một người mất trí mà hy vọng cuối cùng của hai quốc gia lớn đều bị nghiền nát.
Sai lầm đầu tiên là ngay khi phát hiện hàng không mẫu hạm hộ tống của Sprague, đã ra lệnh "tổng tấn công". Ông ta đáng lẽ phải dàn thành đội hình chiến đấu rồi mới toàn tốc tấn công, một đòn tiêu diệt hạm đội của Sprague. Như vậy ông ta có thể hầu như không cần phải xáo trộn đội hình mà vẫn có thể thừa thắng tiến vào vịnh. "Tổng tấn công" - sai lầm mà người châu Á hay phạm phải khi bị kích động - đã thả tàu thuyền của ông ta ra như một đàn chó, để chúng tự đuổi theo con thỏ của mình. Thế là Sprague đã trốn thoát trong một trận hỗn loạn sau đó.
Sai lầm thứ hai là, ngay lúc những chiến hạm đã xáo trộn đội hình của ông ta có thể đuổi kịp Sprague, ông ta đột ngột ra lệnh cho chúng ngừng chiến đấu. Do thiết bị liên lạc tồi tệ, Kurita không hiểu rõ trận chiến diễn ra trong làn khói và mưa bão xa xôi phía nam. Ông ta tưởng rằng mình đánh trận này rất tốt, vì theo báo cáo của những thuộc hạ đang phấn khích, họ đã tấn công hàng không mẫu hạm lớn của Halsey, đánh tan chúng trên đường tiến đến Vịnh Leyte, và đánh chìm vài chiếc trong số đó. Thế là ông ta quyết định tiến vào vịnh.
Một vấn đề khiến các nhà văn quân sự khó hiểu là sai lầm chí mạng thứ ba mà Kurita phạm phải: ông ta đã đánh suốt dọc đường tới cửa Vịnh Leyte, không còn bị bất kỳ cản trở nào nữa, thế nhưng ông ta không tiến vào vịnh mà tự quay đầu rời đi.
Sau này, dưới sự thẩm vấn của người Mỹ, Kurita giải thích rằng trưa ngày 25 tháng 10, ông ta đã không còn làm được gì trong vịnh nữa. Chiến tuyến đổ bộ đã "củng cố", vấn đề là ông ta còn việc gì khác có thể làm. Ông ta nghe nói phát hiện một hạm đội hàng không mẫu hạm khổng lồ cách khoảng 100 hải lý về phía bắc (đây là tin đồn sai lệch), thế là ông ta quyết định tiến về hướng đó để tấn công hạm đội kia, có lẽ là muốn phối hợp hành động với Ozawa. Tiến về phía bắc đồng thời cũng có thể trốn thoát, tuy nhiên ông ta mãi không thừa nhận mình có ý định đó lúc bấy giờ.
Có một báo cáo mà Kurita quả thực không nhận được, đó là việc Ozawa bị Halsey tấn công trên vùng biển cách Vịnh Leyte 300 hải lý. Nếu Kurita lúc đó nhận được bức điện như vậy, ông ta sẽ tiến vào vịnh, hoàn thành nhiệm vụ của mình. Kurita không biết Halsey đã mắc mưu nhử địch, việc này đã giải đáp bí ẩn Vịnh Leyte.
Sự thất bại hoàn toàn về liên lạc lần này sẽ khiến người ta nhớ lại giai thoại Waterloo, nhưng không thể tha thứ cho sự hồ đồ của Kurita. Ông ta cũng giống như Halsey, quên mất mình đến đó để làm gì. Halsey bị sự cuồng nhiệt theo đuổi thắng lợi huy hoàng làm cho hồ đồ, còn Kurita thì bị tin tức không xác thực và rất nhiều bức điện mật mã của địch làm cho hồ đồ trong sự mệt mỏi. Lời cầu cứu của Kinkaid không khiến Kurita cảm thấy an tâm, xem ra ngược lại còn khiến ông ta thêm lo lắng, sợ rằng có một lực lượng viện binh mạnh mẽ kéo tới.
Tuy nhiên, những lý do này đều không thể trở thành căn cứ để biện hộ. Nhiệm vụ của Kurita không phải là xác định xem chiến tuyến đổ bộ của MacArthur đã "củng cố" hay chưa. Ông ta đến đó là để tiến vào vịnh, tiêu diệt lực lượng đổ bộ đó, khi cần thiết thì đồng quy vu tận với chúng, giống như ong bắp cày sau khi chích người thì chính nó cũng phải chết vậy. Đây là toàn bộ nhiệm vụ mà kế hoạch tác chiến "Số 1" quy định. Kurita đã nắm bắt được cơ hội hoàn thành nhiệm vụ này. Ông ta đã bỏ lỡ cơ hội và còn đào ngũ trước trận đánh. Khi đó, chỉ cần Ozawa gửi cho Kurita một bức điện ngắn không quá mười chữ - "Đang giao chiến ác liệt với hạm đội địch ở đông bắc Luzon" - thì trận chiến đó và toàn bộ cục diện chiến tranh sẽ vì thế mà thay đổi.
Bởi lẽ khi đó, thời điểm bầu cử Tổng thống Mỹ chỉ còn chưa đầy hai tuần. Ảo tưởng của nhiều người đối với gã lão ngụy quân tử trong Nhà Trắng và đám mưu sĩ giả danh dòng dõi danh gia vọng tộc của hắn đang dần tan vỡ. Đồng thời, trong dân gian còn râm ran lời đồn rằng hắn thực chất đã là kẻ "sống nay chết mai". Ưu thế của hắn trước đối thủ thuộc Đảng Cộng hòa là vô cùng mong manh. Nếu Roosevelt thất cử, đối thủ Đảng Cộng hòa là Dewey – người có kinh nghiệm non nớt và danh tiếng thấp kém hơn – lên làm Tổng thống, thì cục diện sau đó có lẽ sẽ khác biệt. Sự căm ghét của người Mỹ đối với chủ nghĩa Bolshevik có thể sẽ bùng phát công khai, từ đó kịp thời cứu vãn châu Âu khỏi ách thống trị của bóng ma Liên Xô, thay vì để sự tê liệt của chủ nghĩa cộng sản ăn mòn văn hóa và chính trị của chúng ta như hiện tại.
Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu phải hứng chịu một thất bại tại vịnh Leyte, người Mỹ sẽ phải cân nhắc lại chiến lược của họ, bao gồm cả đề xuất "đầu hàng vô điều kiện". Nếu có một nước Nhật vực dậy được ở phía sau, có lẽ người Nga sẽ tạm hoãn việc tiến quân ở mặt trận phía Đông. Mặc dù Đức và Nhật không còn hy vọng chiến thắng, nhưng chỉ cần điều kiện hòa đàm không quá khắc nghiệt như trước, cả hai nước đều có thể phục hồi nhanh chóng sau chiến tranh, trở thành một thế lực đáng tin cậy để đối trọng với chủ nghĩa cộng sản của Trung Quốc và Nga.
Thực tế thì sao? Nhờ may mắn tại vịnh Leyte, gã Roosevelt sắp gần đất xa trời này lại đạt được giấc mộng của mình, trong thời gian ngắn đập tan mọi sự cạnh tranh mà chủ nghĩa tư bản Mỹ gặp phải. Như vậy, cuối cùng hắn sẽ bán rẻ văn hóa Kitô giáo phương Tây của chúng ta cho những kẻ theo chủ nghĩa Marx. Nhưng xem ra điểm này chẳng hề lọt vào mắt hắn, cũng chẳng khiến hắn phải bận tâm.
"Hạm đội thiết giáp dàn trận chiến đấu"
Một bài viết phản bác Trung tướng Hải quân (đã giải ngũ) Victor Henry. Tôi không định bàn luận về địa chính trị độc đáo của Tướng Von Roon, đối với điều đó tôi chỉ đưa ra một vài phê bình chung, sau đó sẽ nói về trận đánh đó.
Roon vu khống trắng trợn Roosevelt, vị Tổng thống vĩ đại nhất của nước ta kể từ thời Lincoln. Những lời lẽ của hắn không đáng để phản bác, bởi kẻ nói ra những lời đó chỉ biết hết lòng bao biện cho tội ác của Adolf Hitler cho đến ngày tên quái vật đó tự sát bằng súng.
Cái gọi là "cú sốc" trong giai đoạn cuối của chiến tranh mà hắn nói đến rất thú vị. Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân ở Việt Nam từng gây chấn động một thời, chính là loại "cú sốc" như vậy; đó là sự giãy giụa cuối cùng của kẻ hấp hối, còn xét về phương diện tấn công, nó là một thất bại đắt giá. Chỉ vì Tổng thống Johnson từng cam kết với nhân dân Mỹ rằng quân cộng sản Nam Việt Nam đã xong đời, nên cuộc tấn công Tết Mậu Thân mới gây ra sự chấn động lớn trong công chúng, khiến nhiệt huyết của những người ủng hộ chiến tranh phai nhạt, còn làn sóng kêu gọi hòa bình lại chiếm ưu thế.
Tình hình Thế chiến II không giống như vậy. Nếu tiêu diệt được quân đội tại bàn đạp MacArthur, điều đó có thể ảnh hưởng đến việc đề xuất các điều kiện hòa đàm, nhưng Roon đã thổi phồng tầm ảnh hưởng của nó. Nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc chiến đó. Chiến dịch tàu ngầm bóp nghẹt nước Nhật, cuộc tấn công gọng kìm của Eisenhower và người Nga vào Đức: tất cả những điều này vẫn phải tiếp tục. Còn việc Tổng thống Roosevelt thất cử, đó là một giả thuyết không thể định đoạt theo ý muốn của ông được.
Cách nói của Roon về một số sự thật là không đáng tin cậy. Kế hoạch chiếm đóng đảo Okinawa của Spruance vẫn còn phải giải quyết một vấn đề hậu cần, đó là việc vận chuyển đạn dược vũ khí hạng nặng trên biển. Cuộc tiến quân vào Philippines là do Nimitz nghiên cứu kỹ lưỡng mới phê chuẩn.
Tôi cho rằng Roon đã có những phê bình nông cạn và khinh suất đối với Kurita và Halsey. Muốn thấu hiểu bản chất trận vịnh Leyte, phải nắm rõ tình hình diễn biến trận đánh, địa hình nơi đó, cũng như ảnh hưởng của khoảng cách trên biển và trên không đối với cuộc chiến đấu đẫm máu. Tôi đã có mặt tại chiến trường lúc đó, tôi có thể chỉ ra những lời lẽ đầy thiên kiến và hằn học của Roon.
Sai lầm của Kurita. Sau đây là những lời chỉ trích của Roon đối với tác chiến của Kurita vào ngày 25 tháng 10: Một, ra lệnh "tổng tấn công".
Roon dựa theo quan điểm của Morison để chỉ trích hành động này.
Tuy nhiên, chúng ta nên cân nhắc: Hạm đội mặt biển của Kurita bất ngờ chạm trán với các tàu sân bay. Trước đó, các tàu sân bay đã giáng cho ông ta một đòn kinh hoàng, đánh chìm tàu "Musashi". Trước khi tàu sân bay phát động tấn công, luôn cần thời gian để tiến vào vị trí thuận lợi hơn. Nếu Kurita có thể nhân lúc chúng chưa kịp điều động để lao tới, dùng pháo hỏa lực đánh chìm chúng, thì ông ta đã có thể nắm bắt cơ hội tốt nhất để tiêu diệt đối phương. Vì vậy ông ta mới điều động toàn bộ tàu chiến, lập tức phát động tổng tấn công. Đây không phải là "sai lầm của người châu Á khi nóng giận", đây là một đòn tấn công táo bạo đầy quyết đoán. Cách nói mang tính phân biệt chủng tộc này của Roon thật đáng tiếc.
Kurita tiếp tục giành thế thượng phong, ngăn chặn các tàu sân bay đó phát động tấn công và chỉnh đốn đội hình trong trận truy kích. Ông ta tác chiến như vậy cũng là có tính toán. Thực tế, tàu của ông ta cuối cùng đã đuổi kịp Sprague, và việc "Taffy 3" có thể thoát nạn, đúng như Sprague đã nói trong báo cáo chiến trận, chỉ là do "Thượng đế toàn năng hiển nhiên đã thiên vị".
Hai, dừng truy kích. Nếu có thể nhìn thấu đáo như dùng thước đo 20/20, thì hành động này rõ ràng là sai lầm. Tuy nhiên, lúc đó ở trên tàu "Yamato" cách xa phía Bắc, Kurita chẳng nhìn thấy gì rõ ràng cả. Đáng lẽ ông ta không nên tránh đường đi của ngư lôi, mà nên chuyển hướng về phía Nam, tiến vào và quét sạch ngư lôi. Khi đó ông ta đã nắm chắc phần thắng.
Kurita nhận được một số báo cáo không đúng sự thật từ cấp dưới. Điều này lại lặp lại sai lầm ở Formosa. Nếu ông ta không tin vào những báo cáo đó, ông ta đã giành được chiến thắng lớn nhất kể từ trận Midway. Nhưng các cuộc không kích ngày càng dày đặc, thời gian trôi qua, ba tàu tuần dương hạng nặng của ông ta đã tê liệt trên biển, đang bốc cháy. Các tàu của ông ta phân tán rải rác trên vùng biển bốn mươi dặm vuông. Ông ta quyết định tập hợp chúng lại rồi tiến vào vịnh. Nếu xét đến những thông tin sai lệch đó, phải nói rằng hành động của ông ta là hợp lý.
Ba, rời khỏi vịnh Leyte. Điều này là không thể tha thứ. Tuy nhiên, từ "ngu xuẩn" rốt cuộc không phải là từ ngữ miệt thị mà một quân nhân chuyên nghiệp nên dùng. Roon đã bỏ qua những yếu tố có thể thông cảm được.
Kurita mất hơn ba tiếng đồng hồ để tập hợp tàu bè. Không kích làm trì hoãn hành động này, những chiếc máy bay gầm rú và tiếng bom nổ liên hồi chắc chắn đã kích động ông ta đến mức gần như phát điên. Đến khi ông ta sẵn sàng tiến vào vịnh thì đã gần một giờ chiều. Kế hoạch đột kích của ông ta đã tan thành mây khói. Theo suy đoán của ông ta – và ông ta đoán rất đúng – dù Halsey lúc đó ở đâu, thì ông ta cũng đang nhanh chóng quay lại. Không có tin tức gì về Ozawa, hạm đội phía Nam rõ ràng đã không thể tiến vào vịnh. Kurita cảm thấy vịnh Leyte đã trở thành một cái bẫy chết chóc, nơi tập trung dày đặc máy bay từ các căn cứ trên đất liền và tàu sân bay. Tất cả tàu của ông ta sẽ bị đánh chìm trước khi kịp giao tranh với hạm đội của MacArthur vào tối hôm đó.
Có lẽ Kurita đã hoảng loạn. Chúng ta đều sẽ nghĩ: nếu lúc đó là mình, dù thế nào cũng phải xông vào vịnh Leyte. Tuy nhiên, nếu thực sự tự soi xét lại, thì chúng ta dù không tán dương, ít nhất cũng sẽ thấu hiểu hành động của Kurita.
Người thực sự "giải quyết vấn đề" tại Leyte là vị tướng tài ba của Mỹ mà chỉ còn ít người hoài niệm hoặc ngưỡng mộ: Clifton Sprague. Ông đã phá hỏng kế hoạch tác chiến "Sho-1", bảo toàn danh dự cho Halsey và bàn đạp của MacArthur. Ông đã khiến Kurita chậm mất sáu tiếng đồng hồ quyết định cục diện: hai tiếng rưỡi truy kích, ba tiếng rưỡi chỉnh đốn tàu bè. Qua trưa rồi, tiến vào vịnh khó mà nắm chắc phần thắng.
Kurita không phải vì một quyết định sai lầm hay một bức điện thất lạc mà thua trận tại Leyte. Còn Hải quân Mỹ là nhờ sự dũng cảm của một số tướng sĩ mới thắng được trận chiến này. Nhìn chung, trong trận vịnh Leyte, Hải quân Nhật đã bị đánh tan tác, từ đó về sau không thể ra khơi nghênh chiến được nữa. Phía chúng ta tuy phạm một số sai lầm, nhưng trận vịnh Leyte là một chiến thắng vẻ vang chứ không phải là "tạm được", chiến thắng này là kết quả của một cuộc chiến cam go. Chúng ta chiếm ưu thế tại eo biển Surigao và phía Bắc, nhưng ở ngoài vịnh Leyte thì lại ở thế yếu, mà trận chiến ở đó lại là quan trọng nhất.
Ba chiếc tàu khu trục của Sprague – "Johnston", "Hoel", "Heermann" – đột kích từ màn khói và màn mưa, lao thẳng vào pháo chính của các thiết giáp hạm và tàu tuần dương của Kurita. Hình ảnh của chúng mãi mãi khiến tôi nhớ đến cách người Mỹ chiến đấu trong thế yếu. Học sinh của chúng ta nên biết về sự kiện này, kẻ thù của chúng ta nên từ sự kiện này mà suy ngẫm sâu sắc.
Sai lầm của Halsey. Trong đời tôi chưa bao giờ tức giận như với Halsey tại Leyte. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ cảnh tượng phẫn nộ và thất vọng lúc đó. Mỗi khi nghĩ đến việc lỡ mất cơ hội, không thể dàn đội hình thiết giáp hạm ngoài eo biển San Bernardino để đánh một trận, tôi lại thấy khó chịu.
Tôi không định bào chữa cho việc Halsey trúng kế dụ địch của Ozawa hay việc không để lại hạm đội để chặn đánh Kurita. Đó đều là những sai lầm của ông ta. Roon đã chỉ trích những cái cớ thoái thác trách nhiệm mà ông ta đưa ra, đánh trúng vào điểm yếu của ông ta. Halsey quá nóng lòng muốn thắng nhanh, không thể bình tĩnh phân tích – điều mà tôi đã nhận ra khi còn là thiếu úy trên tàu khu trục của ông ta – và điều đó dẫn đến thất bại của ông ta. Nếu lúc đó ông ta ở lại eo biển San Bernardino, phái Mitscher đi truy kích Ozawa, hoặc nếu ông ta chỉ cần để lại Lee và hạm đội thiết giáp để phòng thủ, thì ông ta đã có thể đánh bại cả hai hạm đội của Nhật, và tên tuổi của William Halsey sẽ được ghi vào sử sách cùng với John Paul Jones. Nhưng kết quả thì sao, cả hai hạm đội đều thoát được một phần, còn những lời chê trách dành cho ông ta thì không thể bào chữa được.
Tuy nhiên, tôi cho rằng những lời chỉ trích của Armin von Roon đối với Tướng Halsey cũng có nhiều điểm sai sự thật.
Halsey lo ngại về các đợt không kích con thoi; thực tế chứng minh đó không phải là ông ta ngụy biện cho bản thân. Ngày 25 tháng 10 vừa bắt đầu chưa đầy hai tiếng, máy bay cất cánh từ đảo Luzon đã đánh chìm tàu "Princeton". Halsey lo ngại bị tấn công như vậy, sự lo lắng của ông ta là đúng. Tuy nhiên, nếu ông ta quá lo ngại thì lại là chuyện khác.
Bất cứ ai làm quân nhân đều đã đọc (hoặc nên đọc) cuốn "Chiến tranh và Hòa bình" của Leo Tolstoy, cuốn sách này đề cập đến một số lý thuyết lịch sử và quân sự khá đáng bàn; trong đó có một quan điểm cho rằng thực tế các kế hoạch chiến lược và chiến thuật trong chiến tranh không có tác dụng gì cả. Chiến tranh có vô vàn biến hóa, toàn bộ là một mớ hỗn độn, tất cả đều dựa vào ngẫu nhiên. Tolstoy đã nói như vậy. Và trong chiến đấu, đa số chúng ta cũng thường có suy nghĩ này. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Lấy ví dụ của Mỹ, các chiến dịch do Grant và Spruance chỉ huy cho thấy, nếu muốn nắm chắc phần thắng, cần phải lập ra những kế hoạch vững chắc. Tuy nhiên, tác giả trên cũng chỉ ra một điểm rất thuyết phục, đó là thắng lợi hoàn toàn dựa vào tinh thần dũng mãnh của cá nhân trên chiến trường, dựa vào việc một người trong khoảnh khắc thắng bại chưa phân đã chém tướng đoạt cờ, hô vang "Vạn tuế!" xông pha trận mạc. Và đây cũng là một chân lý mà ai cũng biết.
Trong chiến tranh Thái Bình Dương, William F. Halsey chính là một nhân vật như vậy.
Halsey chỉ huy sai lầm tại Leyte, quả thực có người muốn ông ta từ chức, nhưng khi đó một số nhân vật có quyền thế khẳng định ông ta là "quốc bảo", thiếu ông ta không được. Ý nghĩ của những người này cũng đúng. Chỉ có một số sĩ quan chuyên nghiệp – cùng với một số tướng lĩnh cao cấp – mới biết Spruance là ai. Tương tự, rất ít người biết Nimitz và King là ai. Tuy nhiên, những người mới nhập ngũ đều biết "Bò tót" Halsey, đều cảm thấy dưới sự chỉ huy của ông ta ra khơi tác chiến vừa an toàn vừa đáng tự hào. Trong những ngày đen tối ở đảo Guadalcanal, một tiếng hô "Vạn tuế!" của ông ta đã khiến những quân nhân đã mất ý chí chiến đấu của chúng ta lấy lại niềm tin, họ dũng cảm tiến lên và giành chiến thắng trong trận chiến đẫm máu đó.
Chiều ngày 25 tháng 10, Halsey gọi tôi đến nghe liên lạc giữa các tàu. Lúc đó tôi đang chỉ huy Phân hạm đội thiết giáp số 7 trên tàu "Iowa", còn ông ta ở trên tàu "New Jersey". Chúng tôi đang chuẩn bị dẫn đầu phần lớn tàu chiến, vội vã quay lại cứu Kincaid. Ông ta dùng giọng điệu hùng tráng và vui vẻ như một cầu thủ bóng bầu dục xuất sắc dẫn cả đội phản công – không phải ra lệnh cho tôi, mà là hỏi tôi – xem tôi có nghĩ rằng có thể dẫn đầu Phân hạm đội thiết giáp số 7, với tốc độ tối đa tiến lên phía trước để tấn công Hạm đội Trung tâm hay không. Tôi bày tỏ sự đồng ý. Ông ta cử tôi làm chỉ huy chiến thuật, thế là chúng tôi lướt sóng tiến lên với tốc độ 28 hải lý/giờ.
Chúng tôi không gặp Kurita. Kurita đã quyết định không tiến vào vịnh, vài tiếng trước đó ông ta đã đi qua eo biển San Bernardino mà chạy trốn. Khoảng hai giờ đêm, chúng tôi phát hiện một chiếc tàu khu trục tụt lại phía sau, tàu hộ tống của chúng tôi đã đánh chìm nó. Halsey viết trong cuốn sách của mình rằng đó là trận pháo chiến duy nhất ông ta nhìn thấy trong suốt 43 năm trên biển.
Tôi tuy rất giận Halsey, nhưng sau cuộc liên lạc hôm đó, tôi đã tha thứ cho ông ta. Vội vã điều động hai thiết giáp hạm đi đánh một trận đêm với Kurita, đây là một hành động khinh suất, có lẽ cũng liều lĩnh như việc ông ta truy kích Ozawa vậy. Tuy nhiên, mỗi khi nghe ông ta hô "Vạn tuế!", tôi không thể không hưởng ứng theo. Spruance có lẽ sẽ không xông pha như thế, nhưng Spruance cũng sẽ không dẫn sáu chiếc thiết giáp hạm lao về phía Bắc 300 hải lý, rồi lại quay về phía Nam 300 hải lý, trong suốt một trận đại chiến mà không bắn một phát súng nào. Đây chính là phong cách của Halsey, ở điểm này có thể thấy được ưu điểm, cũng có thể thấy được khuyết điểm của ông ta. Tôi và Halsey đã thực hiện kế hoạch tác chiến thành lập hạm đội thiết giáp tại Leyte, tìm kiếm tàu địch trong đêm nhiệt đới, nín thở vì sự chênh lệch lực lượng quá lớn. Kết quả chẳng thu được gì, có lẽ tôi là một kẻ ngốc, nhưng tiếng "Vạn tuế!" cuối cùng mà tôi nghe thấy trong suốt cuộc đời binh nghiệp vẫn để lại cho tôi một kỷ niệm đẹp.
"Thành lập hạm đội thiết giáp"
Người ta sẽ không còn nghe thấy mệnh lệnh như vậy nữa. Thời đại của hải chiến đã kết thúc rồi. Công nghệ công nghiệp đã phá vỡ khái niệm quân sự truyền thống này. Có lẽ, một thủy thủ già nua cuối cùng cũng sẽ bàn vài lời về bài học thực sự rút ra từ vịnh Leyte.
Trong thời đại khoa học và công nghiệp này, Leyte đã trở thành di tích của một cuộc chiến tranh đầy rẫy sự man rợ và ngu xuẩn của nhân loại. Chiến tranh từ trước đến nay vẫn là một trò chơi trốn tìm bạo liệt, trò chơi này được chơi bằng sinh mạng con người và tài sản quốc gia. Tuy nhiên, thời đại chơi trò này giờ đã kết thúc rồi.
Khi một dân tộc đã tiến bộ đến mức không còn dùng con người làm vật hy sinh, không còn dùng người làm nô lệ, không còn tham gia đấu tay đôi, thì họ phải ngừng tiến hành chiến tranh. Phương tiện chiến tranh đã khiến thành quả của nó trở nên vô nghĩa, máy móc hủy diệt trong chính trị đã trở thành thứ không đáng dùng. Tại Leyte chính là tình trạng này. Phát động một hạm đội khổng lồ, đại chiến một trận ở đó, tiêu tốn lượng nhân lực và tiền bạc quốc gia không thể tưởng tượng nổi, phó mặc vận mệnh quốc gia cho một hai ông già đang bị kích động, thiếu thông tin, sức lực suy kiệt, dựa vào quyết định của họ dưới áp lực không thể đảm đương: điều này quả thực là "ngu xuẩn". Làm việc ngốc nghếch như vậy, nếu không phải vì kết cục quá bi thảm, thì nó giống như đang diễn một vở kịch hài tồi tệ.
Đúng, chúng ta thừa nhận tất cả những điều đó, nhưng lúc đó ngoài việc đánh một trận tại Leyte, còn cách nào khác đâu? Hoàn cảnh của chúng ta khi đó là như vậy, và bây giờ vẫn là như vậy.
Bốn mươi năm trước, khi tôi còn là một thiếu tá hải quân, những người theo chủ nghĩa hòa bình nói chung ở nước ta đã chỉ ra một cách đúng đắn rằng, chiến tranh công nghiệp hóa đã là lỗi thời, ngu xuẩn, mà Hitler và những kẻ quân phiệt Nhật Bản kia, để đạt được mục đích tội ác cướp bóc thế giới, đang chuẩn bị cho mình tất cả những vũ khí khủng khiếp nhất mà khoa học và công nghiệp có thể cung cấp. Để ngăn chặn hành vi tội ác này, các quốc gia nói tiếng Anh và nước Nga đã tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa. Chúng ta đã phải trả cái giá khủng khiếp mới giành được thắng lợi. Nếu lúc đó chúng ta buông vũ khí, để Đức Quốc xã chiếm thế thượng phong, thống trị toàn thế giới, thì thế giới này sẽ trở thành bộ dạng như thế nào?
Hiện nay, khi mỗi người có hiểu biết đều lo lắng, ẩn chứa nỗi sợ hãi về vũ khí hạt nhân, thì những kẻ độc tài theo chủ nghĩa Marx ngu muội ở Điện Kremlin lại đang thống trị những người đồng đội cũ của chúng ta, thống trị dân tộc vô cùng vĩ đại, vô cùng anh hùng, vô cùng bất hạnh đó; họ xử lý công việc đối ngoại như thể Nữ hoàng Catherine vẫn còn đang nắm giữ quyền lực ở đó; chỉ là họ gọi chính sách Sa hoàng tham lam không đáy của mình là "cuộc đấu tranh chống thực dân" mà thôi.
Tôi không biết làm thế nào để giải đáp vấn đề luôn làm con người phiền muộn này, tôi cũng không hy vọng có thể sống đến ngày vấn đề này có lời giải. Tôi tôn trọng những thanh niên trong quân đội chúng ta, mặc dù họ phải vận hành những cỗ máy có uy lực khủng khiếp, làm cái nghề mà chính người dân nước họ vừa khinh miệt vừa sợ hãi. Tôi chân thành tôn trọng họ, đồng cảm với họ. Sự hy sinh của họ còn lớn hơn nhiều so với những gì chúng ta đã làm trước đây. Trước đây chúng ta vẫn còn giữ niềm tin và hy vọng vào khoảnh khắc vĩ đại "thành lập hạm đội thiết giáp" đó. Đất nước chúng ta vì điều đó mà tôn trọng chúng ta. Chúng ta cũng cảm thấy tự hào. Nhưng thời đại đó đã qua rồi. Kể từ sau khi hứng chịu hai thảm họa lớn, người ta cứ nghĩ đến chiến tranh công nghiệp hóa là thấy căm thù. Tuy nhiên, khi trên thế giới vẫn còn những kẻ ngốc hiếu chiến hoặc những kẻ ác nhân cho rằng chiến tranh là một chính sách có thể lựa chọn, thì người tự do còn cách nào khác? Đối phó với lũ người này, đành phải giống như đối phó với người Nhật tại Leyte, giống như đối phó với Adolf Hitler trên bầu trời nước Anh năm 1940: phải tung ra sức mạnh răn đe tất cả, phải có tinh thần dũng cảm hy sinh bản thân sẵn sàng sử dụng sức mạnh đó.
Nếu chúng ta không thể hy vọng vào một "vị vua hòa bình" xuất hiện, thì chúng ta chỉ có thể hy vọng rằng đa số mọi người, thậm chí là những kẻ theo chủ nghĩa Marx ngông cuồng nhất, ngu xuẩn nhất, thậm chí là những kẻ chủ nghĩa dân tộc và những kẻ cách mạng điên cuồng nhất, sẽ từ sâu trong lòng yêu thương con cái họ, không đành lòng nhìn chúng bị thiêu sống. Chắc chắn không có một chính trị gia nào ngu xuẩn đến mức muốn phát động một cuộc chiến tranh hạt nhân tại Leyte. Hiện tại xem ra, tương lai sẽ phụ thuộc vào một giả thuyết đáng sợ như thế này: hoặc là chúng ta kết thúc chiến tranh, hoặc là chiến tranh kết thúc chúng ta.