Có tiếng gõ cửa dồn dập.
Pamela vội vã chạy ra mở cửa, tay vừa lần mò khoác chiếc áo ngủ dài lên người. Sàn phòng ngủ của khách sạn La Force cổ kính rung lên bần bật.
"Ai đó?"
"Phil Ruhl."
Cô mở cửa, giật bắn mình.
Lần cuối cô gặp anh ta là vào sáng hôm sau khi Nhật Bản phát động tấn công. Khi đó, anh ta mặc bộ quân phục tác chiến rừng rậm, đang hừng hực khí thế chuẩn bị lái một chiếc máy bay tư nhân thuê được để bay ra tiền tuyến. Ruhl là một vận động viên bay, vì muốn săn tìm những câu chuyện nơi chiến trường mà anh ta sẵn sàng liều lĩnh. Thời kỳ Nội chiến Tây Ban Nha trước đây, những câu chuyện anh ta điên cuồng lái máy bay chiến đấu với địch quân từng khiến cô mê mẩn. Những kỳ đàm đầy chất lãng mạn kết hợp với lý luận Marx của anh ta khiến cô nhớ đến Malraux. Thế mà giờ đây, anh ta ướt sũng từ đầu đến chân, mái tóc bết lại thành từng lọn, khuôn mặt chưa cạo râu trông vô cùng phờ phạc, đôi mắt trũng sâu, một bàn tay quấn băng đỏ tấy lên trông thật đáng sợ. Bên cạnh anh ta còn có một người khác, dáng người thấp bé, vẻ mặt nghiêm nghị, mái tóc xám tro, cũng ướt đẫm. Đó là một sĩ quan lục quân, tay cầm chiếc gậy ba toong nhẹ đang gõ vào lòng bàn tay mình.
"Lạy Chúa, Phil! Vào đi."
"Đây là Thiếu tá Denton Shepp."
Tatsbury mặc bộ đồ ngủ lụa màu vàng rộng thùng thình, khập khiễng bước ra từ phòng ngủ. "Trời đất, Philip, anh ngã xuống sông à?" ông ngáp dài nói.
"Ngoài kia mưa như trút nước. Cho chúng tôi chút rượu Brandy được không? Đảo Penang đã thất thủ rồi. Chúng tôi vừa từ đó đến."
"Lạy Chúa tôi, Penang? Làm gì có chuyện đó."
"Mất rồi, tôi nói cho ông biết. Mất rồi."
"Họ đã tiến quân về phía nam xa đến thế sao? Ồ, hòn đảo đó chẳng phải vững chãi như một tòa thành hay sao!"
"Trước đây thì có. Cả Mã Lai sắp thất thủ đến nơi rồi. Đây là một cuộc tháo chạy, những tin tức ông phát sóng đều là những lời nói dối đáng xấu hổ. Lạy Chúa, sao ông lại đi nịnh hót những kẻ nhát gan, vô dụng, chỉ biết báo cáo láo chiến công chứ? Chúng làm hỏng vở kịch này, nói không chừng còn làm sụp đổ cả một đế quốc – chưa nói đến việc đế quốc này có đáng cứu vãn hay không."
"Tôi đưa tin đều là sự thật, Phil." Tatsbury đưa cho hai người hai ly Brandy, mặt đỏ gay. "Tôi chỉ nói ra những gì tôi nghe ngóng được."
"Vớ vẩn. Chẳng qua cũng chỉ là mấy thứ "Cai trị đi, nước Anh" (Rule, Britannia) hay ho đó thôi. Mã Lai đã mất rồi, mất rồi!"
"Này, rượu Brandy này ngon tuyệt!" Giọng Thiếu tá cao và ngọt, nghe cứ như giọng con gái, thật khiến người ta kinh ngạc. "Đừng để ý đến Phil, cậu ta bị hoảng sợ rồi. Cậu ta chưa từng nếm mùi thất bại như thế này. Mã Lai vẫn chưa mất. Chúng ta vẫn có thể đánh bại lũ tạp chủng đó."
"Denton làm việc trong bộ tham mưu của Tướng Dobby," Ruhl nói với Tatsbury bằng giọng khàn đặc. "Tôi không đồng ý với ông ấy, nhưng hãy nghe ông ấy nói xem! Ông ấy sẽ cung cấp cho ông vài thứ có thể phát sóng được."
Pamela trở về phòng khoác thêm chiếc áo choàng tắm, để tránh việc Philip Ruhl cứ dán mắt vào bộ ngực và đùi cô sau lớp áo ngủ lụa mỏng manh.
Khi Tatsbury rót đầy lại ly rượu, giọng cao vút của Shepp hỏi: "Ông có bản đồ Mã Lai ở đây không?"
"Đây này." Tatsbury đi vào giữa phòng, bật chiếc đèn treo trên bàn mây lên.
Shepp dùng chiếc gậy ba toong làm thước chỉ, vạch trên bản đồ, giải thích rằng trận chiến này hoàn toàn đã được dự liệu từ trước. Bản thân ông ta từng góp sức vào việc chế định phương án diễn tập tại bộ tham mưu của Tướng Dobby. Nhiều năm trước, họ đã dự đoán các địa điểm quân Nhật có khả năng đổ bộ nếu tấn công, cũng như cách chúng sẽ tiến quân. Dobby thậm chí còn tổ chức một trận tấn công mô phỏng trong mùa gió mùa để chứng minh nó khả thi. Thế nhưng hiện tại, dường như chẳng ai ở bộ tư lệnh Mã Lai biết đến công trình nghiên cứu của Dobby. Trong trận mưa bão ập đến vào ban đêm, quân Ấn Độ và quân Anh ở phía bắc bị bất ngờ, quân Nhật thiết lập được đầu cầu, quân phòng thủ tan tác, bại lui. Quân Nhật tiến như chẻ tre, tuyến phòng thủ thứ hai xung quanh Jitra vốn được trang bị đầy đủ nhu yếu phẩm, tưởng chừng có thể giữ vững một tháng, lại thất thủ chỉ trong vài giờ. Từ đó, quân Anh bại lui từng bước, hoàn toàn không có kế hoạch tác chiến.
Hơn nữa, quân Anh bị phân tán trên bán đảo – Shepp dùng gậy chỉ vào đây, chấm vào đó – binh lực mỏng manh, vì để bảo vệ các sân bay, mà vị trí các sân bay lại do Không quân Hoàng gia chọn lựa một cách ngu ngốc, trước đó cũng không hề tham khảo ý kiến của Lục quân. Không có cách nào phối hợp tác chiến để bảo vệ sân bay. Một vài sân bay đã thất thủ. Như vậy, quân Nhật giành được quyền kiểm soát bầu trời. Tệ hơn nữa, quân Nhật có xe tăng. Ở Mã Lai, một chiếc xe tăng Anh cũng không có. Bộ Lục quân ở London đã đưa ra quyết định rằng xe tăng không có tác dụng trong chiến tranh rừng rậm. Đáng tiếc là (Shepp nói bằng giọng mũi cao vút, khô khốc), quân Nhật không hề biết đến cái "tri kiến" cao siêu này. Mặc dù xe tăng của chúng không tốt lắm, nhưng chúng cứ thế càn quét dọc đường mà không gặp bất kỳ sự kháng cự nào, quân đội châu Á thì trông thấy là bỏ chạy. Tại Singapore, các chướng ngại vật chống tăng chất cao như núi, nhưng lại chẳng có ai đặt chúng vào đúng vị trí cần thiết.
Mặc dù thua trận, lực lượng phòng thủ của Anh vẫn chiếm ưu thế, Shepp khẳng định. Quân Nhật đổ bộ có ba sư đoàn. Quân Anh có thể điều động năm sư đoàn binh lực, viện binh trên không và trên bộ vẫn đang liên tục kéo đến. Quân Nhật được huấn luyện bài bản cho chiến tranh rừng rậm – trang bị nhẹ, quần áo đơn giản. Có thể lấy trái cây và rễ cây dại làm thức ăn, trang bị hàng ngàn chiếc xe đạp, một khi chiếm được đường cái là có thể tiến quân nhanh chóng – nhưng quân Nhật tấn công trên toàn tuyến Thái Bình Dương; rất có thể quân đội đổ bộ này phải tự lo liệu lương thực và đạn dược bằng những gì mang theo hoặc cướp được. Nếu quân thủ thành thực hiện chính sách vườn không nhà trống, kéo dài thời gian với quân xâm lược, ép chúng phải tiêu hao hết lương thực, nhiên liệu, đạn dược trên con đường dài tiến về phía nam. Đến khi đạn cạn lương kiệt, chúng sẽ buộc phải dừng tiến quân. Khi đó có thể tiêu diệt chúng trong một đòn.
Shepp chỉ trên bản đồ những nơi lẽ ra phải có công sự phòng thủ kiên cố từ lâu. Tướng Dobby từng báo cáo, yêu cầu xây dựng chúng trong thời bình – nhưng chẳng làm gì cả – thật là sai lầm nghiêm trọng – nhưng vẫn còn kịp. Vật tư cần thiết trong kho có sẵn. Một đạo quân lao động gồm hai triệu người Trung Quốc và người Mã Lai (họ vừa hận vừa sợ quân Nhật) có thể triệu tập bất cứ lúc nào. Họ có thể xây dựng công sự trong vòng một tuần hoặc mười ngày. Cần xây dựng hai tuyến phòng thủ cực kỳ kiên cố, áp sát thành phố: một tuyến ở bang Johor bên kia eo biển, một tuyến dọc theo bờ biển phía bắc của chính đảo Singapore, bao gồm chướng ngại vật dưới nước, đường ống dẫn dầu, đèn pha, lô cốt, dây thép gai, hầm súng máy – "Nhưng công sự ở đó đã xây xong rồi mà," Tatsbury ngắt lời. "Bờ biển phía bắc từ lâu đã vững như thành đồng vách sắt rồi."
"Ông lầm rồi," Shepp đáp, giọng cao vút kỳ quặc như con gái của ông ta trầm xuống vì đã uống rượu Brandy. "Bờ biển phía bắc của hòn đảo này ngoài đầm lầy ra thì chẳng có gì cả."
Alistair Tatsbury mở to mắt, im lặng một lúc mới cất tiếng: "Tôi tận mắt nhìn thấy ở đó có công sự phòng thủ rất kiên cố."
"Thứ ông nhìn thấy là bức tường ngoài của căn cứ, bức tường này có thể chặn những kẻ tò mò. Đây không phải là một căn cứ có thể phòng thủ."
"Có phải ý ông là BBC đã tin vào những lời dối trá, bị chính quyền tối cao Singapore lừa gạt?"
"À, bạn tốt của tôi ơi, BBC là một kênh tuyên truyền. Người ta lợi dụng ông. Tôi đến đây chính vì chuyện này. Tôi hy vọng ông có cách nào đó khiến bộ tư lệnh Mã Lai hành động." Shepp cười như không, gõ nhẹ chiếc gậy vào lòng bàn tay. "Phil nói ông là người cương trực dũng cảm, còn nói đủ thứ lời khen ngợi đại loại thế. Đế quốc đang lung lay sắp đổ, Tatsbury. Đó không phải là tuyên truyền trên báo chí. Đó là sự thật quân sự."
Tatsbury nhìn chằm chằm vào vị sĩ quan trầm tĩnh, đầy sức thuyết phục và đang ướt sũng này. "Được rồi. Khoảng chín giờ sáng mai, ông có thể đến đây một lần nữa được không?" ông kích động đi lại khập khiễng trong phòng. "Tôi sẽ thức trắng đêm để hoàn thành bài báo cáo này. Sau đó tôi cần ông xác thực lại bản thảo."
"Thật chứ? Chín giờ? Tuyệt quá! Tôi rất sẵn lòng giúp."
"Nhưng anh phải bảo vệ Denton," Ruhl chen vào nói. "Dù người ta có dùng kìm nung đỏ để kéo lấy hòn dái của anh đi chăng nữa."
Shepp rời đi. Ruhl hỏi liệu có thể cho phép anh ta ở lại chợp mắt trên ghế bành không. Anh ta định hừng đông sẽ vào bệnh viện.
"Nghe này, cởi bộ quần áo ướt ra, treo lên đi. Anh đi tắm đi," Tatsbury nói. "Trong phòng tôi có một chiếc giường trống, tắm xong thì đi ngủ đi."
"Cảm ơn ông nhiều. Tôi hôi hám khắp người rồi. Ở Jitra, chúng tôi phải lội qua mấy vũng bùn. Tôi phải tự tay gỡ bốn mươi con vắt ra khỏi người. Những thứ bẩn thỉu đáng sợ đó!"
"Tay anh bị sao vậy?" Pamela hỏi. "Trông thật đáng sợ."
"À, đó là tại Jitra, bị hai tên quân y ngu ngốc dùng dao mổ làm ra thế này." Ruhl nhìn bàn tay mình một cách tội nghiệp và lo lắng. "Hy vọng đừng bắt tôi bỏ cái tay này. Có lẽ đã nhiễm trùng máu một chút rồi, Pam. Toàn thân tôi đang run bần bật đây."
Pamela mỉm cười. Mặc dù Ruhl không sợ trời không sợ đất, nhưng người này lúc nào cũng nghi thần nghi quỷ, tưởng mình mắc bệnh gì đó. Tatsbury hỏi: "Máy bay của anh đâu, Phil?"
"Ở sân bay Malacca. Chúng tôi bắt một chiếc xe tải quân sự ở đó. Họ không chịu đổ xăng cho máy bay của tôi. Denton và tôi bay từ Penang đến đó. Ở Penang, chúng tôi còn phải giữ máy bay, đuổi những kẻ đó đi, Tauki, ý tôi là những kẻ da trắng ấy. Thực ra, là sĩ quan quân đội lục quân!"
Pamela xả nước vào bồn tắm, đưa khăn sạch cho anh ta, nhưng nhìn lại thì anh ta đã mặc nguyên quần áo ngủ say rồi. Cô cởi ủng và quân phục ngoài của anh ta ra (bộ quân phục bốc mùi đầm lầy), giúp anh ta giăng màn bốn góc. Lúc cô xoay người anh ta, anh ta vẫn còn nói mớ.
Cô chợt nhớ về chuyện cũ. Cho đến thời điểm hiện tại, ở Singapore, anh ta vẫn luôn là người tình cũ của cô: đã có tuổi, thích tán tỉnh ngọt xớt, đáng ghét. Thế nhưng người đàn ông da trắng to lớn kiệt sức, tóc tai bù xù, chỉ mặc chiếc quần lót và áo lót ướt đẫm, không chút che đậy, nằm đó, lại giống Phil Ruhl thời ở Paris hơn. Cưới một bà vợ người Nga, cùng với mọi thứ khác, đều cho thấy anh ta ít nhất cũng là người không tầm thường! Hồi ở Paris, anh ta (lôi thôi lếch thếch, thật khiến người ta thấy tội nghiệp) luôn khiến người ta cảm thấy rất thú vị.
"Đang làm gì thế, Pamela?" Tatsbury gọi. "Ngồi vào máy đánh chữ đi, chúng ta làm việc thôi."
Ông đi lại với những bước chân nặng nề, vung vẩy cánh tay, đọc một bài báo cáo phát thanh – "Cuộc đối thoại với một kẻ thất bại chủ nghĩa". Ông đưa tin như thế này: tại câu lạc bộ golf, ông đã có một cuộc trò chuyện với một vị đại tá lục quân đã về hưu, một lão già cứng đầu hay gieo rắc nỗi sợ hãi. Quan điểm của Denton Shepp hóa ra lại được thốt ra từ miệng của lão già hay soi mói này. Tatsbury chỉ ra rằng, chủ nghĩa thất bại thường khơi dậy những cơn ác mộng kiểu này; và bài báo cáo này cũng cho thấy mặt nhân tính của những người phòng thủ Singapore. Bản thân tác giả bày tỏ, ông tin sâu sắc rằng tuyến phòng thủ cố định là có thật, hành động vừa đánh vừa rút hoàn toàn được thực hiện theo kế hoạch, bờ biển phía bắc đảo Singapore đã giăng sẵn cạm bẫy, đao thương san sát, sẽ là nơi chôn thây của những kẻ xâm lược. Đoạn nhạc đệm nhỏ phía trên chẳng qua chỉ chứng minh rằng ở Singapore, pháo đài vẫn được hưởng tự do ngôn luận, "dân chủ" ở Mã Lai vẫn giữ được sự tự tin, vân vân.
Sau khi ông đọc xong, Pamela kéo rèm dùng để kiểm soát ánh sáng. Phía đông đã lộ ra ánh sáng trắng nhạt. Mưa vẫn rơi rất dữ dội.
"Rất chiến lược, phải không?" Bố cô thấy cô không bày tỏ ý kiến gì về bài viết này nên hỏi như vậy. "Đưa tình hình ra ánh sáng, nhưng khiến họ không thể tìm ra lỗi của bố."
Cô dụi mắt, nói: "Bài này vừa đưa ra, bố sẽ không bao giờ thoát thân được đâu."
"Chúng ta hãy chờ xem. Giờ bố phải tranh thủ thời gian, ngủ một tiếng đã."
Thiếu tá Shepp ăn mặc chỉnh tề hơn nhiều, đội chiếc mũ sắt bọc nứa, đúng chín giờ đã đến. Ông dùng bút chì sửa nhanh vài chỗ trên bản thảo, giọng cao vút hét lên: "Này, trí nhớ của ông thật tuyệt, không còn gì để nói, Tatsbury."
"Làm nghề này không phải một hai năm rồi."
"Rất tốt, đây là một bài báo cáo tuyệt vời. Viết quá hay. Chúc mừng ông! Hy vọng sẽ tạo ra ảnh hưởng. Tôi sẽ nghe nó ở phía bắc. Phil đi cùng tôi đến đây, khiến tôi rất vui."
Pamela mang bản thảo đến phòng kiểm duyệt tin tức, rồi đi dạo phố mua sắm. Chỉ thấy các cửa tiệm chật kín khách ra vào, những cửa tiệm này phần lớn là do người Trung Quốc mở, hàng hóa nhu yếu phẩm vẫn rất đầy đủ, giá cả rẻ hơn London nhiều – nào là đồ lót lụa của phụ nữ, đồ trang sức, thực phẩm tinh xảo, rượu, găng tay da dê nhỏ, cùng với giày dép và ví tiền thanh lịch, v.v. Thế nhưng hiện tại hầu như cửa tiệm nào cũng treo cùng một tấm bảng, trên đó là dòng chữ đỏ mới viết bằng chữ in (có vẻ như là nét chữ của người Đông Nam Á): "Giao dịch bằng tiền mặt – miễn nợ."
"Con về rồi à, Pam?" Tatsbury nghe tiếng cô ném đồ vừa mua lên bàn bản đồ, liền gọi.
"Con đây. Có tin tức gì không?"
"Có. Văn phòng chính phủ gọi bố đi." Ông bước ra từ phòng mình, vừa cạo râu xong, mặt đỏ bừng, mặc bộ đồ vải lanh trắng, đội mũ lệch, trông như một tay chơi, trong mắt lộ ra hai tia hung ác. "Bài viết cũ của Berlin lại đến rồi!"
"Phil đã tỉnh dậy chưa?"
"Tỉnh lâu rồi. Cậu ta để lại một mảnh giấy trong phòng con. Tạm biệt nhé!"
Ruhl viết bằng nét chữ in như trẻ con: "Người thân yêu, anh dùng tay trái viết chữ in, bất đắc dĩ, xin tha lỗi. Cảm ơn sự quan tâm, giăng màn cho anh. Chuyện cũ hiện lên, anh không kìm lòng được, khiến cơ thể em phải khoác áo choàng tắm, thật vô cùng xin lỗi. Tay anh đau dữ dội. Chúc em khỏe. Malraux."
Cô ném mảnh giấy vào thùng rác, đổ gục xuống giường ngủ thiếp đi. Tiếng chuông điện thoại đánh thức cô. Đã quá một tiếng rồi.
"Alo, Pam?" Giọng Tatsbury nghe vừa hào hứng vừa nhẹ nhàng. "Thu xếp cho bố một túi du lịch. Bố phải đi xa khoảng một tuần."
"Đi xa? Đi đâu ạ?"
"Giờ vẫn chưa nói được."
"Con cũng phải thu xếp sao?"
"Không cần."
Chẳng bao lâu sau, ông đã quay lại, chỉ thấy mồ hôi dưới nách làm ướt đẫm áo, thành hai mảng lớn đen sì. "Túi du lịch đâu?"
"Trên giường của bố; đã thu xếp xong cả rồi."
"Cho bố một ly rượu Gin mạnh. Chọc phải tổ ong rồi, Pamela. Điểm đến của bố là Úc."
"Úc!"
"Ngày tháng của bố khó khăn lắm rồi, cưng ạ." Ông vội vã cởi áo khoác, tháo cà vạt, ngồi phịch xuống ghế bành, chiếc ghế kêu lên tiếng "kít". "Còn tệ hơn cả ở Berlin. Lạy Chúa, bài báo đó khiến một số người kinh hồn bạt vía! Tổng đốc và Brooke-Popham đang nổi trận lôi đình. Bố đã phải chịu sự đối xử bất công vô lý ở địa phương, Pam. Hai vị đại gia này thực sự muốn uy hiếp bố. Đồ ngu chết tiệt, chính họ mới là kẻ đang gặp rắc rối. Nhưng ai muốn họ tỉnh dậy từ thế giới mê muội thì họ quyết tâm giết kẻ đó. Đã đến lúc phải phơi bày sự thật – Pam, sự thật đau đớn, điềm xấu. Những gì bố nhìn thấy là một màn khói mù bao trùm lên tầng lớp cao nhất. À, cảm ơn." Ông uống cạn ly rượu.
"Con phải làm sao? Đi cùng bố ạ?"
"Không. Brooke-Popham sắp bị thay thế rồi. Con phải tìm cách nghe ngóng. Phải ghi chép vào sổ. Bố sẽ quay lại để dọn dẹp trận chiến này; nhưng bài báo đó nhất định phải được phát sóng."
"Tauki, Úc cũng có kiểm duyệt tin tức mà."
"Không thể so với ở đây được. Đó là điều không thể. Vô lý, vô lý, mâu thuẫn! Con có biết không, họ ban đầu nói họ đã có tuyến phòng thủ cố định. Sau đó lại nói không phải như vậy, họ thừa nhận vẫn chưa có tuyến phòng thủ đó vì thiếu lao động! Về ý tưởng của Shepp, sử dụng quân đội lao động địa phương, họ gọi đó là lời nói nhảm nhí. Nhiệm vụ của Mã Lai là kiếm tiền. Dù chỉ rút một người dân địa phương từ đồn điền cao su, từ mỏ thiếc ra, đều sẽ làm ảnh hưởng đến kế hoạch chuẩn bị chiến tranh – phải chú ý rằng, khi nói những lời này, mỗi ngày đều có mỏ và đồn điền rơi vào tay quân Nhật! Hơn nữa, mức lương mà chủ đồn điền và công ty mỏ trả, chính phủ không trả nổi. Theo mức lương chính phủ trả để trưng dụng lao động, phải thư từ qua lại với Bộ Lục quân ba tháng. Đây chính là cách họ suy nghĩ, Pamela, mà trong khi đó Penang thất thủ, quân Nhật đang khí thế hung hăng tiến về phía nam!"
"Singapore sớm muộn gì cũng thất thủ," Pam nói, cô hoang mang không biết tương lai làm sao để thoát khỏi nơi này.
"Nếu chính quyền chấp nhận ý kiến của Shepp, nó sẽ không thất thủ. Bố đã luôn làm việc cho trò lừa đảo tự sát này của chính phủ. Giờ bố phải chuộc tội thôi. Cảm ơn Chúa, Phil đã đưa Shepp đến gặp bố – ha, đến rồi!" Ông lao về phía chiếc điện thoại đang reo. "Cái gì? Cái gì? – À, làm tốt lắm! Tuyệt vời. Cảm ơn con – Pam, họ làm được rồi! Họ chen được một vị trí trên thủy phi cơ thay cho một thương nhân Mỹ đáng thương. Bố lên đường đây."
"Vậy là Giáng sinh bố phải đón ở Úc rồi. Còn con, lại phải ở đây."
"Pam, biết làm sao được? Đây là chiến tranh mà. Lần phát sóng này sẽ là một lần phát sóng lịch sử. BBC sau đó có thể sa thải bố. Bố không quan tâm lắm. Đợi xong việc này, sóng gió qua đi, bố sẽ quay lại, nếu không thì con đi máy bay đến Úc." Tatsbury vừa lải nhải vừa bận rộn chải tóc, chỉnh cà vạt, chạy đi lấy túi du lịch. "Thật xin lỗi, bố cứ thế lẻn đi. May mà cũng chỉ vài ngày thôi."
"Nhưng trong vài ngày này quân Nhật có đến không? Trong lòng con cứ nghĩ về vấn đề này."
"Con nghĩ bố sẽ bỏ mặc con, để con tự mình đối mặt với khó khăn sao? Quân Nhật còn cách ba trăm dặm nữa, một ngày cũng chỉ tiến được vài dặm thôi."
"Được rồi, được rồi. Nếu con có cơ hội lựa chọn, con không muốn để cả hàng dài lũ người phương Đông chảy nước miếng cưỡng hiếp mình đâu."
"Nghe này, con cảm thấy bố đối xử tệ với con sao?"
"Được rồi, Tauki, bố lên đường đi! Chúc bố Giáng sinh vui vẻ!"
"Đây mới là đứa con ngoan của bố. Tạm biệt nhé."
Thiếu tá Shepp nói là tình hình thực tế. Pháo đài Singapore chẳng qua chỉ là một ảo ảnh mà thôi. Hai cha con Tatsbury vừa đến đã nhìn thấy rõ mồn một từ trên máy bay. Không hề có pháo đài như vậy; sự tiêu vong của đế quốc, giống như sự trôi qua của một ngày đầy mây mù, không nhìn thấy cảnh hoàng hôn. Đài phát thanh không thông báo nó đã tận số, độc giả cũng không đọc được tin buồn trên báo vào buổi sáng. Đế quốc Anh trong cuộc đấu tranh vĩ đại nhưng hành động chậm chạp để đẩy lùi Hitler, đã tự đưa mình đến bước đường cùng. Người dân Anh từ lâu đã hy vọng đế quốc này mau chóng kết thúc, vì vậy đã bầu ra những nhà lãnh đạo chủ nghĩa xoa dịu, để cắt giảm ngân sách quân sự một cách mạnh tay. Nói thì nói vậy, nhưng đến khi ngày tận thế ập đến, vẫn khiến người ta không thể chịu nổi. Ảo tưởng là một liều thuốc giảm đau, nảy sinh từ khoảng cách giữa mong muốn chủ quan và thực tế khách quan. Ảo tưởng đó chính là pháo đài Singapore.
Nói ra những lời này không phải cố tình hù dọa người khác. Chỉ cần đọc qua hồi ký của Churchill là sẽ thấy rõ ràng hơn bao giờ hết, ngay cả ông ta cũng thực sự tin rằng Singapore là một pháo đài kiên cố. Tất cả nhân sự tại địa phương — từ sĩ quan lục quân, hải quân, các quan chức hành chính thuộc địa, cho đến toàn bộ hệ thống chỉ huy đồ sộ bên trên — không một ai báo cáo với Thủ tướng rằng pháo đài Singapore thực chất không hề tồn tại. Thế nhưng, niềm tin của người Anh vào "bức tường đồng vách sắt của đế quốc" lại có sức lây lan mạnh mẽ, ít nhất là đối với người châu Âu. Nhiều tháng trước khi quân Nhật phát động tấn công, Hermann Göring từng cảnh báo một vị tướng Nhật đến thăm rằng pháo đài Singapore có thể cầm cự được một năm sáu tháng. Vậy mà sau đó, chính vị tướng này đã công phá Singapore chỉ trong vòng bảy mươi ngày.
Ảo tưởng này không phải tự nhiên mà có. Singapore nằm trên tuyến đường thủy giữa Ấn Độ Dương và Biển Đông, kiểm soát các tuyến hàng hải quan trọng của phương Đông. Trong những năm tháng hòa hoãn vô nghĩa đó, hàng triệu bảng Anh tiền ngân sách quân sự đã không ngừng đổ vào Singapore, bởi lẽ mối đe dọa từ Nhật Bản vốn đã nằm trong dự liệu. Đầu thế kỷ này, chính người Anh đã giúp Nhật Bản xây dựng hải quân hiện đại, và các xưởng đóng tàu của Anh đã thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ. Những người Nhật Bản kỳ quái và phong kiến đó đã nhanh chóng bắt kịp, đánh bại hải quân của Đế quốc Nga Sa hoàng, giành được sự tán thưởng nhiệt liệt từ báo chí Anh. Thế nhưng, sau khi khói lửa của Thế chiến thứ nhất tan đi, sự thay đổi trong tương quan lực lượng thế giới khiến người ta dự đoán rằng, có lẽ chính những người Nhật kỳ quái này một ngày nào đó sẽ quay lại đối đầu với Đại Anh. Thế là, một căn cứ hải quân khổng lồ đã được xây dựng tại Singapore, với khả năng chứa và sửa chữa toàn bộ Hạm đội Hoàng gia. Kế hoạch ban đầu là nếu Nhật Bản có ý đồ xấu, hạm đội chủ lực sẽ lập tức tiến về Singapore, dùng sức mạnh răn đe hoặc vũ lực để ngăn chặn chúng. Có lẽ người ta đã bỏ quên một điểm rằng, nếu đúng lúc đó người Đức cũng gây rối, thì hạm đội chủ lực sẽ phải ở lại bảo vệ chính quốc.
Do đó, lương thực, nhiên liệu và đạn dược dự trữ tại Singapore chỉ đủ để chống chọi trong cuộc bao vây kéo dài bảy mươi ngày. Trong bảy mươi ngày đó, hoàn toàn có thể điều động hạm đội đến tiếp viện. Người ta còn xây dựng những pháo đài khổng lồ với họng pháo hướng ra biển, đủ sức ngăn chặn bất kỳ cuộc tấn công nào từ hạm đội Nhật trước khi quân tiếp viện đến. Tất cả những điều này tạo nên cảm giác về một pháo đài bất khả xâm phạm.
Thế nhưng, đại dương không bao quanh Singapore như một con hào. Kẻ thù có thể từ phía Bắc dọc theo bán đảo Mã Lai hoang vắng tiến xuống, vượt qua eo biển Johor hẹp để tấn công theo đường bộ. Các nhà hoạch định chính sách cho rằng, bốn trăm dặm rừng rậm nhiệt đới còn kiên cố hơn cả những bức tường thành. Hơn nữa, họ cảm thấy nếu thực sự dựng lên một bức tường thành ở bờ Bắc hòn đảo, chẳng phải là thừa nhận nỗi sợ rằng quân Nhật có thể đánh từ phía Bắc, còn quân Anh thì không thể chống đỡ hay sao? Đại Anh đang cai trị châu Á với uy thế vô địch thiên hạ. Hạm đội chủ lực chỉ mất bảy mươi ngày là đến nơi, còn lý do cấp bách nào để phải thực hiện biện pháp phòng ngừa nhục nhã như vậy? Rốt cuộc, bức tường thành đó đã không được xây dựng. Để yên tâm hơn, họ đã tăng gấp đôi lượng vật tư dự trữ trên đảo Singapore, đủ để duy trì trong một trăm bốn mươi ngày.
Đó chính là nguồn gốc của hình tượng "pháo đài Singapore". Những kế hoạch kéo dài nhiều năm, những khoản ngân sách khổng lồ không tiếc công sức, những dòng mực chảy dài trên báo chí tạp chí để tuyên truyền, những cuộc tranh luận chính trị và quân sự vang dội suốt ngày đêm — tất cả đã nuôi dưỡng một ảo tưởng lan rộng ra toàn thế giới, cắm rễ vào tâm trí giới lãnh đạo cao nhất của Anh, và lan truyền khắp thế giới phương Tây: Singapore đã trở thành một pháo đài. Cơm áo, máu thịt của giai cấp công nhân Anh đã bị tiêu tốn vào căn cứ hải quân rộng hai mươi dặm vuông này, nơi có ụ tàu lớn nhất thế giới, có cần cẩu, xưởng cơ khí, đủ loại máy móc và phụ tùng, có nhà ở và tiện nghi giải trí sang trọng; còn có đủ đạn dược, lương thực và dầu mỏ để cung cấp cho toàn bộ hạm đội trong nhiều tháng, tất cả được cất giữ trong những tầng hầm bê tông khổng lồ dưới lòng đất đầm lầy. Nó tự thành một thể, giống như phòng tuyến Maginot, là một kỳ tích kỹ thuật khiến người ta phải trầm trồ.
Thế nhưng cho đến tận tháng Hai, khi lữ đoàn Scotland cuối cùng thổi kèn túi rút lui qua con đê, khi các gói thuốc nổ thổi bay một lỗ hổng trên cây cầu nối liền với đất liền, khi quân Nhật từ đất liền đang ồ ạt tràn tới, thì cho đến giây phút cuối cùng đó, bờ Bắc Singapore vẫn không hề được phòng thủ — trong khi Churchill vẫn luôn đinh ninh rằng nơi đó đã sớm được củng cố; theo cách nói của chính ông, ông vẫn nghĩ rằng "chiến hạm không đáy không thể nào hạ thủy được".
Kết quả là hạm đội Anh hoàn toàn không tới. Nó còn bận giao tranh với hải quân Đức ở Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và vùng biển nội địa. Hàng loạt thiết bị vẫn nằm đó không được sử dụng, cho đến khi quân Nhật tiến sát đến chỉ còn một dặm, quân Anh mới tìm mọi cách đốt phá. Tuy nhiên, khi căn cứ rơi vào tay địch, nó vẫn còn khá nguyên vẹn, trở thành một chiến lợi phẩm quân sự đáng kinh ngạc. Churchill vẫn bất chấp tất cả, bám chặt lấy kế hoạch bảy mươi ngày, dù mọi thứ đã tan tành, ông vẫn muốn thử một lần. Ông cử tàu "Prince of Wales" và "Repulse" đi tiếp viện, nhưng chỉ là để đưa chúng xuống đáy biển mà thôi.
Mã Lai còn mở ra rất nhiều sân bay, trang bị đủ loại vật tư — chỉ là không có máy bay. Không quân Hoàng gia Anh chưa từng phái một lượng lớn máy bay đến, vì để bảo vệ bầu trời nước Anh khỏi sự xâm phạm của không quân Đức, họ đã mất mát quá nhiều, lại còn vận chuyển hàng trăm chiếc đến Liên Xô, trong đó có rất nhiều chiếc chưa từng được cất cánh đã bị tàu ngầm Đức phóng ngư lôi gửi xuống đáy biển. Số ít máy bay hiện có ở Mã Lai nhanh chóng bị bắn hạ. Người ta nói rằng những chiếc máy bay Nhật làm từ "măng tre và giấy tuyên" hóa ra lại là máy bay Zero — vào thời điểm đó, là loại máy bay chiến đấu hiện đại nhất thế giới. Quân Nhật chiếm được những sân bay dã chiến xuất sắc đó, họ gọi chúng là "sân bay Churchill"; từ những sân bay đầy đủ vật tư này, máy bay của họ phối hợp với lục quân xuất kích, buộc Singapore phải đầu hàng.
Ghi chép về Singapore ngày nay nhìn lại chẳng khác nào một mớ hỗn độn. Quốc hội Mỹ đã điều tra vụ Trân Châu Cảng, nhưng Nghị viện Anh lại không hề điều tra vấn đề Singapore. Churchill gánh lấy mọi tội lỗi, thân hình ông hơi chùng xuống một chút, nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu.
Ngay cả địa danh cũng là một thứ mơ hồ. "Singapore" có nghĩa là gì? Singapore là thành phố đó; Singapore là hòn đảo đó; Singapore là căn cứ hải quân đó; Singapore là "pháo đài của đế quốc" đó. Nhưng nói thẳng ra, "Singapore" là một huyền thoại có tác dụng gây mê, khi cánh tay người da trắng châu Âu sát cạnh châu Á bị cưa bỏ, nó chỉ biến nỗi đau thành một cảm giác tê liệt mà thôi.
Mãi sau Thế chiến thứ hai người ta mới phát hiện ra rằng, kế hoạch tác chiến của Tướng Percival vốn không được áp dụng thực ra vô cùng cao minh — hóa ra khi quân xâm lược tiến vào Singapore, chúng thực sự chỉ còn hơi tàn, quân số ít hơn hẳn lực lượng phòng thủ địa phương, gần như đã đến mức cạn kiệt dầu và đạn. Quân Nhật khi phát động cuộc tấn công cuối cùng đã hạ quyết tâm "phá釜沉舟" (đập nồi dìm thuyền), dùng hết số nhiên liệu và đạn dược còn lại. Bộ tư lệnh tối cao Singapore sụp đổ, và thế là người Mã Lai da màu đã đổi lấy những ông chủ mới cũng da màu.
Alistair Tatchbury đã phát sóng bản thảo của mình tại Úc. Pamela nghe thấy chương trình này tại nhà khách nhà McMahon. Philip Rull, với một cánh tay quấn băng treo, đang nằm trên giường dưỡng thương. Vết thương ở tay anh vừa phải phẫu thuật lần nữa, anh cần nghỉ ngơi một tuần. Trong phòng khách, vợ chồng McMahon và những vị khách họ mời đến ăn tối không hề muốn nghe chương trình phát thanh của cha cô. Sau khi uống nhiều rượu "Pimm's" và dùng một bữa tối thịnh soạn với nhiều loại rượu ngon, họ vây quanh đàn piano hát những bài thánh ca Giáng sinh. Đêm đen mịt mùng, mưa lớn trút xuống ào ạt, những con ếch bò trong rừng đước gần đó phát ra tiếng kêu trầm đục, nhưng Pamela trong căn phòng nhỏ vẫn loáng thoáng nghe thấy tiếng hát vọng tới. Cô đang ngồi dưới chiếc quạt điện lớn quay chậm rãi, gió thổi làm tóc cô bay bay, chiếc váy dài mỏng manh cũng không ngừng lay động. Ánh sáng mờ ảo từ mặt số của chiếc radio (độ sáng có lẽ chỉ bằng một nửa ngọn nến) nhuộm lên căn phòng một màu vàng cam nhạt. Nước mưa từ cửa sổ mở tung hắt vào, hương hoa đại thoang thoảng cũng theo đó lùa vào.
Viên thu sóng của radio rất tốt, bản thảo phát thanh gần như không bị thay đổi gì. Vị đại tá hư cấu kia không còn nhắc lại việc bờ Bắc đảo Singapore không có phòng thủ nữa; ông ta nói, tuyến phòng thủ này cần được "tăng cường khẩn cấp". Cũng không còn chỉ trích Không quân Hoàng gia chỉ biết xây sân bay mà không quan tâm liệu có giữ được chúng hay không. Tatchbury kết thúc bằng việc phủi sạch trách nhiệm của mình với sự việc, giọng điệu càng thêm gay gắt.
"Đáng để tốn nhiều công sức như vậy cho bản tin này sao, Phil?" Pamela hỏi, vặn nhỏ âm lượng radio nhưng vẫn để đèn trên mặt số sáng.
Anh hút một điếu thuốc, những nếp nhăn sâu trên mặt lộ rõ vẻ chua chát, giễu cợt. Sắc mặt anh đã tốt hơn nhiều. Rull là người khỏe mạnh, không cần nghỉ ngơi mấy ngày là đã thoát khỏi những cơn cáu bẳn. "Có chút khoe mẽ khôn vặt. Lão già điên rồ này khi nghe trên đài lại giống hệt giọng điệu của chính mình. Chẳng ai coi trọng nó đâu — ít nhất là những kẻ có quyền có thế sẽ không thèm để ý đến."
"Ngoài cách đó ra, Tatchbury còn có thể làm gì khác?"
"Tôi không nói được. Nó vượt qua được cửa ải này và được tung ra, đã làm tôi ngạc nhiên rồi."
"Phil, Singapore sẽ thất thủ sao?"
Tiếng cười của Rull rất khó nghe. "Cưng à, tôi sợ là không tránh khỏi. Cô có trách Thống đốc, hay trách Brooke-Popham, trách Duff Cooper, thậm chí trách Churchill, đều vô ích. Tình hình là thế đấy: sụp đổ toàn diện. Không thể cứu vãn nổi, cả bộ máy đã gỉ sét, các linh kiện rơi rụng từng cái một. Ở phía Bắc, hoàn toàn không có người lãnh đạo. Anh em họ muốn cố gắng một chút. Họ muốn tìm cách cố gắng, ngay cả quân đội Ấn Độ cũng muốn cố gắng. Ai mà biết được, lệnh từ Singapore liên tiếp ban xuống, thật hèn nhát — toàn là rút lui, sơ tán, rút lui. Tôi thấy anh em cầm lệnh mà bật khóc. Cái đám 'thổ hoàng đế' ở câu lạc bộ Tanglin không có nhân tính đâu, Pam. Họ chỉ là những phế vật đã chơi xong cuộc đời mình. Họ sợ quân Nhật, họ cũng sợ cả người châu Á của chúng ta. Nói đến điểm này, việc người da trắng châu Âu cai trị châu Á, thực sự là điều ngu xuẩn nhất. Chuyện này không kéo dài được đâu. Giờ cục diện này sắp kết thúc rồi, tại sao phải vì nó mà đau buồn?"
"Tôi làm thế nào để thoát khỏi Singapore đây?"
"Cô có thể đi. Quân Nhật còn xa lắm. Có vài con tàu chuẩn bị sơ tán phụ nữ và trẻ em da trắng. Cô biết đấy, họ đã làm thế ở Penang. Họ sơ tán người châu Âu — binh lính và những người khác — cùng nhau, bỏ mặc người châu Á cùng phụ nữ trẻ em của họ đối mặt với người Nhật. Cô có biết chuyện đó không? Sau đó, Duff Cooper tuyên bố trên đài rằng toàn bộ cư dân Penang đã thoát hiểm! Ông ta nói câu đó rất chân thành, Pamela ạ. Đối với Duff Cooper, người châu Á chỉ là một loài động vật sinh trưởng ở Penang mà thôi. Hiện giờ đang gây ra phản ứng dữ dội — về những gì đã xảy ra lúc đó và những lời ông ta nói. Tôi thấy người châu Á chẳng quan tâm ai làm chủ ở đây đâu. Có lẽ chúng ta đối xử ôn hòa hơn người Nhật một chút, nhưng ít nhất người Nhật cũng là người da màu. Người châu Á thà chịu sự bạo ngược còn hơn là chịu sự khinh miệt."
"Mọi người đều nói Mỹ sẽ phái viễn chinh quân đến cứu chúng ta, anh có tin không?"
"Đó là mong muốn một chiều, là ảo tưởng thôi. Mỹ không có hạm đội. Hạm đội đều chìm ở Trân Châu Cảng rồi."
"Chuyện xảy ra ở Trân Châu Cảng chẳng ai biết rõ cả."
"Denton Shepard thì biết. Họ có tổng cộng tám chiếc thiết giáp hạm, đều chìm cả rồi. Hai năm tới (chưa nói đến vĩnh viễn), Thái Bình Dương không còn việc của Mỹ nữa. Phái viện binh đến Singapore cũng bất khả thi như phái viện binh từ Thụy Sĩ đến vậy, nhưng — cô bị làm sao thế?"
Pamela Tatchbury vùi mặt vào cánh tay đặt trên lưng ghế.
"Pamela! Chuyện gì thế?" Cô không trả lời. "Ồ, trời ạ, cô đang nhớ gã người Mỹ của cô đấy à! Tôi thấy khó chịu thay cho cô, cô gái lớn. Khi Denton kể cho tôi, tôi cũng nghĩ đến anh ta. Pam, về tình hình thương vong tôi không biết gì cả. Người yêu của cô bình an vô sự là khả năng rất lớn. Những con tàu đó chìm trong cảng, chìm ở vùng nước nông."
Cô vẫn không nói một lời, không cử động. Bên ngoài căn nhà nhỏ, chỉ nghe tiếng mưa, tiếng ếch và tiếng hợp xướng vọng lại từ xa: Cầu Chúa phù hộ, các bạn hãy vui vẻ, đừng để bất cứ điều gì làm mọi người buồn phiền — đột nhiên, ngay ngoài cửa sổ, như thể có một kẻ điên bị kinh hãi đang lảm nhảm, cười ngây dại. Pamela ngồi thẳng dậy kêu lên. "Ôi! Trời ơi! Đó là cái gì vậy?"
"Đừng sợ. Đó là 'khỉ mơ' của chúng ta đấy. Nó đi lại trong rừng. Tiếng kêu nghe rất đáng sợ, nhưng nó không gây hại đâu."
"Trời đất ơi, tôi ghét Singapore! Ngay cả không có chiến tranh tôi cũng ghét nó." Pamela lảo đảo đứng dậy, lau vầng trán ẩm ướt. "Để người Nhật lấy Singapore đi, lấy đi chỉ có tốt! Tôi muốn về phòng chính đây. Anh không sao chứ? Anh còn cần gì không?"
"Tôi sẽ thấy cô đơn, nhưng không có lý do gì để không để cô đi vui vẻ. Đi đi."
"Vui vẻ! Tôi chỉ là không muốn thất lễ với chủ nhà thôi. Họ có thể nghĩ tôi đã ngủ chung giường với một bệnh nhân rồi."
"Được rồi, vậy tại sao cô không ngủ lại đây, Pam?" Cô trừng mắt nhìn anh. "Thật đấy, chuyện này chẳng thú vị sao? Đêm Giáng sinh và tất cả những điều này? Nhớ đêm Giáng sinh ở Montmartre không? Ngày đó, Slute và Natalie đánh nhau vào lúc bình minh, trận đánh đó thực sự đáng ghi vào sử sách, còn hai chúng ta lẻn đến khách sạn Lehar ăn súp hành?" Ria mép của Phil rung rung, từ từ lộ ra một nụ cười kỳ quặc quen thuộc, phản chiếu trong ánh sáng màu cam của radio, trông rất mờ ảo. Anh đưa cánh tay không bị thương ra. "Lại đây nào, Tatchbury."
"Anh là một con lợn, Philip, một con lợn có tính trộm cắp không đổi," giọng Pam cũng run rẩy, "Trong cuộc trò chuyện nhỏ vào ngày kỷ niệm Bastille, những lời tôi mắng anh đều đúng cả."
"Cưng à, tôi sinh ra trong một xã hội thối nát, nên có lẽ tôi là một kẻ thối nát — nếu từ 'kẻ thối nát' có nghĩa. Chúng ta đừng mang những tranh cãi quá khứ ra nữa, nhưng có phải cô hơi mâu thuẫn không? Trong lúc xã hội sụp đổ toàn diện này, ngoài việc tìm vui thì còn làm được gì nữa. Chính cô cũng tin vào điều đó mà. Tôi thích chuyện tình tạm bợ, còn cô lại khăng khăng muốn tình yêu trong kịch nghệ. Bản tính khó dời, không sai được. Tôi yêu cô mà."
"Vậy còn vợ anh thì sao? Tôi chỉ thấy tò mò nên hỏi thôi. Ở Paris, ít nhất anh chưa có vợ."
"Cưng à, tôi không biết cô ấy hiện giờ còn sống không. Nếu còn sống, tôi hy vọng cô ấy đang tán tỉnh một chiến binh Nga đẹp trai nào đó đang nghỉ phép; dù nói vậy, tôi không tin cô ấy sẽ làm thế, cô ấy còn cổ hủ hơn hầu hết phụ nữ Anh ngày nay."
Pamela lao ra cửa.
"Cô nên mang theo ô," anh gọi với theo bóng lưng cô.
Cô quay lại, cầm lấy chiếc ô rồi lao ra ngoài. Cô chưa đi được mười bước trong bóng tối, con khỉ đó đã kêu ré lên gần sát tai cô, khiến người nghe lạnh cả máu. Pamela khẽ kêu một tiếng, lao thẳng về phía trước, đâm sầm vào một cái cây, vỏ cây làm xước mặt cô, cành cây quất ngang làm rơi chiếc ô trên tay cô, nước mưa trên cây trút hết lên người cô. Cô nhặt chiếc ô lên, đứng ngây ra đó, ướt sũng toàn thân. Gần như ngay trước mặt, cô nghe thấy tiếng hát vọng lại — chỉ cần trong làng còn một con đường nhỏ, thì sẽ luôn có một nước Anh. Nhưng đêm đó là một mảnh tối đen. Cô vốn tranh thủ lúc mưa ngớt giữa hai trận mưa rào để tìm đường dưới ánh sao. Giờ cô không biết phải đi thế nào nữa. Con đường nhỏ quanh co giữa hai hàng trúc đào và hoa nhiệt đới, rất dốc.
Vào khoảnh khắc này, tâm trạng của Pamela vô cùng tồi tệ. Chương trình phát thanh của cha cô khiến cô chán nản. Cô vốn đã rất bất an vì chỉ có một mình, không ai bảo vệ, nay lại nghe thấy giọng nói của người thân từ ngàn dặm xa xôi, càng khiến cô thêm bồn chồn. Dạo gần đây, người Nhật dùng tiếng Anh bồi phát ra những lời đe dọa trên đài, cô nghe mà sợ hãi. Giọng nói mang âm mũi của người ngoại bang nghe như đang ở ngay trước mặt, thật đáng sợ! Cô gần như cảm thấy có đôi bàn tay thô ráp, chai sạn vươn tới xé toạc quần lót của cô, cố sức vạch hai chân cô ra. Trong số biết bao nhiêu phụ nữ đang đối mặt với thảm họa, chỉ có cô là biết rõ nhất Singapore vô dụng đến mức nào.
Thêm vào đó, Rull lại nghe từ Shepard rằng con tàu của Victor Henry đã chìm! Ngay cả khi Henry thoát chết, cũng sẽ được phân công nhiệm vụ khác. Ngay cả khi cô thoát khỏi Singapore, cũng chưa chắc sẽ còn gặp lại anh. Ngay cả khi có một cuộc gặp gỡ bất ngờ hiếm có, thì đã sao? Anh chẳng phải là người đã có vợ sao? Cô đi khắp chân trời góc bể, nhưng như mò kim đáy bể, giờ chỉ còn lại một mình, trong đêm đen nóng bức, cầm một chiếc ô, đội cơn mưa tầm tã, trong khu vườn của người lạ, ướt sũng toàn thân, bốn bề mờ mịt. Mà hôm nay chính là đêm Giáng sinh — có lẽ đây là đêm Giáng sinh cuối cùng trong đời cô.
Không sợ thiếu đi một nước Anh, nước Anh sẽ luôn tự do — cô không muốn cùng những người Anh say xỉn ở Singapore hát hò. Khúc ca rẻ tiền này khiến cô nhớ lại những ngày đầu chiến tranh, khi đó là mùa hè tươi sáng, cũng là thời điểm đẹp nhất trong đời cô, "Trận chiến nước Anh" đang diễn ra, Trung tá hải quân Henry bay về Anh sau cuộc không kích Berlin, cô lao vào vòng tay anh. Đoạn lịch sử vẻ vang đó giờ đã hóa thành tro bụi. Cô thích vợ chồng McMahon, nhưng bạn bè của họ lại là những kẻ ngu ngốc từ câu lạc bộ và Bộ Lục quân. Kể từ khi uống "Pimm's", hai trung úy trẻ của Bộ Tham mưu cứ luôn tán tỉnh cô. Cả hai đều đáng ghét đến cùng cực, nhưng lại là hai con vật đẹp mã — nhất là gã trung úy mặt dài tóc vàng kia, lờ đờ, mang phong thái của Leslie Howard. Chỉ cần cô quay lại phòng chính, họ lại sẽ theo đuổi cô (nếu cô không ngã lấm lem bùn đất trên đường trong đêm tối). Rõ ràng là cả hai đều muốn ngủ với cô — nếu không phải đêm nay, thì là đêm mai, đêm kia.
Họ sai ở đâu chứ! Điều này thì có liên quan gì đâu? Cô cứ giữ mình vì Victor Henry như vậy thì có nghĩa lý gì? Đây chẳng qua là một trò cười ngu ngốc; giữ mình trong trắng hoàn toàn không áp dụng được với cô, vì cô đã từng quan hệ với người khác không chỉ một lần.
Phía sau cô, cửa sổ mở rộng của nhà khách trông như một hình chữ nhật màu vàng nhạt trong đêm đen. Người không biết chắc có một nhà khách ở đó sẽ tưởng đây là ảo giác của thần kinh thị giác. Trước sau trái phải một mảnh tối đen, mưa tầm tã, chỉ có nơi đó là có một chút ánh sáng mờ ảo, và cô cũng chỉ có con đường đó để đi.