Chiến Tranh và Hồi Ức (1941–1945)

Lượt đọc: 339 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 78

❊ ❊ ❊

Một hành trình của người Do Thái (trích từ bản thảo của Aaron Jastrow)

Ngày 22 tháng 4 năm 1944.

Natalie đi dự một cuộc họp bí mật của những người theo chủ nghĩa Zion, còn tôi đang đợi cô ấy trở về. Đây là một đêm xuân mát mẻ, đầy sự chờ đợi và âu lo. Ngay ngày hôm qua, nhân viên của phong trào "Làm đẹp" đã đặt vài chậu hoa phong lữ trên bậu cửa sổ của chúng tôi, hương thơm dịu dàng từ những chậu hoa ấy bay vào phòng. Tôi cho rằng cô ấy đang từng bước tiến vào hiểm cảnh khôn lường. Mặc dù biết sẽ gây ra một trận cãi vã mà tôi không đủ sức đối phó, nhưng tôi vẫn dự định sẽ nói chuyện rõ ràng với cô ấy sau khi cô ấy trở về.

Đã bao nhiêu ngày trôi qua kể từ lần cuối tôi viết nhật ký? Chính tôi cũng không biết nữa. Những trang cuối cùng đã được cất giấu từ lâu. Công việc của phong trào "Làm đẹp" tại thư viện và ủy ban đã vắt kiệt sức lực của tôi. Thêm vào đó, sau bài diễn thuyết của tôi về bộ "Iliad", sự xuất hiện của Berel khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Đây là một sự việc rất khó để ghi chép lại, vì thế tôi cứ trì hoãn, trì hoãn, để ngày tháng dần trôi. Bây giờ, tôi phải bổ sung lại. Tôi đã chuẩn bị sẵn một chương Talmud để dạy vào ngày mai. Đây là cách tốt nhất để giết thời gian còn sót lại. Trước khi cô ấy trở về, tôi sẽ không đi ngủ.

Đêm đó, Berel bước ra từ bóng tối khiến tôi giật mình kinh hãi. Một cuộc gặp gỡ kỳ quái và đáng sợ làm sao! Đã gần năm mươi năm tôi không gặp lại ông ấy. Chao ôi, thời gian đã gây ra biết bao đổi thay! Chàng thanh niên có khuôn mặt đỏ hồng, bụ bẫm ngày nào giờ đã trở thành một người đàn ông vẻ mặt nghiêm nghị, già nua, với mái tóc xám dày, chiếc cằm rộng, nhô ra, đôi lông mày rậm cau lại, và những nếp nhăn sâu hoắm trên khuôn mặt được cạo sạch sẽ. Trong nụ cười của ông chỉ còn sót lại một chút vẻ thân thiện ma quái mà thôi. Ông mặc quần áo rách rưới, chiếc áo khoác da cừu cũ nát có đính ngôi sao vàng làm vật che mắt, trông giống người Ba Lan hơn là người Do Thái, nếu khái niệm về diện mạo chủng tộc này có chút đạo lý nào. Ông trông hệt như một lão nông Silesia đáng sợ và đa nghi, cẩn trọng, vô cùng căng thẳng, khi đi cùng chúng tôi thì không ngừng nhìn đông ngó tây, chốc chốc lại ngoái đầu nhìn lại. Ông nói, ông đến khu Do Thái để thực hiện một nhiệm vụ, trước bình minh sẽ rời đi; ông không giải thích mình đã vào bằng cách nào, hay dự định sẽ rời đi ra sao.

Ông cùng chúng tôi đi về phòng, vừa đến nơi đã đề nghị đưa Louis ra khỏi Theresienstadt! Natalie vừa nghĩ đến chuyện này, sắc mặt liền trắng bệch. Thế nhưng, khi nghe tin người Đức vừa ra lệnh trục xuất thêm một đợt người nữa, tâm trí cô ấy dao động, sẵn lòng lắng nghe tiếp. Ý tưởng của Berel là gửi đứa trẻ đến nhà một nông dân ở Séc, trước khi bị áp giải đến Theresienstadt, một số người Do Thái ở Prague cũng đã tìm cách làm như vậy cho con cái họ. Cách này rất thành công; cha mẹ thỉnh thoảng vẫn nhận được tin tức của con cái, thậm chí còn nhận được những lá thư do những đứa trẻ lớn lén gửi vào. Để đưa Louis ra ngoài, trước tiên phải làm vài chẩn đoán giả để nó được nhập viện. Về việc này, Berel nói ông có vài mối quan hệ cần thiết tại phòng y tế, có thể lấy được giấy chứng tử để đáp ứng yêu cầu của danh mục lưu trữ tại Ban thư ký trung ương, thậm chí có thể tổ chức một đám tang hoặc lễ hỏa táng giả. Đứa trẻ sẽ được bí mật đưa ra khỏi bệnh viện, lặng lẽ chuyển đến Prague. Berel sẽ đón nó ở đó, đưa đến trang trại, rồi thường xuyên đến thăm và truyền đạt tin tức của nó cho Natalie. Chiến tranh có thể sẽ còn kéo dài thêm một hoặc hai năm nữa, nhưng dù có chuyện gì xảy ra, Berel cũng sẽ chăm sóc cho nó.

Khi Berel nói, sắc mặt Natalie ngày càng chán nản, ngày càng khó coi. Việc này có cần thiết không? Cô ấy hỏi. Louis rất dễ thích nghi và đang phát triển khỏe mạnh. Mỗi ngày được gặp mẹ là điều hạnh phúc nhất đối với nó. Berel không bác bỏ bất kỳ lý do nào trong số đó, nhưng ông kiên quyết rằng, nhìn chung, tốt nhất vẫn nên để Louis đi. Bệnh tật, suy dinh dưỡng, trục xuất và sự tàn bạo của người Đức là những mối nguy hiểm thường trực ở đây, đáng sợ hơn nhiều so với việc mạo hiểm đưa nó ra ngoài. Natalie không thể đưa ra lý do nào khác. Ở đây, tôi đang trích lục lại cuộc trò chuyện kéo dài hơn một giờ đồng hồ bằng tiếng Yiddish. Sau đó, Berel kết thúc cuộc trò chuyện, nói rằng ông có việc muốn nói riêng với tôi. Natalie bèn đi ngủ. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Ba Lan, ngôn ngữ mà cô ấy không hiểu.

Cây bút chì của tôi ngừng lại. Làm sao để viết ra những điều ông ấy đã nói với tôi đây?

Tôi không định tóm tắt lại những chuyến đi và nỗi thống khổ mà ông ấy phải chịu đựng. Trí tưởng tượng trở nên tê liệt, niềm tin cũng chẳng còn tác dụng. Đức đã biến Đông Âu thành địa ngục, và Berel đã đi qua cả bảy tầng địa ngục đó. Những truyền thuyết tồi tệ nhất về số phận người Do Thái không chỉ là sự thật, mà còn là lời tường thuật giảm nhẹ so với thực tế. Người em họ của tôi đã tận tay khai quật hàng ngàn người đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị sát hại từ các hố chôn tập thể, rồi hỏa táng họ. Những ngôi mộ như vậy rải rác khắp nơi gần các thành phố nơi người Do Thái từng sinh sống ở Đông Âu. Theo ước tính thận trọng của ông, có khoảng một triệu rưỡi thi thể đã bị chôn vùi.

Tại một số trại, bao gồm cả trại ở ngoại ô Auschwitz - thành phố cổ kính từng có trường học Talmud - có những tầng hầm chứa khí độc khổng lồ, có thể giết chết hàng ngàn người trong một lần. Một đám đông có thể lấp đầy một nhà hát lớn, bị nhét vào một tầng hầm khổng lồ, ngay lập tức đều bị ngạt thở mà chết! Họ vừa từ khắp nơi ở châu Âu đi tàu hỏa kín mít đến, vừa xuống tàu là bị sát hại ngay tại đó. Những lò hỏa táng khổng lồ thiêu rụi thi thể. Những ống khói cao vút ngự trị trên khung cảnh của trại, mỗi khi có một "chiến dịch" diễn ra, ống khói lại phun ra lửa, khói dầu cùng cặn bã và tro cốt của con người suốt hai mươi bốn giờ không nghỉ. Berel không kể lại những lời đồn đại. Ông đã làm việc trong một đội xây dựng, từng xây dựng một trong số những lò hỏa táng đó.

Những người Do Thái không bị sát hại ngay lập tức đều phải làm việc đến chết. Họ là nô lệ trong các nhà máy quân sự khổng lồ, khẩu phần ăn được tính toán để khiến họ sớm chết đói.

Ông nói, chúng ta, những người Do Thái ở Theresienstadt, chỉ là những con bò trong chuồng, đang đợi đến lượt mình. Phong trào "Làm đẹp" là một "án treo" vô cùng may mắn, nhưng ngay ngày hôm sau khi Hội Chữ thập đỏ của các nước trung lập đến thăm, công việc trục xuất sẽ lại bắt đầu. Hy vọng của chúng ta là sự thắng lợi của quân Đồng minh. Cuộc chiến này chắc chắn sẽ bất lợi cho người Đức, nhưng cái kết vẫn còn xa, trong khi công việc diệt chủng người Do Thái đang được đẩy nhanh. Tổ chức của ông (ông không nói rõ là tổ chức nào, tôi đoán có lẽ là Đảng Cộng sản) đang lên kế hoạch cho một cuộc khởi nghĩa, phòng trường hợp có lệnh trục xuất quy mô lớn, hoặc lực lượng SS phát động một cuộc tàn sát tại Theresienstadt. Nhưng đó sẽ là một công việc liều lĩnh, Natalie và Louis khó có khả năng sống sót trong một cuộc khởi nghĩa như vậy. Người Do Thái phải nhìn về tương lai, ông nói. Louis chính là đại diện cho tương lai. Người cần được cứu thoát chính là nó.

Ông không muốn kể cho Natalie nghe về các trại tàn sát, vì ông thấy tâm trạng cô ấy vẫn ổn, đó là bí quyết để sống sót dưới ách thống trị của người Đức. Tôi nên cố gắng thuyết phục cô ấy để Louis đi, đồng thời không làm cô ấy quá hoảng sợ.

Tôi hỏi ông rằng tin tức về các trại tàn sát đã lan truyền rộng rãi đến mức nào ở Theresienstadt. Ông nói những người ở vị trí cao đều biết chuyện này; chính ông đã kể cho hai người nghe. Phản ứng thường thấy là tỏ vẻ không tin, hoặc tức giận với người kể những "truyền thuyết kinh khủng" như vậy, rồi nhanh chóng đổi chủ đề.

Tôi lại hỏi ông liệu thế giới bên ngoài đã biết chút gì chưa. Ông trả lời rằng các bản tin vừa bắt đầu xuất hiện trên báo chí và đài phát thanh ở hải ngoại. Những tài liệu và ảnh chụp bằng phim vi mô mà ông mang từ Auschwitz ra đã được gửi đến Thụy Sĩ. Những tài liệu và ảnh chụp này có lẽ đang phát huy tác dụng. Thế nhưng, người dân Anh và Mỹ hiện tại dường như vẫn chưa tin lắm vào chuyện này, cũng giống như những người Do Thái ở Theresienstadt biết rõ về lực lượng SS cũng không sẵn lòng tin vậy. Berel nói, tại trại Auschwitz, mọi người nhìn thấy ống khói phun lửa vào ban đêm, còn ngửi thấy mùi tóc, cơ bắp, mỡ cháy khét, nhưng nhiều người trong trại vẫn né tránh chủ đề dùng khí độc để giết người, thậm chí phủ nhận việc đó đang xảy ra.

(Khi tôi ghi lại những điều này, tay tôi cứ run lên, đó là lý do vì sao chữ viết trên trang này lại nguệch ngoạc.)

Để nhanh chóng kết thúc chuyến thăm của Berel, chúng tôi đã trò chuyện một cách đầy cảm thương về chuyện gia đình. Ngoài bản thân ông và gia đình người con trai, dòng họ Jastrow chúng tôi ở châu Âu đã bị tiêu diệt sạch gốc rễ. Con trai cả của ông đang chiến đấu cùng đội du kích Do Thái ở phía sau chiến tuyến của người Đức tại Belarus. Con dâu và cháu nội đang bình an ở một trang trại tại Latvia. Những người khác Berel đều đã mất, tôi cũng vậy. Sau khi tôi đến Mỹ, một đám đông họ hàng thông minh đáng yêu đã không còn gặp lại, chỉ để lại những ký ức vui vẻ. Khi phiêu bạt khắp nơi, ông luôn mang theo một bức ảnh bị xé rách của đứa cháu, nó đã mòn vẹt, lại còn bị nước thấm vào, đến mức chỉ nhìn thấy khuôn mặt nhỏ bé mờ ảo của đứa trẻ. "Tương lai của chúng ta," Berel nói khi đưa bức ảnh cho tôi xem.

Ông nói chi tiết về cách tôi có thể thông báo cho ông nếu Natalie thay đổi ý định về vấn đề của Louis. Chúng tôi ôm lấy nhau. Lần cuối tôi ôm Berel là năm mươi năm trước ở Medgyes, lúc đó tôi đang chuẩn bị khởi hành đến Mỹ; không có gì kỳ lạ hơn những sự việc thực sự đã xảy ra. Khi ông buông tôi ra, ông nghiêng đầu, nhìn tôi chằm chằm bằng ánh mắt sắc bén, điều này trước đây luôn báo hiệu rằng ông sắp hỏi tôi một câu hỏi hóc búa về Talmud. Ông nhún vai, đây là một thói quen cũ mà năm tháng và khổ đau đều không thể làm ông thay đổi. "Aaron, tôi nghe nói cậu đã viết vài cuốn sách về người đó."

"Đúng vậy."

"Tại sao cậu cứ nhất định phải viết về người đó?"

Dafka là một từ trong Talmud không thể dịch nổi. Nó có rất nhiều ý nghĩa; tất yếu, chỉ vì vậy, một cách bất thường, ngạo mạn, bất chấp tất cả. Người Do Thái có một tính cách, thích làm việc theo kiểu dafka. Đây là bản chất của những người bướng bỉnh. Ví dụ, họ buộc phải thờ bò vàng dưới chân núi Sinai theo kiểu dafka.

Đây là một khoảnh khắc thành thật. Tôi trả lời: "Tôi viết là để kiếm chút tiền, Berel, và để tạo dựng danh tiếng cho bản thân giữa những người không phải Do Thái."

"Nhìn xem nó đã giúp cậu thế nào kìa," ông nói.

Tôi lấy ra từ ngăn kéo hộp kinh văn mà tôi mới đổi bằng một viên kim cương, đưa cho ông xem.

"Cậu có cái này ư?" Ông cười buồn bã. "Bắt đầu ở Theresienstadt này sao?"

"Ở Theresienstadt này, dafka, Berel."

Chúng tôi ôm nhau một lần nữa, rồi ông lặng lẽ bước ra ngoài. Trong hai tháng, tôi không nhận được bất kỳ tin tức nào từ ông, cũng không nghe thấy bất kỳ tin tức gì về ông. Tôi đoán, có lẽ ông đã thoát thân an toàn. Trong Thế chiến thứ nhất, Berel đã hai lần trốn thoát khỏi trại tập trung tù binh. Ông là người kiên cường và đầy mưu trí.

Đã quá nửa đêm. Cô ấy vẫn không thấy bóng dáng đâu. Đi lại trên đường vào giờ này là không khôn ngoan, mặc dù tấm thẻ căn cước trợ lý y tá của cô ấy có lẽ có thể che chắn cho cô ấy.

Bây giờ, hãy để tôi tóm tắt sơ lược về phong trào "Làm đẹp". Đây là một việc nhất định phải nói trong những năm tháng sau này. Các thế hệ tương lai có thể sẽ thấy sự việc này còn khó tin hơn cả những tầng hầm khí độc ở Auschwitz. Suy cho cùng, những tầng hầm đó dù có kinh hoàng đáng sợ đến đâu, cũng chỉ là sản phẩm cuối cùng tất yếu của chủ nghĩa quốc xã. Điều bạn cần hiểu chỉ là, Hitler đã dự định làm như vậy, và những người Đức tuân lệnh răm rắp đã thực hiện đúng như thế.

Phong trào "Làm đẹp" còn kỳ quái hơn. Đó là một sự giả tạo đầy công phu, muốn chứng tỏ rằng người Đức cũng giống như người các nước khác, cũng là người châu Âu, tuân thủ các nguyên tắc của văn minh phương Tây; những truyền thuyết và báo cáo về người Do Thái đều là ngu xuẩn, không đáng bác bỏ, hoặc là những tuyên truyền bạo hành vô cùng độc ác từ phía quân Đồng minh. Về vấn đề này, người Đức đang làm bộ làm tịch, dốc hết tâm trí muốn phủ nhận trọng tâm nỗ lực của họ trong cuộc chiến này: tiêu diệt một dân tộc và hai tôn giáo trên thế giới. Đúng vậy, là hai tôn giáo. Tôi tràn đầy niềm tin rằng người Do Thái và đạo Do Thái cuối cùng sẽ tồn tại, nhưng Cơ Đốc giáo sau khi làm ra chuyện này ở một quốc gia tin theo Cơ Đốc giáo, thì không thể tồn tại được nữa. Kẻ phản Chúa của Nietzsche đã đến với đôi ủng cao cổ và băng tay chữ Vạn. Trong lửa và khói phun ra từ những ống khói ở Auschwitz, hình tượng Chúa Jesus chịu nạn của châu Âu đều đang bốc cháy ngút trời.

Tư lệnh mới của chúng tôi, Rahm, là một tên súc vật thô bỉ và chính gốc. Phong trào "Làm đẹp" mà hắn trù tính đã đẩy sự đạo đức giả lên những tầm cao mới. Vì tôi là trưởng lão phụ trách công tác văn hóa, nên tôi bị cuốn sâu vào trong đó. Tôi đã dành nhiều giờ trong văn phòng của hắn, đối diện với một tấm bản đồ thành phố trải rộng trên bàn. Tuyến đường khách mời sẽ đi qua đều được vạch bằng bút đỏ, mỗi điểm dừng chân đều được đánh số. Một tấm bản đồ lớn treo trên tường cho thấy tiến độ công việc tu sửa và xây mới tại mỗi điểm dừng chân được đánh số. Bộ phận của tôi tổ chức các chương trình âm nhạc và kịch nghệ dọc theo tuyến đường đó, tuy nhiên công việc thực tế đều do các cấp phó của tôi xử lý. Nhiệm vụ của tôi trong "ngày đó" là dẫn khách tham quan một thư viện được tu sửa như một phép màu; tôi đã cử hai mươi người đi biên mục, những cuốn sách tinh xảo không ngừng được chuyển đến. Chúng tôi đang tích lũy những tinh hoa văn hóa lịch sử Do Thái còn sót lại trên mảnh đất châu Âu, tất cả chỉ để dàn dựng một ngày giả tạo.

Người Đức đang sắp đặt chuyến tham quan này như dàn dựng một vở kịch về cuộc khổ nạn của Chúa Jesus; đó sẽ là một sự kiện trọng đại liên quan đến toàn thành phố. Tuy nhiên, hành động này chỉ giới hạn trong tuyến đường vạch bằng bút đỏ trên bản đồ. Cách tuyến đường đó một trăm thước, sự bẩn thỉu, bệnh tật, chen chúc và đói khát của quá khứ vẫn hoành hành. Bất cứ nơi nào mắt khách mời có thể nhìn thấy, họ đều dùng nhân lực khổng lồ, không tiếc chi phí để xây dựng nên một khu nghỉ dưỡng đồng quê hẹp, mô phỏng đầy chất thơ. Người Đức thực sự hy vọng trò lừa đảo vô lý này sẽ may mắn thành công sao? Họ dường như là như vậy. Tất nhiên, những lần kiểm tra trước đó của nhân viên Hội Chữ thập đỏ Đức đều chứng minh không có vấn đề gì. Khách mời đến rồi đi, lan truyền những báo cáo nồng nhiệt về một thiên đường Do Thái. Nhưng lần này, khách mời là những người trung lập từ bên ngoài. Làm sao người Đức có thể nắm chắc việc kiểm soát họ? Một nhân viên Hội Chữ thập đỏ Thụy Điển hoặc Thụy Sĩ kiên quyết chỉ cần nói: "Hãy để chúng tôi đi xuống con phố đó," hoặc "Hãy để chúng tôi xem khu doanh trại bên kia," thì bong bóng sẽ vỡ tan. Phía sau làn khói cầu vồng đầy giả tạo đó, tồn tại những tình huống kinh hoàng khiến người trung lập phải khiếp sợ. Nhưng tất nhiên chúng tôi đã quen với tình trạng này, cho rằng so với tình hình ở Auschwitz, thì chẳng đáng là bao.

Rahm có mưu kế gì để thoái thác những yêu cầu khó xử này không? Hắn trông chờ vào sự đe dọa nhẹ nhàng để khiến khách mời tuân thủ quy củ sao? Hay như tôi rất nghi ngờ, toàn bộ phong trào "Làm đẹp" này chẳng qua chỉ là một ví dụ quan trọng của kiểu tinh vi đến mức ngu xuẩn đó, một điển hình tiêu biểu? Kể từ khi Hitler nắm quyền, mọi việc làm của người Đức đều mang đặc điểm tinh vi tỉ mỉ này.

Về năng lực làm việc, sức lực, sự chú ý đến chi tiết và kỹ thuật đơn thuần của khoa học và công nghiệp, họ không thua kém gì người Mỹ, có lẽ còn hơn thế nữa. Ngoài ra, họ còn có thể thể hiện sự quyến rũ, trí tuệ và khiếu thẩm mỹ cao nhất. Là một dân tộc, họ có thể không chút dè dặt, toàn tâm toàn ý, đầy nhiệt huyết lao vào thực hiện những kế hoạch và mệnh lệnh điên rồ ngoài sức tưởng tượng, đây là đặc tính của họ. Tại sao lại như vậy, có lẽ thế giới phải mất một ngàn năm mới hiểu được. Trước mắt, nó lại đang xảy ra như vậy. Họ buông tay thực hiện một cuộc tàn sát chiến tranh, kết quả gần như chắc chắn sẽ dẫn đến sự hủy diệt của nước Đức. Ở trung tâm của cuộc tàn sát này, chính là tội ác mà họ gây ra cho dân tộc tôi. Và ở trung tâm của trung tâm đó, chính là phong trào "Làm đẹp" này, khuôn mặt người Đức ngây thơ vô tội quay sang hướng về thế giới bên ngoài, đau khổ nói: "Hãy nhìn xem các người bất công thế nào khi buộc tội chúng tôi làm điều xấu?"

Sự tinh vi ngu xuẩn trong việc thúc đẩy phong trào "Làm đẹp" này thật đáng sợ. Nếu Rahm và các cố vấn của hắn có thể khiến khách mời đi theo con đường màu đỏ đó, thì không có chuyện gì là họ chưa nghĩ đến. Công việc hoàn thành còn rất ít, nhưng kế hoạch đã được vạch ra toàn bộ. Sự bận rộn hỗn loạn của Theresienstadt những ngày này, giống như trên một sân khấu đang diễn tập dở dang vậy. Để xây dựng con đường ảo mộng hẹp, kỳ lạ đó, hai ba ngàn người Do Thái khỏe mạnh đang làm việc kỹ thuật từ sáng đến tối - và suốt đêm đèn đuốc khắp nơi đều sáng rực.

Tuyến đường tham quan của khách mời đã được xác định từ nhiều tháng trước. Rahm luôn mang theo một tập tài liệu dày, đóng bìa bằng vải hoa sọc đỏ đen, những người trong ủy ban chúng tôi (giữa chúng tôi với nhau) gọi nó là "Thánh kinh phong trào Làm đẹp". Những người đứng đầu các bộ phận chúng tôi đều đóng góp vào đó, nhưng những chi tiết cuối cùng chỉ có thể do người Đức thực hiện. Tài liệu này bao gồm các bản nhạc mà dàn nhạc thành phố sẽ trình diễn tại quảng trường thị trấn, mặc dù lúc này phòng kỹ thuật mới chỉ đang đặt nền móng cho nhà hát đó. Các nhạc sĩ của chúng tôi đang bận rộn sao chép các phần của bản nhạc - hai bản overture của Rossini, vài bản hành khúc quân đội, vài bản waltz của Strauss, và các bản nhạc hỗn hợp của Donizetti và Bizet. Giấy chép nhạc hiện đang được cung cấp với số lượng lớn. Những nhạc cụ mới tinh xảo không ngừng được vận chuyển đến. Theresienstadt giống như hòn đảo ma thuật của Prospero, đang trở thành một nơi tràn ngập giai điệu trên không trung.

Nếu khách mời đến nhà hát opera ở khu vui chơi để xem, họ sẽ thấy một dàn nhạc đầy đủ các loại nhạc cụ và một dàn hợp xướng đông đảo đang diễn tập bản "Requiem" của Verdi: hơn một trăm năm mươi người Do Thái tài năng mặc quần áo chỉnh tề, đeo băng tay vàng, v.v., trình diễn những bản nhạc có thể công diễn ở Paris hoặc Vienna. Dưới lầu, trong một nhà hát nhỏ hơn, họ sẽ tình cờ thấy một buổi tổng duyệt hóa trang của tác phẩm gây chấn động trong khu Do Thái, vở opera trẻ em độc đáo đầy thú vị "Brundibár". Khi đi trên những con phố trồng đầy hoa hai bên, họ sẽ nghe thấy một bộ tứ đàn dây trong một ngôi nhà tư nhân đang chơi nhạc của Beethoven, một nữ ca sĩ trầm xuất sắc trong một ngôi nhà khác đang hát bản lãng mạn của Schubert, và trong ngôi nhà thứ ba, một nghệ sĩ clarinet tuyệt vời đang luyện tập bản nhạc của Weber. Trong quán cà phê, họ sẽ bắt gặp những nhạc sĩ và ca sĩ đã hóa trang đang biểu diễn chương trình trong khi khách hàng uống cà phê, ăn bánh kem. Khách mời sẽ nghỉ chân tại một quán cà phê, ăn chút điểm tâm, khách hàng ở đó đều sẽ trả tiền, rời đi hoặc bước vào một cách tự nhiên theo cách đã được huấn luyện kỹ lưỡng.

Khách mời sẽ thấy hàng hóa trong cửa hàng phong phú, bao gồm nhiều loại thực phẩm xa xỉ. Khách hàng tùy ý ra vào, mua những món hàng mình muốn, trả tiền bằng tiền giấy Theresienstadt có in hình Moses. Tất nhiên, loại tiền vô giá trị này là trò đùa tồi tệ nhất trong khu Do Thái; "Thánh kinh" của Rahm có ghi một lời cảnh báo nghiêm khắc: sau khi khách mời rời đi, những "khách hàng" này phải ngay lập tức trả lại toàn bộ "hàng hóa đã mua". Chỉ cần thiếu một chút, sẽ bị trừng phạt. Thiếu một món thực phẩm, người phạm quy sẽ bị nhốt vào pháo đài nhỏ.

Dự án này liên quan đến mọi mặt của cuộc sống trong khu Do Thái. Một bệnh viện giả siêu sạch, một sân chơi trẻ em giả, một xưởng in nam giả, một xưởng may nữ giả, một sân thể thao giả, tất cả đều nằm trong danh mục dự án. Ngân hàng đang được trang trí lại. Một trường công nam sinh giả đã được xây dựng, trong tòa nhà mới xây có đủ mọi chi tiết như bảng đen, phấn, sách giáo khoa, tuy nhiên tòa nhà này chưa bao giờ được sử dụng, và cũng sẽ không bao giờ được sử dụng trừ khi dành cho các nhạc sĩ diễn tập bên trong. Một "nhà ăn lớn", một khu doanh trại rộng rãi, đang được xây dựng, chỉ để phục vụ một bữa ăn, bữa trưa của khách mời - những người Do Thái xung quanh cũng sẽ ăn uống ngon lành ở đó. Lực lượng SS còn phải nghĩ cách để ngay cả lần này cũng tránh cung cấp thực phẩm cho một số người Do Thái. Đây là điểm duy nhất bị bỏ sót trong "Thánh kinh" của Rahm. Những khách hàng trong quán cà phê tất nhiên chỉ uống cà phê, ăn bánh kem thỏa thích khi có khách mời đến, nếu không họ chỉ làm động tác uống đồ uống màu nâu và ăn những đĩa bánh kem, thực tế những chiếc bánh đó là thứ họ không thể nếm được.

Đã hơn một giờ sáng. Tại sao tôi cứ mãi lảm nhảm những điều đau xót này nhỉ? Ngay cả những trò đùa tàn nhẫn của "Chiến dịch Mỹ hóa" cũng là một sự an ủi, giúp người ta quên đi tình hình mà Banriel đã tiết lộ, cũng như nỗi lo âu của tôi vì Natalie mãi chưa quay về. Sáu giờ sáng cô ấy đã phải thức dậy. Trước khi lên nhà máy mica làm việc, cô ấy phải đến sân chơi trẻ em và nhà trẻ để diễn tập cho chuyến thăm này. Cô ấy cùng vài người phụ nữ xinh đẹp khác vừa nhận nhiệm vụ đó. Công việc của họ đã được sắp xếp ổn thỏa: huấn luyện lũ trẻ kể những câu chuyện nhỏ của chúng, và phải tỏ ra vô cùng vui vẻ. Vào bữa trưa, cô ấy kể với tôi rằng lũ trẻ phải hét lên: "Sao, lại ăn cá mòi nữa à?" Những lời nói dối dễ dàng bị vạch trần kéo dài suốt hai mươi phút này đều đã được viết sẵn cả rồi. Về phương diện này, "Chiến dịch Mỹ hóa" đang tạo ra một vài lợi ích thực sự, bởi vì lực lượng SS đã tăng khẩu phần ăn cho lũ trẻ. Họ muốn những vị khách nhìn thấy những đứa trẻ bụ bẫm đang vui đùa, nên giống như mụ phù thủy đối với Hansel và Gretel, họ đang cố nhồi nhét cho đầy bụng chúng.

Tôi không thể tin được một vở kịch lộ liễu như vậy có thể lừa được ai. Thế nhưng, giả sử nó thành công, người Đức hy vọng đạt được điều gì thông qua nó? Người Do Thái đang dần biến mất, rất nhiều người không còn tung tích, liệu sự kiện kinh hoàng tột độ này có thể che giấu được lâu dài hay không? Tôi thật không thể hiểu nổi. Chuyện này chẳng có ý nghĩa gì cả. Không, nó giống như đứa trẻ chậm phát triển trí tuệ đến đáng sợ kia; đứa trẻ chậm chạp bị bắt quả tang bên cạnh lọ mứt rỗng, mặt mũi, tay chân, quần áo đều dính đầy vết đỏ, vậy mà vẫn cười hì hì không chịu thừa nhận mình đã ăn vụng mứt.

Xét về khía cạnh này, nó có ý nghĩa gì đối với hầm ngạt tại Auschwitz? Tôi đã suy nghĩ về điều này suốt mấy tuần liền, đến mức đầu óc quay cuồng. Gọi người Đức là những kẻ bạo dâm, đồ tể, dã thú, man di cũng chẳng giải thích được gì, bởi vì họ cũng giống như chúng ta, đều là đàn ông và đàn bà. Tôi có một ý nghĩ, tôi muốn viết vội nó ra, chắc chắn hơn nhiều so với những gì tôi đang cảm nhận. Gốc rễ của chuyện này không thể là Hitler. Tôi bắt đầu từ tiền đề đó. Khi một sự việc như vậy xảy ra mà lại nhận được quá ít sự phản kháng trong lòng người Đức, thì sự việc này tất yếu đã phải ấp ủ từ nhiều thế kỷ trước rồi.

Napoleon đã áp đặt tự do và bình đẳng lên người Đức. Ngay từ đầu họ đã áp chế nó. Ông ta dùng đại bác và đôi ủng quân đội giẫm đạp xâm nhập vào những quốc gia chuyên chế chắp vá hầu như chưa thoát khỏi chế độ phong kiến, và chà đạp chúng bằng tình đồng loại của nhân loại. Giải phóng người Do Thái chính là một phần của chủ nghĩa nhân đạo khai sáng mới này. Đối với người Đức mà nói, điều này thật phi nhân tính. Thế nhưng họ lại phục tùng.

Chao ôi, chúng tôi, những người Do Thái, đã tin vào sự thay đổi này, nhưng trong thâm tâm người Đức thì chưa bao giờ thay đổi. Đó là tín điều của kẻ chinh phục. Nó thống trị châu Âu, nhưng không thống trị được nước Đức. Các triết gia lãng mạn của họ kịch liệt đả kích phong trào khai sáng phi Đức, các đảng phái bài Do Thái của họ lớn mạnh, đồng thời nước Đức ngày một phát triển, trở thành một cường quốc công nghiệp, nhưng nó vẫn chưa bao giờ chấp nhận tư tưởng "phương Tây".

Họ bại trận dưới sự thống trị của Hoàng đế Đức, tiếp đó là lạm phát trầm trọng và sự sụp đổ kinh tế, điều này đã khơi dậy trong lòng họ một nỗi phẫn nộ đáng sợ và tuyệt vọng. Những người Cộng sản đe dọa tạo ra hỗn loạn, lật đổ chính quyền. Chính phủ Weimar tan rã. Khi Hitler trỗi dậy từ thứ bia do mụ phù thủy nấu này, giống như một bóng ma tiên tri trong vở "Macbeth", rồi chỉ tay vào người Do Thái trong các cửa hàng bách hóa và hành lang nhà hát; khi hắn gào thét rằng người Do Thái không chỉ là kẻ hưởng lợi rõ ràng từ những bất công mà nước Đức phải chịu, mà còn là nguyên nhân thực tế gây ra những bất công đó; khi chương trình lịch sử điên rồ này phát triển, đơn giản và giả tạo như những khẩu hiệu của chủ nghĩa Marx, nhưng lại tàn nhẫn và thẳng thừng hơn những khẩu hiệu đó; ngọn lửa giận dữ của người Đức liền bùng phát trong một đợt sinh lực và niềm vui dân tộc, còn kẻ điên cuồng hoa ngôn xảo ngữ thúc đẩy nó bùng phát lại đang vung vẩy vũ khí giết người trong tay. Việc người Đức không hề có chút hối hận nào khiến thứ vũ khí này đặc biệt phù hợp trong tay kẻ đó. Nếu không phải thông qua sự bạo lực áp đặt lên tôi, tôi đã không biết đến đặc điểm khó hiểu này. Ngay cả bây giờ, tôi vẫn còn hơi mơ hồ về điều đó.

Việc tôi nghiên cứu về Luther có làm cho vấn đề này sáng tỏ hơn chút nào không? Trước Hitler, chỉ có Luther từng dùng tiếng nói dân tộc để phát biểu một cách thấu đáo đến vậy, khiến ngọn lửa giận dữ dân tộc tích tụ được giải tỏa hoàn toàn, mà đối với ông ta, đó là chống lại giáo lý Công giáo lạc hậu được giảng giải đơn điệu bằng tiếng Latinh. Mặc dù tôi vô cùng ngưỡng mộ Luther, là người viết tiểu sử của ông, nhưng những lời lẽ thô bạo, mỉa mai châm biếm của hai người này lại rất giống nhau, điều đó khiến tôi lo lắng băn khoăn. Đạo Tin Lành của Luther là một thần học vĩ đại, một Kitô giáo chân thành, vang dội và thiết thực, rất xứng đáng với vị Chúa mà Luther tuyên bố đang cứu vãn khỏi tay con điếm Babylon. Nhưng ngay cả sản phẩm bản địa này cũng đè nặng lên người Đức, phải không?

Người Đức luôn không được thoải mái trong một châu Âu theo Kitô giáo, luôn không quyết định được mình là người Vandal hay người La Mã, là kẻ phá hoại từ phương Bắc đến hay là người phương Tây lịch thiệp. Anh ta lắc lư theo sự thay đổi của hoàn cảnh lịch sử, lúc thì đóng vai này, lúc lại đóng vai kia. Đối với tính cách Vandal trên người anh ta mà nói, sự hối hận của Kitô giáo và chủ nghĩa tự do của người Anh, người Pháp đều là chuyện nhảm nhí; lý tính và quy củ của phong trào khai sáng là sự gượng ép của bản tính con người; hủy diệt và thống trị mới là điều thực tế cần thiết; thảm sát là một niềm vui thời cổ đại. Sau mấy trăm năm bị Luther kiềm chế, tiếng nói Đức thô bạo lỗ mãng lại một lần nữa gầm lên trong miệng Nietzsche, tạo ra phản ứng dữ dội đối với giáo lý hiền lành của Kitô giáo. Nietzsche đã đổ hết tất cả sự khoan dung nhân từ và lòng hối hận đó lên đầu Do Thái giáo một cách vô cùng chính xác. Ông ta đã tiên đoán vô cùng chính xác về sự diệt vong của Chúa Kitô trong tương lai. Điều ông ta không tiên đoán được là, người Vandal giành được tự do trong sự trả thù công nghiệp hóa đầy loạn trí, lại có thể ra tay đóng đinh mười một triệu người Kitô lên thập tự giá.

Chà, lảm nhảm linh tinh rồi! Tôi đọc lại mấy trang viết vội bằng bút chì này, lòng thấy nặng trĩu. Tôi đã bỏ bê cuốn nhật ký này, điều đó chẳng có gì lạ; trí tuệ nhỏ bé của tôi không đối phó nổi với những gì tôi biết ngày nay. Không có một lý thuyết dân tộc chủ nghĩa chung chung, làm sao bạn có thể đặt bút viết về chủ đề này? Không truy nguyên nguồn gốc chủ nghĩa xã hội, không giải thích làm thế nào hai phong trào này tập trung vào Hitler; không dành cho mối đe dọa của Cách mạng Nga tầm quan trọng xứng đáng, làm sao bạn có thể đặt bút viết về chủ đề này?

Trong đống chữ viết nguệch ngoạc tùy tiện này, liệu tôi có thực sự chạm tới người Đức không? Tôi, gã Do Thái hèn mọn Jastro, đeo hộp kinh tại Theresienstadt, trong khi hắn lại dùng những đội quân rầm rập và phi đội không quân gầm rú xuất kích khắp châu Âu; liệu hắn và tôi thực ra có phải đều đang phục tùng cùng một sự thôi thúc của con người, là muốn bảo toàn bản thân đang bị đe dọa hay không? Có phải vì điều này mà hắn muốn giết tôi, bởi vì người Do Thái và Do Thái giáo là một sự thách thức, lên án và cản trở liên tục đối với tinh thần Đức nguyên thủy? Hay là, tất cả những điều này chỉ là sự tự cao tự đại nhàm chán, là ảo tưởng của bộ não một người khai sáng suốt đời đã quá mệt mỏi? Người khai sáng này muốn tìm ra một chút ý nghĩa ở Auschwitz, trong "Chiến dịch Mỹ hóa", muốn bắc một cây cầu qua vực thẳm giữa tôi và Karl Rahm, bởi vì thực tế là, ngay cả khi hắn giết tôi, theo phân loại của Darwin, nếu không phải theo ý Chúa, thì chúng ta vẫn là đồng loại.

Natalie về rồi!

Sáng hôm sau.

Sự việc còn nghiêm trọng hơn tôi tưởng. Cô ấy đã bị cuốn vào sâu, khi về người rất mệt mỏi, nhưng lại vô cùng phấn khởi. Những cuộc họp này của những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái luôn tranh luận về các phương pháp phá hoại "Chiến dịch Mỹ hóa", họ muốn ám chỉ tình hình thực tế của Theresienstadt cho các vị khách của Hội Chữ thập đỏ mà không làm lực lượng SS cảnh giác. Cô ấy cho rằng họ đã nghĩ ra một cách. Tại mỗi nơi dừng chân tham quan, một người Do Thái phụ trách sẽ nói cùng một câu trả lời đã sắp đặt sẵn đối với bất kỳ bình luận nào từ phía Hội Chữ thập đỏ: "Ồ, vâng, tất cả đều hoàn toàn mới. Còn nhiều thứ đáng xem lắm."

Tôi đoán họ đã phải trải qua không ít tranh luận và sửa đổi mới lập ra được phương pháp này. Họ bỏ phiếu từng chữ một. Họ tin chắc rằng, việc lặp lại câu trả lời không sai một chữ như vậy sẽ khiến các vị khách cảm thấy đó là một tín hiệu. Người Do Thái sẽ nói ra câu này một cách tùy tiện, trên mặt lộ ra vẻ thâm thúy, nếu có thể thì nói ở nơi lực lượng SS không nghe thấy. Hy vọng của họ—hay đúng hơn là ảo tưởng của họ—là các vị khách sẽ hiểu rằng, những gì họ nhìn thấy là những thiết bị mới tinh, giả tạo, và vì câu nói "còn nhiều thứ đáng xem lắm" kia, họ sẽ đi ra ngoài lộ trình đã sắp đặt.

Tôi kiên nhẫn lắng nghe. Tiếp đó, tôi bảo cô ấy rằng cô ấy đang trượt vào giấc mơ đặc hữu của khu người Do Thái, đe dọa đến tính mạng của chính cô và Louis. Người Đức là những cai ngục được huấn luyện bài bản, cảnh giác cao độ. Các vị khách sẽ là những nhân viên phúc lợi cấp cao hiền hòa ân cần. "Chiến dịch Mỹ hóa" là một công việc chính của người Đức; điều rõ ràng nhất cần đề phòng chính là kế hoạch tiết lộ bí mật cho khách của người Do Thái. Tôi tranh luận như vậy, nhưng cô ấy phản bác rằng người Do Thái phải dùng cách này hay cách khác để phản kích. Vì chúng ta không có vũ khí, chỉ có bộ não, chúng ta nên sử dụng trí tuệ của mình.

Tiếp đó, tôi thực hiện bước đi quyết liệt này, tiết lộ tình hình ở Auschwitz mà Banriel đã vạch trần. Ý định của tôi là khiến cô ấy giật mình, nhận thức rõ ràng hơn về nguy cơ bị trục xuất của mình. Tất nhiên cô ấy rất chấn động, nhưng không phải kinh ngạc đến ngây người, bởi vì loại tin đồn này quả thực vẫn luôn lan truyền khắp nơi. Thế nhưng cô ấy không tiếp nhận tin tức này như tôi dự đoán. Cô ấy nói, vậy thì càng có lý do để khơi gợi sự nghi ngờ của nhân viên Hội Chữ thập đỏ; hơn nữa, tin tức của Banriel dù sao cũng phải có phần phóng đại, bởi vì Udam đã nhận được bưu thiếp của vợ anh ta gửi từ Auschwitz, bạn của cô ấy cũng vừa nhận được vài tấm bưu thiếp từ những người thân bị trục xuất đi từ tháng Hai.

Tôi lặp lại những gì Banriel đã nói với tôi: Lực lượng SS tại Auschwitz duy trì một "Trại gia đình Theresienstadt", để phòng trường hợp Hội Chữ thập đỏ cố gắng tiến hành thương thảo, yêu cầu đến thăm nơi kinh hoàng đó; mỗi người sau khi đến Auschwitz đều phải viết vài tấm bưu thiếp, ghi ngày tháng của vài tháng sau; còn trại Theresienstadt thì định kỳ xóa sổ những người già, trẻ nhỏ, người bệnh tật và yếu ớt, dùng khí độc giết chết tất cả bọn họ để nhường chỗ cho những người tiếp tục bị trục xuất đến Theresienstadt. Udam chắc chắn đang nhận được thư của một người phụ nữ đã bị hỏa thiêu.

Tiếp đó, cô ấy khẳng định chắc chắn rằng nhóm của cô nghe được tin vỉa hè truyền qua Prague, theo tin tình báo của quân đội Đức, người Mỹ đã quyết định đổ bộ vào Pháp ngày 15 tháng 5. Điều này rất có thể sẽ khơi dậy các cuộc khởi nghĩa trên khắp châu Âu, dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của đế chế phát xít. Tóm lại, các sĩ quan SS sẽ phải lo lắng cho cái cổ của chính mình, vậy thì việc trục xuất tiếp theo khó có khả năng diễn ra.

Đối mặt với kiểu suy nghĩ cầu được ước thấy đã biến thành ảo tưởng này, hoàn toàn không thể tranh luận được. Tôi khuyên cô ấy, nếu cô định làm tiếp chuyện này, ít nhất hãy nhắn cho Banriel, đưa Louis ra ngoài. Lời này cô ấy không chịu nghe; cô ấy không thừa nhận rằng mình đang đẩy Louis vào tình thế nguy hiểm hơn cả những gì cậu bé đang phải đối mặt; sau đó, cô ấy trở nên rất cáu kỉnh, rồi bỏ đi ngủ.

Đây mới chỉ là chuyện vài giờ trước. Sau khi tỉnh dậy, tâm trạng cô ấy khá hơn, xin lỗi tôi vì sự cáu kỉnh của mình, rồi đi ra ngoài. Cô ấy không nhắc lại chuyện của Louis một câu nào, tôi cũng vậy.

Tôi không hề phản đối chủ nghĩa phục quốc Do Thái mới phát hiện của cô ấy, chỉ thấy vui vì điều đó. Đối với cô ấy mà nói, đây dường như là con đường bảo vệ bản thân đang bị đe dọa, giống như những gì tôi đã tìm thấy trong đức tin tôn giáo trước đây. Một người nếu không phải là kẻ đồng lõa hay kẻ buôn lậu chợ đen, thì muốn sinh tồn trong khu người Do Thái cần phải có một chút tinh thần quật cường này. Nhưng nếu trong nhóm của cô ấy trà trộn một kẻ mật báo thì phải làm sao? Hơn nữa, việc lợi dụng con rối chửi bới đã được ghi vào hồ sơ của cô ấy ở chỗ lực lượng SS, nếu vậy thì đó sẽ là kết cục của cô ấy.

Bản thân tôi chưa bao giờ là người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Đối với quan điểm đưa người Do Thái trở về mảnh đất hoang vu Trung Đông nơi những người Ả Rập không thân thiện sinh sống, tôi vẫn cực kỳ nghi ngờ. Không sai, khi thảm họa này ở châu Âu còn chỉ là một đám mây đen lớn bằng bàn tay người, những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái quả thực đã dự đoán được. Nhưng làm như vậy, giải pháp ảo mộng mà họ đưa ra có phải là một cách làm khả thi hay đúng đắn không? Chưa chắc. Trước khi Hitler cầm quyền, chỉ có rất ít người mơ mộng từng đến Palestine. Ngay cả họ cũng là bị bức hại, tàn sát, trục xuất đến đó, chứ không phải vì mảnh đất thánh khô cằn đó thu hút họ.

Tôi thừa nhận, bây giờ đối với chuyện này, hay bất kỳ quan điểm nào trước đây của tôi, tôi đều không mấy chắc chắn. Tất nhiên, chủ nghĩa dân tộc Do Thái là một phương tiện mạnh mẽ để thể hiện danh tính của chính mình, nhưng tôi coi chủ nghĩa dân tộc là tai họa của thời hiện đại. Tôi chỉ là không thể tin nổi những người Do Thái đáng thương của chúng ta lại lập kế hoạch sở hữu một đội lục quân và một đội hải quân, một nghị viện và vài bộ trưởng, cùng với biên giới, hải cảng, sân bay, đại học, v.v. trên bãi cát Địa Trung Hải. Đây quả là một ảo tưởng tuyệt vời và trống rỗng! Hãy cứ để Natalie mơ mộng như vậy, nếu điều đó có thể giúp cô ấy vượt qua khổ nạn này ở Theresienstadt. Cô ấy nói, giả sử có một quốc gia Do Thái to bằng Liechtenstein, thì tất cả những sự kiện kinh hoàng này đã không xảy ra, lại nói phải xây dựng một quốc gia như vậy để ngăn chặn chuyện này xảy ra lần nữa. Đây là ngôn ngữ của đấng cứu thế. Điều tôi lo lắng chỉ là, niềm đam mê nóng bỏng mới mẻ này sẽ chiến thắng khả năng phán đoán kiên cường thường thấy của cô ấy, có lẽ sẽ khiến cô ấy hành sự khinh suất, kết quả là hủy hoại chính mình và Louis.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »