Hành trình của một người Do Thái (trích từ bản thảo của Aaron Jastrow). Giáng sinh, năm 1942. Lourdes.
Sáng sớm thức dậy, trong đầu tôi chỉ nghĩ về Auschwitz.
Toàn bộ người Mỹ tại bốn khách sạn được phép cùng nhau đến nhà thờ duy nhất một lần để tham dự lễ cầu nguyện đêm Giáng sinh tại thánh đường. Như thường lệ, chúng tôi được hộ tống bởi đám cảnh sát an ninh vốn luôn theo sát, dù ít nhất họ vẫn còn giữ thái độ tương đối lịch sự. Ngoài họ ra, còn có vài tên lính Đức thái độ thô bạo. Kể từ tuần trước, bất kể chúng tôi đi dạo hay mua sắm, đi khám bệnh, nhổ răng hay cắt tóc, chúng đều theo sát không rời. Đây là đêm Giáng sinh (nơi đây nằm sâu trong dãy núi Pyrenees cao vút, khí hậu vô cùng lạnh giá, không cần nói cũng biết, dù là trong nhà thờ hay hành lang khách sạn đều chẳng có lò sưởi), đám lính này vốn có thể uống cho say khướt để mừng ngày Chúa Jesus giáng sinh, hoặc trút bỏ thú tính lên những cô gái điếm Pháp tội nghiệp chuyên phục vụ bọn xâm lược, nhưng rõ ràng chúng cảm thấy bực bội vì bị phân công vào cái công việc khổ sai này. Natalie không muốn đi lễ, nhưng tôi thì có.
Đã lâu lắm rồi tôi không đi lễ. Tại thánh địa mà vạn người chiêm bái này, tôi đã thấy một buổi lễ thực thụ, thấy một đám đông tín đồ sùng đạo; vì nơi đây thờ phụng thánh điện, những người đến chiêm bái kẻ thì liệt toàn thân, kẻ thì què quặt, kẻ mù lòa, kẻ tàn tật dị dạng, kẻ đang thoi thóp hơi thở, họ tạo thành một hàng ngũ khiến người ta không đành lòng nhìn ngắm; nếu quả thực có ai đó tin rằng Chúa trời có lòng trắc ẩn ngay cả với một con chim sẻ rơi xuống đất mà chết, thì những con người này hẳn là đối tượng bị Ngài cố tình trêu đùa tàn nhẫn, hoặc là những nạn nhân do Ngài sơ suất bỏ quên. Trong nhà thờ lạnh thấu xương, nhưng sau khi buổi lễ bắt đầu, không khí nơi đây so với nỗi bi thương trong lòng tôi lúc này lại ấm áp như xuân: thánh ca vang dội, tiếng chuông du dương, nghi thức rước lễ, quỳ lạy trang nghiêm. Vì tôi đến đây hoàn toàn tự nguyện, chỉ để giữ phép lịch sự, lẽ ra tôi cũng nên quỳ xuống cùng họ khi cần thiết. Thế nhưng, người Do Thái cứng đầu như tôi lại bất chấp những ánh mắt khiển trách đổ dồn về phía mình, nhất quyết không chịu quỳ. Tôi cũng không tham dự buổi tiệc Giáng sinh được tổ chức cho nhóm chúng tôi tại khách sạn Ambassador sau buổi lễ, dù có người bảo tôi rằng ở đó có rượu cung cấp từ chợ đen cho bạn uống thỏa thích, ngoài ra còn có gà tây và xúc xích cũng từ chợ đen. Tôi quay về khách sạn Gallia, một tên lính Đức miệng hôi thối, thái độ thô bạo đi theo tôi đến tận cửa phòng. Tôi nằm xuống, và khi tôi tỉnh giấc, trong đầu tôi vẫn nghĩ về Auschwitz.
Lần đầu tiên tôi đoạn tuyệt với Do Thái giáo là tại trường kinh Talmud ở Auschwitz. Mọi cảnh tượng lúc đó vẫn còn hiện rõ mồn một, như thể chuyện mới xảy ra ngày hôm qua. Người giám thị của trường kinh đó cho rằng tôi dám tin vào tà thuyết, đã tát tôi một cái đau điếng, đuổi tôi ra khỏi giảng đường. Khi ấy, giữa ráng chiều tím ngắt, gót chân tôi lún trong tuyết trên quảng trường thành phố, hai bên má đau rát như bị kim châm; đến tận bây giờ tôi vẫn còn cảm nhận được nỗi đau đó. Nhiều năm rồi tôi không nghĩ đến chuyện này, nhưng ngay cả lúc này khi nhớ lại, tôi vẫn cho rằng đó là một hành động bạo ngược không thể dung thứ. Có lẽ, nếu ở một thành phố lớn hơn, như Krakow hay Warsaw, người giám thị ở trường kinh Talmud tại đó hẳn sẽ thông tình đạt lý hơn, chỉ cười trừ trước hành vi báng bổ của tôi. Nếu thật sự như vậy, lộ trình cuộc đời tôi có lẽ đã hoàn toàn khác biệt. Một cành cây nhỏ bé, lại thay đổi dòng chảy của một con thác đang cuồn cuộn đổ.
Chuyện này thật quá bất công! Dù sao đi nữa, tôi cũng là một đứa trẻ tuân thủ quy tắc, như cách họ nói bằng tiếng Yiddish: "mềm mại như lụa". Đối với tinh hoa thực chất của Do Thái giáo, những khác biệt tinh vi về mặt luật pháp, hay những chi tiết nhỏ nhặt trong đạo đức mà những kẻ ngu ngốc thường gọi là "bới lông tìm vết", tôi đều có thể biện giải rành mạch, vượt xa người khác. Những lập luận suy lý đó nghiêm ngặt và tao nhã, gần như không kém gì hình học, ai muốn nắm vững không chỉ cần một loại cảm thụ, mà còn cần một niềm khao khát tri thức. Tôi chính là đang có niềm khao khát đó. Tôi là một học sinh xuất sắc của bộ kinh Talmud, tôi thông minh và nhanh nhạy hơn cả gã giám thị kia. Có lẽ, tên đần độn hẹp hòi, đầu óc bảo thủ, đội mũ đen, để râu dài đó đang mong chờ một cơ hội để dập tắt sự sắc sảo của tôi; vì thế hắn mới tát tôi một bạt tai, đuổi tôi khỏi giảng đường, đẩy tôi lên lộ trình dẫn đến cây thập tự của Chúa.
Tôi vẫn nhớ đoạn kinh đó: trang 111, tiêu đề là "Tế lễ Lễ Vượt Qua". Tôi vẫn nhớ nội dung của nó: ma quỷ, và các thuật pháp tránh quỷ, đấu quỷ, đuổi quỷ. Tôi vẫn nhớ lý do mình bị đánh. Tôi đã hỏi: "Nhưng thưa thầy Leizer, liệu có thực sự tồn tại thứ gọi là ma quỷ không?". Tôi vẫn nhớ, khi bị đánh đến choáng váng, hai má nóng bừng nằm trên mặt đất, gã đần độn để râu kia đã gầm lên với tôi: "Đứng dậy! Cút ra ngoài! Đồ dị giáo đáng ghét!". Thế là, tôi loạng choạng rời khỏi trường kinh, bước vào thành phố Auschwitz âm u, lạnh lẽo phủ đầy tuyết trắng.
Khi đó tôi mười lăm tuổi. Đối với tôi, Auschwitz lúc bấy giờ là một thành phố rất lớn, Krakow là một đô thị tráng lệ mà trước đó tôi chỉ mới đến một lần. Ngôi làng Medzies của chúng tôi - ngược dòng sông Vistula đi khoảng mười cây số là tới - nhà cửa ở đó toàn là nhà gỗ, đường sá toàn là những lối nhỏ bùn lầy khúc khuỷu. Ngay cả nhà thờ ở Medzies - nơi lũ trẻ chúng tôi luôn tránh xa như tránh bệnh viện phong - cũng là một căn nhà gỗ. Còn Auschwitz lại có những đại lộ bằng phẳng; một nhà ga lớn, nhiều công trình xây bằng gạch đá, nhiều cửa tiệm với tủ kính sáng trưng, và vài nhà thờ xây bằng đá.
Tôi không hề quen thuộc với thành phố này. Tại trường kinh, chúng tôi sống cuộc sống quân ngũ nghiêm ngặt, ngoài mấy con phố nhỏ sát cạnh ký túc xá chật hẹp và nhà của các giáo viên, chúng tôi hầu như không bước chân ra ngoài. Nhưng ngọn lửa phản kháng ngày hôm đó đã đưa tôi ra khỏi những con phố nhỏ kia, đưa tôi vào sâu trong lòng thành phố. Tôi đi khắp Auschwitz, lòng cuộn trào nỗi phẫn uất vì bị ngược đãi, cuối cùng, tôi không thể kìm nén được sự nghi ngờ đã dày vò mình suốt bao năm qua.
Tôi không hề ngu ngốc. Tôi biết tiếng Đức và tiếng Ba Lan, tôi đọc báo, đọc tiểu thuyết, đồng thời, chính vì là một học sinh kinh Talmud thông minh, tầm nhìn của tôi có thể vượt ra ngoài giảng đường để nhìn thấy thế giới bên ngoài; thế giới đó tuy kỳ lạ, đầy rẫy những nguy hiểm lạ lùng và cám dỗ tội lỗi, nhưng dù sao đó cũng là một thế giới rộng lớn hơn nhiều, trong khi giữa những dòng chữ đen đặc của kinh Talmud, bạn chỉ có thể thấy một thế giới nhỏ bé, đơn điệu và hạn hẹp không bao giờ thay đổi. Những thầy giáo dạy kinh luôn giám sát bạn từng giờ từng phút, tuy họ cũng khá uyên bác, nhưng lại khiến người ta cảm thấy nhàm chán, những lời bình luận phân tích tỉ mỉ đến từng chi tiết về bộ kinh điển đã có lịch sử 1.400 năm ấy chỉ có thể tiêu hao sạch sẽ tài năng và sức lực của tuổi trẻ. Từ khi mười một tuổi cho đến khoảnh khắc bị đánh, lòng tôi luôn tràn ngập sự mâu thuẫn ngày càng đau đớn. Là một học sinh trường kinh, tôi đương nhiên khao khát trở thành một học giả thiên tài về kinh Talmud nổi tiếng thế giới, nhưng đồng thời, sâu thẳm trong linh hồn tôi lại có một giọng nói tội lỗi thì thầm rằng: tôi đang lãng phí thời gian của mình.
Sự giận dữ của người giám thị khiến tôi lang thang như một con chó hoang không nhà, tôi vừa đi khó nhọc trên con phố tuyết ngập đến mắt cá chân, vừa suy nghĩ về tất cả những điều trên. Tôi dừng chân trước một nhà thờ Thiên Chúa giáo lớn nhất Auschwitz, lạ thay, tôi lại quên mất tên của nó! Nhà thờ gần trường kinh nhất gọi là Kalwaria; đến giờ tôi vẫn nhớ. Còn thánh đường lớn kia là một công trình tráng lệ khác nằm trên một quảng trường rộng lớn.
Cơn giận của tôi vẫn chưa nguôi. Ngược lại, cảm xúc phản kháng tích tụ suốt bốn năm trời lúc này bỗng chốc bùng phát, phá vỡ sự trói buộc do bao năm nhồi nhét từ thuở lọt lòng, vượt qua rào cản do lương tâm tôn giáo non nớt tạo nên, tôi đã làm một việc mà vài giờ trước đó tưởng chừng như tự cắt cổ tay mình vậy, khó mà tin được. Tôi lẻn vào nhà thờ đó. Để chống lại cái lạnh, tôi quấn mình kín mít, vì vậy tôi nghĩ rằng trông mình chẳng khác gì những đứa trẻ theo đạo Thiên Chúa khác. Dù sao đi nữa, lúc đó đang diễn ra nghi lễ nào đó, mọi người đều nhìn về phía trước, không ai chú ý đến tôi.
Chừng nào còn sống, tôi sẽ không bao giờ quên được sự bàng hoàng khi nhìn thấy trên bức tường phía trước - nơi đặt thánh điện trong nhà thờ Do Thái - một bức tượng lớn Chúa Jesus bị trói trên thập tự giá: Ngài trần truồng, máu me đầm đìa; tôi cũng sẽ không bao giờ quên được mùi hương lạ lùng tỏa ra từ khói hương ngoại đạo, cùng những bức tranh thánh khổng lồ trên hai bức tường. Khi nghĩ rằng đối với thế giới "bên ngoài" (lúc đó tôi nghĩ như vậy), đây chính là tôn giáo, đây chính là con đường dẫn đến Chúa trời, tôi cảm thấy kinh ngạc; tôi vừa sợ hãi vừa bị cuốn hút, tôi đã đứng lặng ở đó một thời gian rất dài. Kể từ đó, tôi chưa bao giờ có cảm giác xa lạ đó, cảm giác cô độc đó, tôi cũng chưa bao giờ trải nghiệm cảm giác hoang mang khi linh hồn sắp trải qua một sự thay đổi hoàn toàn không thể cứu vãn.
Cái gọi là "chưa bao giờ" đó nghĩa là cho đến đêm qua.
Có lẽ vì tôi đã ở Lourdes - nơi đầy rẫy bầu không khí thương mại đáng sợ, ngay cả khi đang là mùa thấp điểm, ngay cả trong thời chiến, không khí này vẫn bao trùm toàn thành phố, khiến mọi thứ trở nên dung tục không thể chịu nổi - suốt vài tuần lễ, do đó ngày càng bị kích động. Có lẽ vì nhóm người tàn tật tội nghiệp tập hợp trong thánh đường kia khiến tôi đến nay vẫn không thể quên, hoặc có lẽ vì cảm xúc phản kháng của tôi một khi đã bộc lộ, những đụng độ giữa tôi và Natalie khiến cơn giận tích tụ trong lòng tôi lúc này bùng phát, phá tan bản năng tự kiềm chế trong tâm trí tôi - bất kể là vì lý do gì, thực tế hiện tại là, đêm qua khi tôi tham dự lễ cầu nguyện đêm Giáng sinh, mặc dù hình ảnh Chúa trên thập tự giá giờ đây đã quá quen thuộc với tôi, mặc dù tôi đã viết nhiều cuốn sách về giáo lý Cơ Đốc, và tôi cũng từng thực sự say mê nghệ thuật tôn giáo châu Âu, nhưng đêm qua tôi cảm thấy xa lạ, cảm thấy cô đơn, giống hệt cảm giác của tôi năm mười lăm tuổi trong nhà thờ ở Auschwitz.
Sáng nay khi tỉnh dậy, trong đầu tôi vẫn nghĩ về chuyện này. Tôi vừa uống cà phê, vừa viết những dòng nhật ký này. Cà phê không tệ. Ở Pháp, ngay cả trong thời kỳ giao tranh ác liệt, ngay cả dưới gót sắt của kẻ chinh phục, chỉ cần có tiền là mua được mọi thứ. Tại Lourdes, ngay cả giá chợ đen cũng không quá đắt đỏ. Bây giờ đang là mùa thấp điểm.
Kể từ khi đến Lourdes, tôi vẫn chưa viết nhật ký; nói thật, tôi hy vọng có thể viết tiếp trên con tàu trở về nhà. Hy vọng này ngày càng mong manh. Dù cháu gái tôi và tôi không ai nói ra, nhưng hoàn cảnh thực tế của chúng tôi có lẽ còn tồi tệ hơn nhiều. Cầu mong sự lạc quan của con bé là thật, chứ không phải đang cố tỏ ra bình tĩnh như tôi. Có một số tình huống nó không hiểu, Tổng lãnh sự đã làm đúng, để tránh làm nó bất an, ông đã không nói chi tiết về những khó khăn của chúng tôi cho nó biết. Nhưng với tôi, ông lại rất thẳng thắn.
Những rắc rối mà chúng tôi gặp phải không ai có thể kiểm soát được. Chỉ chậm mất vài ngày, chúng tôi đã không thể rời khỏi nước Pháp Vichy một cách hợp pháp, đây đương nhiên là điều bất hạnh tồi tệ nhất. Mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi, những giấy tờ quý giá đều đã cầm trong tay, nhưng tin tức về cuộc đổ bộ của Mỹ vừa truyền đến, tất cả lịch trình tàu hỏa đều tạm dừng thực hiện, biên giới cũng đóng cửa hoàn toàn. Jim Gethser vì bảo vệ chúng tôi đã hành động bình tĩnh và nhanh chóng, cung cấp cho chúng tôi giấy tờ phóng viên chính thức, và lùi ngày cấp giấy tờ lại năm 1939. Dựa vào những giấy tờ này, chúng tôi trở thành phóng viên của tạp chí "Life", tạp chí này quả thực cũng từng đăng hai bài viết của tôi về châu Âu thời chiến.
Không chỉ vậy, ông ấy còn làm giúp chúng tôi vài việc khác. Khi họ tiêu hủy tài liệu, họ đã tìm ra hai lá thư của tạp chí "Life" gửi đến, yêu cầu cho phép đăng lại một số tác phẩm của các nhà văn và nhiếp ảnh gia. Ở Marseille có một nhóm chuyên làm giả giấy tờ cho người tị nạn, nhóm này có tay nghề cao, do một vị linh mục Công giáo nổi tiếng dẫn đầu. Trong cuộc khủng hoảng bất ngờ này, dù Tổng lãnh sự còn phải xử lý nhiều việc khác, ông vẫn thông qua quan hệ ngầm để lấy được vài lá thư viết trên giấy tiêu đề của tạp chí "Life", tôi và Natalie đã thực sự trở thành phóng viên được tạp chí "Life" chính thức thuê; những giấy tờ này trông y như thật, những vết mòn, nếp gấp, màu sắc hơi phai đi, cứ như thể đã được sử dụng thực sự trong vài năm rồi.
James Gethser không hy vọng những giấy tờ giả này có thể che giấu chúng tôi lâu dài, nhưng ông tin rằng ít nhất có thể ứng phó được cho đến khi giúp chúng tôi thoát hiểm. Tuy nhiên, thời gian càng kéo dài, nguy hiểm càng tăng dần. Ông vốn tưởng rằng chúng tôi có thể được thả trong vài ngày hoặc vài tuần, vì dù sao chúng tôi cũng không hề tuyên chiến với Pháp Vichy. Chúng tôi chỉ cắt đứt quan hệ ngoại giao, vì vậy người Mỹ không phải là "kẻ thù", căn bản không nên bị "giam giữ". Thế nhưng, nhóm chúng tôi tại Lourdes, tổng cộng khoảng 160 người, lại đang thực sự bị "giam giữ" ở đó. Ngay từ đầu, chúng tôi đã luôn nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của cảnh sát Pháp, mọi hành động đều phải chịu sự giám sát của một sĩ quan cảnh sát mặc đồng phục. Vài ngày trước, mật vụ Đức đã bố trí trạm gác xung quanh bốn khách sạn nơi người Mỹ chúng tôi bị cách ly, kể từ đó, chúng tôi không chỉ bị cảnh sát Pháp giam giữ, mà còn nằm dưới sự giám sát của người Đức. Như vậy, trong cử chỉ của người Pháp không tránh khỏi biểu lộ một vẻ lúng túng vì cảm thấy nhục nhã, họ cố gắng cung cấp cho chúng tôi nhiều thuận tiện nhất có thể trong những việc nhỏ nhặt, nhưng người Đức thì luôn theo sát không rời, bất kể chúng tôi đi đâu, chúng luôn giữ khuôn mặt lạnh tanh, bước đi đều đặn theo sau hộ tống, trong hành lang khách sạn, chúng trừng mắt nhìn chằm chằm vào chúng tôi, nếu ai lỡ tay phạm phải quy định nào của Đức, chúng sẽ quát tháo ra lệnh.
Sau một thời gian, tôi mới dần hiểu ra nguyên nhân thực sự của cuộc giam giữ kéo dài này. Bản thân Gethser lúc đầu cũng không biết. Viên biện lý Mỹ vốn bị giam giữ tại Vichy, sau đó cũng cùng toàn bộ nhân viên đại sứ quán bị đưa đến chỗ chúng tôi, ông ta ở khách sạn khác, ngay cả liên lạc điện thoại cũng bị cấm. Viên biện lý này tên là Tucker, là một người có năng lực - rất ngưỡng mộ các tác phẩm của tôi, dù điều này chẳng quan trọng gì - có vẻ như ông chỉ có thể gọi điện ngắn gọn mỗi ngày một lần với đại diện Thụy Sĩ ở Vichy. Vì vậy chúng tôi, đặc biệt là những người ở khách sạn Gallia, thực tế hoàn toàn ở trong trạng thái bị cắt đứt với thế giới bên ngoài, không hề biết gì về mọi tình hình.
Nguyên nhân chúng tôi bị ngăn cản cuối cùng cũng được làm rõ, thực ra rất đơn giản: những người Vichy ở Mỹ lẽ ra phải trao đổi với chúng tôi hầu như không ai chịu quay trở lại Pháp. Điều này cũng có thể hiểu được, vì đám Đức lúc này đã chiếm đóng toàn bộ nước Pháp. Nhưng điều này làm tình hình trở nên phức tạp hơn, và người Đức cũng nhân cơ hội này can thiệp vào. Cho đến nay, chúng vẫn thông qua bù nhìn Vichy của chúng để đàm phán, nhưng mọi chuyện đã quá rõ ràng, chúng đang lợi dụng chúng tôi để mặc cả.
Nếu người Pháp lúc đó sòng phẳng đưa chúng tôi đến biên giới Tây Ban Nha chỉ cách ba mươi dặm, chúng tôi có lẽ đã thoát thân trong một hoặc hai tuần. Nếu như vậy, đó cũng có thể coi là sự đền đáp xứng đáng cho lượng lương thực và thuốc men khổng lồ mà Mỹ đã hào phóng tặng cho chính phủ này trong những năm qua. Nhưng những kẻ trong chính quyền Vichy này thuộc loại người khiến người ta phải rùng mình. Chúng khúm núm, xu nịnh, tự cao tự đại, xảo quyệt, giả tạo; chúng phản động bảo thủ, phân biệt chủng tộc Do Thái; chúng vừa hiếu chiến vừa nhu nhược. Sự đồi bại của chúng thực sự làm nhục văn hóa Pháp. Chúng là những kẻ cặn bã còn sót lại của đám người hãm hại Dreyfus năm xưa. Tóm lại, chúng tôi không thể thoát thân. Chúng tôi hiện vẫn ở đây, trở thành con bài mặc cả để người Đức đòi lại những tên gián điệp đủ loại của chúng đang bị giam giữ ở nước ngoài; không cần phải nói, chúng sẽ bất chấp thủ đoạn để đòi giá cao.
Khi tôi tỉnh dậy, trong đầu nghĩ về Auschwitz, còn một lý do khác nữa.
Trong thời gian chúng tôi lưu trú lâu dài tại căn hộ Mendelssohn ở Marseille, những người tị nạn đi ngang qua đó không dứt - thường chỉ ở lại tối đa một hoặc hai đêm - vì vậy, chúng tôi đã nghe được nhiều tin đồn đáng sợ về người Do Thái ở châu Âu. Theo những tin đồn này, ở phương Đông đang xảy ra nhiều hành động tàn bạo: xả súng hàng loạt, tàn sát bằng khí độc trong xe kín, bất cứ ai bị áp giải đến trại tập trung hoặc là bị giết ngay lập tức, hoặc là bị tra tấn đến chết vì đói khát hay lao dịch. Tôi luôn không thể chắc chắn về mức độ tin cậy của những tin đồn này, hiện tại tôi vẫn không thể chắc chắn, nhưng có một chuyện là chắc chắn không nghi ngờ gì; địa danh được lặp đi lặp lại đó, địa danh luôn được thốt ra bằng những lời lẽ khủng khiếp và hoảng loạn nhất, chính là Auschwitz. Người ta nhắc đến địa danh này, thường luôn dùng tiếng Đức, cái phát âm chói tai của nó, tôi đến nay vẫn nhớ như in.
Nếu những tin đồn này không hoàn toàn chỉ là sự cuồng loạn sợ hãi do đau khổ gây ra, thì Auschwitz chắc chắn là tiêu điểm của mọi nỗi kinh hoàng - Auschwitz của tôi, nơi tôi từng học thời thơ ấu, nơi cha tôi từng mua cho tôi một chiếc xe đạp, nơi cả gia đình tôi từng đến đó đón ngày Sabbath, nghe một nhà truyền giáo rao giảng sự phục hưng bằng tiếng Yiddish; cũng tại nơi đó, lần đầu tiên tôi nhìn thấy cảnh bên trong một nhà thờ Thiên Chúa giáo, lần đầu tiên nhìn thấy bức tượng Chúa Jesus bằng người thật trên thập tự giá.
Trong tình hình hiện tại, mối nguy hiểm cuối cùng mà chúng tôi phải đối mặt chính là bị đưa đến trại tập trung Auschwitz bí ẩn và đáng sợ kia. Như thế, chiếc thòng lọng trên cổ tôi sẽ siết chặt lại một cách gọn lẹ. Nhưng, sự sinh tồn ngẫu nhiên của chúng ta trên hành tinh nhỏ bé này sẽ không diễn ra theo một kịch bản đầy tính nghệ thuật như vậy - ý nghĩ này quả thực mang lại cho tôi không ít an ủi - hơn nữa, chúng tôi cách Auschwitz cả một lục địa, trong khi chỉ cách Tây Ban Nha và sự an toàn có ba mươi dặm đường. Tôi vẫn tin rằng, cuối cùng chúng tôi chắc chắn sẽ trở về nhà; trước đại nạn, điều quan trọng nhất chính là giữ vững hy vọng, nâng cao cảnh giác, chuẩn bị đánh bại đám quan lại và súc vật đó khi cần thiết, điều này cần có dũng khí.
Natalie và các con nó vốn từng có cơ hội trốn thoát, nhưng vì nó thiếu dũng khí vào thời khắc quyết định, kết quả cũng rơi vào khốn cùng. Tôi từng viết một trang nhật ký với lời lẽ rất gay gắt, ghi lại chuyến thăm bất ngờ của Byron, cũng như kết cục bi thảm của nó. Vì tôi mà Natalie và các con nó giờ đây rơi vào tình cảnh bi đát ngày càng nguy hiểm, nỗi mặc cảm tội lỗi khiến tôi càng thêm bực bội với Natalie. Nó luôn không cho phép tôi bộc lộ nỗi mặc cảm của mình, nó luôn ngắt lời tôi, nói rằng nó là người lớn, hoàn toàn hành động theo ý muốn của bản thân, không hề oán giận gì tôi.
Hiện tại, chúng tôi đã nằm dưới sự giám sát và kiểm soát của người Đức được một tuần rồi; tôi tuy vẫn không quên được rằng lẽ ra Natalie nên tận dụng cơ hội đó để rời đi cùng Byron, nhưng đồng thời, tôi lại càng hiểu hơn tại sao nó không muốn làm vậy. Không có giấy tờ hợp pháp, nhỡ rơi vào tay đám người lòng lang dạ thú kia thì đó sẽ là một chuyện vô cùng đáng sợ. Đối với đối tượng bị giam giữ của chúng, bất kỳ cảnh sát nào cũng phải tỏ ra vẻ mặt nghiêm nghị, thù địch, lạnh lùng; vì phải chấp hành mệnh lệnh, họ buộc phải kìm nén lòng trắc ẩn. Trong hai năm qua, bất cứ cảnh sát Ý hay cảnh sát Pháp nào từng tiếp xúc với tôi - nói đến điều này, còn có vài vị lãnh sự Mỹ - đều hoàn toàn không có điểm gì đáng yêu cả.
Thế nhưng những người Đức này lại khác hẳn. Mệnh lệnh xem chừng không chỉ chỉ đạo hành động của họ, mà mệnh lệnh dường như đã chiếm hữu hoàn toàn linh hồn họ, bất kể là gương mặt hay ánh mắt của họ, đều không còn dung chứa nổi dù chỉ một chút tình người hay lý trí. Họ là chủ chăn, chúng tôi là gia súc; hoặc giả, họ là kiến lính, còn chúng tôi là rệp cây. Mệnh lệnh đã cắt đứt mọi mối liên hệ giữa chúng tôi. Tất cả. Điều này thật đáng kinh hãi. Quả thực, vẻ mặt lạnh lùng trống rỗng của họ khiến tôi dựng tóc gáy. Tôi biết, trong hàng ngũ cấp cao có một hai "người tử tế" (theo cách nói của Geyser), nhưng lần này tôi lại không gặp được ai. Trước đây tôi cũng từng quen biết vài người Đức "tử tế". Còn ở nơi này, bạn chỉ có thể nhìn thấy một gương mặt khác của dân tộc Teuton.
Natalie hoàn toàn có thể cùng Byron làm một chuyến mạo hiểm; một người trẻ tuổi cơ trí và dũng cảm như anh ta thật hiếm thấy, vả lại anh ta còn có giấy tờ ngoại giao đặc biệt. Chỉ cần lao vút qua biển lửa là mọi chuyện sẽ ổn thỏa. Nếu cô ấy vẫn là Natalie của ngày xưa, có lẽ cô ấy đã làm như vậy, thế nhưng cô ấy lại vì con cái mà chùn bước. James Geyser vẫn kiên trì (chỉ là, theo thời gian trôi qua, sự tự tin của ông ta cũng dần giảm sút), ông ta cho rằng lời khuyên của mình dành cho cô ấy là đúng, kết cục cuối cùng sẽ không thành vấn đề. Tôi cảm thấy hiện giờ chính ông ta cũng bắt đầu nghi ngờ rồi. Đêm qua, trên con đường chúng tôi lội tuyết bì bõm để đi dự thánh lễ nửa đêm, tôi và ông ta đã bàn lại chuyện này một lần nữa. Ông ta khăng khăng nói rằng, vì người Đức muốn trong cuộc giao dịch này không để lộ thân phận gián điệp của họ nhiều nhất có thể, nên dù là bây giờ hay sau này, dù là giấy tờ của ai, họ cũng sẽ không kiểm tra quá kỹ lưỡng. Natalie, Louis và tôi, chẳng qua chỉ là ba sinh mạng sống có hơi ấm, có lẽ có thể đổi lấy mười lăm gã Đức. Được như vậy, họ đã thấy thỏa mãn rồi, họ sẽ không gây thêm chuyện rắc rối nữa.
Ông ta cho rằng điều quan trọng là tôi nên che giấu thân phận đến cùng. Cho đến nay, chúng tôi vẫn luôn giao thiệp với những người Pháp và người Đức cấp thấp hơn, trong vài năm nay, chẳng ai trong số họ đọc sách cả, huống hồ là sách của tôi. Ông ta nói giấy tờ chứng minh thân phận nhà báo của tôi sẽ không xảy ra vấn đề gì, những tên cảnh sát đó chẳng ai phát hiện ra tôi là "người nổi tiếng" hay là nhân vật quan trọng gì, cũng không phát hiện ra tôi là người Do Thái. Cân nhắc đến điểm này, ông ta đã bác bỏ đề nghị của một người về việc tôi nên tổ chức một buổi diễn thuyết cho những người trong khách sạn. Để giết thời gian, một phóng viên của hãng thông tấn United Press đang lo liệu một loạt bài diễn thuyết tại khách sạn Gallia. Chủ đề họ đưa ra cho tôi là Chúa Jesus - đây cũng là chuyện đương nhiên. Đó là chuyện của mấy ngày trước, nếu không phải Jim Geyser phủ quyết đề nghị này, thì rất có khả năng tôi đã đồng ý; thế nhưng, kể từ sau khi trải qua buổi thánh lễ nửa đêm đó, dù thế nào đi nữa - ngay cả khi quay về Mỹ, ngay cả khi có người trả giá cao - tôi cũng sẽ không lấy Chúa Jesus làm đề tài để diễn thuyết nữa. Nội tâm tôi đã bắt đầu xảy ra biến chuyển, còn về việc đây là biến chuyển gì, tôi vẫn cần phải khám phá thêm. Những tuần gần đây, ngay cả với đề tài về Martin Luther, tôi cũng ngày càng cảm thấy khó lòng đặt bút. Đêm qua, sự thay đổi trong lòng tôi vừa mới lộ ra manh mối, tôi vẫn cần phải tập trung tinh thần mới có thể tìm ra đầu mối. Trong vài ngày tới, tôi sẽ truy hồi lại trong cuốn nhật ký này con đường tôi đã đi suốt tám năm qua, kể từ lần đầu tiên nhìn thấy Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá tại Auschwitz, cho đến khi từng có thời gian cải đạo sang Cơ Đốc giáo ở Boston. Lúc tôi viết đến đây, Natalie bế Louis từ phòng ngủ bước ra, cả hai đều mặc đồ rất dày, chuẩn bị đi ra ngoài thực hiện chuyến tản bộ buổi sáng của cô ấy. Mở cửa phòng ra, cái bóng Đức ảm đạm của chúng tôi đang trợn mắt nhìn chúng tôi đầy giận dữ.