Chiến Tranh và Hồi Ức (1941–1945)

Lượt đọc: 213 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 65

❊ ❊ ❊

Một nhà ngoại giao Thụy Sĩ cùng với Jastrow đang ngồi trên xe lăn bước vào bệnh viện. Ông ta mang theo một bức thư của Đại sứ Đức gửi cho Viện trưởng, Bá tước Aldebert de Chambrun. "Chắc hẳn ngài đã nghe danh," người Thụy Sĩ thản nhiên nói, "kiệt tác của vị tiên sinh này: 'Chúa Jesus của một người Do Thái'."

Bá tước de Chambrun là một vị tướng về hưu, nhà tài chính, quý tộc thế gia, đồng thời là anh em họ của Thủ tướng Laval. Tất cả những điều đó giúp ông có thể bình an sống qua những năm tháng loạn lạc này. Ông xem qua bức thư rồi gật đầu. Trong thư yêu cầu dành cho "nhà văn kiệt xuất" này sự chăm sóc tốt nhất có thể. Sau sự kiện Trân Châu Cảng, phần lớn nhân viên đã rời đi, vì vậy vị bá tước này đảm nhận chức vụ Viện trưởng bệnh viện Mỹ. Một số ít người Mỹ còn kẹt lại ở Paris đều đến đó khám bệnh. Thế nhưng Jastrow lại là bệnh nhân đầu tiên trong nhóm được gửi từ Baden-Baden đến đây chữa trị. Bá tước không mấy am hiểu văn học đương đại, ông cũng chẳng chắc mình đã từng nghe tên Jastrow hay chưa. "Chúa Jesus của một người Do Thái"! Trong hoàn cảnh hiện tại, bức thư này quả thật có chút kỳ quặc.

"Ngài sẽ nhận ra thôi," người Thụy Sĩ tiếp lời như thể nhìn thấu tâm tư đối phương, "chính quyền chiếm đóng cho rằng nguồn gốc chủng tộc là điều không đáng bận tâm."

"Là vậy sao," Bá tước đáp, "định kiến không thể bước qua cánh cửa bệnh viện." Người Thụy Sĩ thấy Bá tước bày tỏ tấm lòng như vậy, cơ mặt hơi co giật, liền cáo từ. Chưa đầy một giờ sau, Đại sứ quán Đức đã gọi điện đến hỏi thăm tình hình bệnh tật và sự đối đãi dành cho Jastrow. Như vậy là mọi chuyện đều ổn thỏa. Khi Jastrow bắt đầu hồi phục sau một ca phẫu thuật khó khăn thực hiện qua hai giai đoạn và những ngày đau đớn, vị Viện trưởng liền sắp xếp cho ông ở trong một căn phòng bệnh đầy nắng, có y tá chăm sóc ngày đêm.

Bá tước de Chambrun kể với vợ về sự quan tâm hiếm thấy của người Đức dành cho Jastrow. Vợ ông là một phụ nữ Mỹ rất có chính kiến, gặp việc gì cũng có thể quyết đoán ngay lập tức. Nữ bá tước vốn là tiểu thư danh giá, họ thời con gái là Longworth, chính là gia tộc kết thông gia với nhà Roosevelt, anh trai bà là cựu Chủ tịch Hạ viện Mỹ. Trong những năm tháng chiến tranh khói lửa này, bà nhận quản lý thư viện Mỹ để giết thời gian, đồng thời vùi đầu vào nghiên cứu Shakespeare. Con trai họ kết hôn với con gái của Pierre Laval, Nữ bá tước đã nhập quốc tịch Pháp từ lâu, nhưng trong cách ăn nói cử chỉ vẫn là một người Mỹ chính hiệu, cộng thêm một lớp vỏ cổ kính đầy vẻ kiêu kỳ của giới quý tộc Pháp; một điển hình sống động của một báu vật kỳ quái tuổi bảy mươi, chỉ tiếc là không có ngòi bút tài hoa của Proust để khắc họa lại bà.

Chuyện này chẳng có gì lạ, Nữ bá tước nói thẳng với chồng rằng bà đã đọc "Chúa Jesus của một người Do Thái", cho rằng đó không phải là tác phẩm gì ghê gớm, nhưng người này quả thực có chút danh tiếng. Ông ta sắp sửa về nước. Về sự đối đãi mà ông ta nhận được, báo chí Mỹ sẽ đưa tin rộng rãi những gì ông ta nói. Người Đức nhân cơ hội này để phản pháo lại những tuyên truyền thù địch về chính sách bài Do Thái. Bà ngược lại còn cảm thấy ngạc nhiên trước sự thông tình đạt lý mà người Đức thể hiện, vì bà luôn cho rằng người Đức đều là lũ ngu xuẩn.

Tướng de Chambrun cũng kể cho bà nghe về chuyện cháu gái của Jastrow. Trong những lần thăm bệnh, ông đã trò chuyện với cô, vẻ đẹp tiều tụy u sầu, tiếng Pháp thành thạo và trí tuệ nhạy bén của cô đã để lại ấn tượng sâu sắc cho ông. Cô gái này có thể đến thư viện làm việc, ông đề nghị, vì Jastrow còn phải mất một thời gian mới bình phục. Nữ bá tước lập tức dỏng tai lên. Những người Mỹ vội vã sơ tán năm 1940 đã để lại một lượng lớn sách chưa được phân loại và lập danh mục, công việc thư viện ở mảng này còn tụt hậu rất xa. Người Đức có thể phản đối ý tưởng này; tuy nhiên, xét cho cùng, cháu gái người Mỹ của một nhà văn nổi tiếng, lại là vợ của một sĩ quan tàu ngầm, có lẽ chẳng có vấn đề gì, ngay cả khi cô ấy là người Do Thái. Nữ bá tước bàn bạc vấn đề này với viên quan Đức giám sát thư viện và bảo tàng, người này vui vẻ đồng ý cho bà thuê phu nhân Henry.

Thế là bà khẩn trương hành động. Khi Natalie đến bệnh viện thăm Ellen, Nữ bá tước liền xông vào phòng bệnh tự giới thiệu. Vừa nhìn thấy Natalie, bà đã thích vẻ ngoài của cô. Đối với một người tị nạn, nhan sắc của cô đã là quá đủ đẹp, cô lại có vẻ quyến rũ mê người của phụ nữ Mỹ, vẻ đẹp da ngăm đen rất có thể bắt nguồn từ tổ tiên người Ý hoặc thậm chí là Pháp. Ông già Do Thái nằm trên giường trông như một xác chết; bộ râu quai nón bạc trắng, chiếc mũi to, đôi mắt nâu to, thần thái u sầu, tỏa ra ánh sáng mang triệu chứng sốt trên khuôn mặt gầy gò nhợt nhạt.

"Chú của cô trông có vẻ bệnh nặng," Nữ bá tước nói trong phòng làm việc của Viện trưởng, bà mời Natalie uống một tách "trà cỏ roi ngựa", loại trà này uống vào giống như, và có lẽ đúng là, cỏ đun sôi.

"Ông ấy suýt chết vì xuất huyết nội tạng," Natalie nói, "chồng tôi nói, trong thời gian ngắn ông ấy không thể trở lại Baden-Baden được. Khi ông ấy hồi phục đến mức độ nhất định, chúng tôi sẽ chuyển ông ấy đến viện điều dưỡng. Phu nhân Henry, vị tướng nói với tôi rằng cô tốt nghiệp Đại học Radcliffe, có bằng cao học của Đại học Paris. Được thôi, cô có muốn làm chút việc gì có ích không?"

Nữ bá tước đưa Natalie về nơi ở của cô. Bà tuyên bố, cái nơi quỷ quái này đối với một người Mỹ mà nói, dù có vô tình chết ở trong đó cũng không thích hợp. Bà trêu đùa Louis, phát ra tiếng "gù gù", hay chính xác hơn là vài tiếng "quác quác". Bà quyết định phải chuyển họ đến nơi ở tử tế. Bà dẫn Natalie đến một dinh thự cổ gần bệnh viện, tòa nhà này đã được cải tạo thành các căn hộ cho thuê, người ở đều là người trong bệnh viện. Ở đó, bà lập tức giải quyết vấn đề ăn ở cho cô và đứa bé. Khi hoàng hôn buông xuống, bà đã sắp xếp cho hai mẹ con ổn thỏa tại nơi ở mới, đi sở cảnh sát làm thủ tục, và hoàn tất thủ tục chuyển cư tại văn phòng quan chức Đức ở ngoại ô Neuilly. Lúc đi, bà hứa sáng mai sẽ quay lại dẫn Natalie đi tàu điện ngầm đến thư viện. Bà còn nói sẽ tìm người trông nom Louis.

Vị ân nhân từ trên trời rơi xuống này, bà lão tính tình thất thường này khiến Natalie cảm thấy được sủng ái mà lo sợ. Trải nghiệm bị lưu đày sang Đức khiến cô rơi vào trạng thái sốc không quá mãnh liệt nhưng kéo dài. Tại khách sạn ở Baden-Baden, những nhân viên Đức đầy thù địch, những cuộc trò chuyện bằng tiếng Đức không dứt, thực đơn và biển báo viết bằng tiếng Đức, mật vụ Đức ở hành lang và những công dân Mỹ bị giam giữ với khuôn mặt sầu não — tất cả những điều đó khiến cô thần hồn nát thần tính, những thứ cô có thể nhận thức chỉ giới hạn ở bản thân mình và Louis, nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của hai người và những nguy hiểm có thể xảy ra. Khi vị đại diện Thụy Sĩ thuyết phục cô rằng, khá nhiều công dân Mỹ thuộc trường hợp đặc biệt thực tế vẫn đang sống cuộc sống tự do ở Paris dưới sự chiếm đóng của Đức, và đảm bảo với cô rằng chính quyền Thụy Sĩ sẽ đặt cô dưới sự giám sát bảo hộ như ở Baden-Baden, thì cơ hội đến Paris lần này đối với cô giống như một người bị giam cầm trong ngục tù nhận được ân xá. Nhưng trước khi Nữ bá tước xuất hiện, cô hiếm khi ra ngoài dạo chơi để thưởng thức phong cảnh Paris. Cô trốn cả ngày trong căn phòng nhỏ, trêu đùa Louis hoặc đọc tiểu thuyết cũ. Mỗi ngày hai lần sáng tối, cô vội vã đến bệnh viện thăm chú, sợ cảnh sát gây khó dễ, hơn nữa cô cũng thiếu tự tin vào giấy tờ tùy thân của mình.

Sau khi đến thư viện làm việc, cuộc sống của cô mở ra một trang mới. Công việc là liều thuốc giảm đau tốt nhất. Cô bắt đầu đi lại khắp nơi. Lần kiểm tra giấy tờ đầu tiên ở tàu điện ngầm thực sự khiến cô hoảng sợ, nhưng dù sao cũng bình an vô sự. Vốn dĩ, cô ở Paris cũng chẳng thấy xa lạ gì hơn so với ở New York, giờ đây thay đổi cũng không lớn. Đám đông chật cứng trong tàu điện ngầm, trong đó có nhiều binh lính Đức trẻ tuổi, khiến cô cảm thấy mới lạ, cũng khiến cô chán ghét. Nhưng Paris không có phương tiện giao thông nào khác để thay thế, trừ khi bạn đi xe đạp, đi xe ngựa cũ kỹ hoặc loại xe taxi kỳ quặc giống như xe kéo được kéo bằng xe đạp. Công việc ở thư viện rất đơn giản, tốc độ làm việc cũng như sự hiểu biết nhạy bén của cô khiến Nữ bá tước mê mẩn.

Bà lão khó tin này mang đến cho Natalie những cảm nhận khác biệt. Cách nói chuyện của bà về học thuật rất sâu sắc, những giai thoại về người nổi tiếng mà bà kể rất sắc sảo thú vị, hơn nữa bà còn là một học giả nghiên cứu Shakespeare gây ấn tượng sâu sắc. Tuy nhiên, quan điểm chính trị và quan điểm xã hội của bà đều khiến Natalie khó lòng chấp nhận. Bà khẳng định Pháp thất bại vì ba lý do: Herbert Hoover cho phép người Đức hoãn trả nợ chiến tranh, Mặt trận Nhân dân Xã hội chủ nghĩa làm suy yếu sức mạnh của Pháp, và người Anh bội tín bỏ chạy tại Dunkirk. Người Pháp bị người Anh và những chính trị gia ngu xuẩn của chính Pháp dẫn đường lạc lối, cuối cùng tấn công Đức (Natalie cảm thấy kinh ngạc, không biết có phải mình nghe nhầm không). Ngay cả như vậy, nếu quân đội Pháp lúc đó nghe theo lời khuyên của chồng bà, tập trung lực lượng xe tăng lại, thành lập các sư đoàn thiết giáp, thay vì phân tán chúng ra các đơn vị bộ binh, thì một cuộc phản công của lực lượng thiết giáp tại Bỉ vốn dĩ có thể cắt đứt lực lượng thiết giáp Đức đang lao về phía bờ biển, một trận đánh thắng cuộc chiến này.

Bà không bao giờ tốn sức lực để điều hòa các quan điểm và phán đoán của mình, hay giải thích lý do tại sao. Bà chỉ mặc kệ chúng nổ tung như pháo. Pierre Laval là vị cứu tinh của nước Pháp bị hiểu lầm. Charles de Gaulle là kẻ lừa đảo làm bộ làm tịch, câu nói "Pháp thua một trận chiến, không phải thua một cuộc chiến" của ông ta là lời nói nhảm vô trách nhiệm. Phong trào kháng chiến Pháp chẳng qua là một đám ô hợp gồm những kẻ cộng sản và lũ lưu manh, chỉ khiến đồng bào Pháp của họ gặp nạn, và gây ra sự trả đũa của người Đức, chẳng tổn hại được sợi tóc nào của người Đức. Còn về tình hình nước Pháp sau khi bị chiếm đóng, bất chấp những biện pháp nghiêm khắc, vẫn có điểm đáng khen. Những vở kịch được trình diễn ở nhà hát bây giờ lành mạnh hơn nhiều, diễn các tác phẩm cổ điển và hài kịch tử tế, không còn là loại hài kịch khiêu dâm và trò đùa thô tục của lũ công tử bột như trước nữa. Các buổi hòa nhạc hiện nay đã không còn những âm thanh bất hòa hiện đại gây đau đầu, không ai hiểu nổi, nên nghe hay hơn.

Bất kể Natalie nói gì cũng đều khơi gợi một màn độc thoại thao thao bất tuyệt. Có một lần, khi hai người họ đang thu dọn mấy thùng sách do một nhà sản xuất phim Mỹ để lại, Natalie nói cuộc sống ở Paris xem ra đã trở nên gần như bình thường một cách khác thường.

"Đứa trẻ thân mến, bình thường sao? Tệ hại lắm. Tất nhiên lũ Đức cũng muốn trang điểm cho Paris trông thật bình thường, thậm chí thật đáng yêu. Paris là cửa sổ trưng bày của 'Trật tự mới', hiểu chứ?" Bà dùng tông giọng mỉa mai cay nghiệt nói từ này. Chính vì lý do đó, nhà hát, opera và hòa nhạc mới được khuyến khích, thậm chí được trợ cấp. Thư viện nhỏ tội nghiệp của chúng ta còn có thể mở cửa, lý do cũng nằm ở đó. Ôi chao, những người Đức tội nghiệp đó thực sự cố gắng hết sức để giả vờ ra vẻ văn minh, nhưng nói thật, chúng thực sự là lũ súc vật. Tất nhiên, so với bọn Bolshevik, chúng tốt hơn nhiều. Thực tế, nếu Hitler lúc đó có đủ kiến thức thông thường để không tấn công Pháp mà đi tiêu diệt Liên Xô, vào năm 1940 ông ta rõ ràng có thể làm được điều đó, thì hôm nay ông ta đã trở thành anh hùng thế giới, và hòa bình đã được thực hiện rồi. Còn bây giờ, chúng ta phải đợi Mỹ đến cứu chúng ta."

Có một lần, khi Natalie cùng Nữ bá tước đi ăn trưa, đi trên một đại lộ náo nhiệt, cô lần đầu tiên nhìn thấy Ngôi sao Vàng. Hai người phụ nữ ăn mặc sang trọng đi ngang qua họ, một người trong đó đang vui vẻ nói điều gì đó, người kia mỉm cười. Trên quần áo của hai người phụ nữ đều có một ngôi sao vàng chói mắt cài trên ngực trái. Nữ bá tước hoàn toàn không chú ý đến điều này. Một lát sau, Natalie lại nhìn thấy vài ngôi sao nữa; không nhiều lắm, chỉ là một ngôi sao vàng như vậy, thản nhiên cài trên ngực. Rabinowitz đã kể cho cô nghe về tình hình bắt giữ người Do Thái rầm rộ ở Paris một năm trước; hoặc là những người Do Thái này đa số đã bị thanh trừng, hoặc là họ không còn lộ diện nữa. Những tấm biển cấm người Do Thái vào nhà hàng hoặc bốt điện thoại công cộng đều đã cong queo, đầy bụi bặm. Mỗi ngày, chủ nghĩa bài Do Thái hung hăng xuất hiện trên các tờ báo quen thuộc như "Paris Soir" và "Le Matin" khiến cô hoảng sợ bất an. Bởi vì trang nhất của những tờ báo này trông chẳng có gì khác biệt so với ngày thường, và một số cây bút chuyên mục cũng vẫn là mấy ông già đó.

Paris bị chiếm đóng quả thực có nét quyến rũ độc đáo. Những con phố sạch sẽ tĩnh mịch, không có tiếng còi xe taxi chói tai và dòng xe cộ tắc nghẽn, không khí trong lành không khói bụi, trẻ em mặc quần áo màu sắc rực rỡ vui chơi trong những công viên nở đầy hoa vắng khách du lịch, xe ngựa chở những phụ nữ mặc đồ thời trang Paris, tất cả những điều này đều giống như phong cảnh Paris được thể hiện trong những bức tranh sơn dầu cổ kính. Nhưng dấu hiệu chiếm đóng của Đức giống như ổ bệnh phong xuất hiện khắp nơi: những tấm biển quảng cáo lớn, trên đó viết bằng chữ đen những từ như "Quảng trường Concorde" và "Nhà hát quân đội"; những tờ áp phích vàng, trên đó công bố danh sách dài những kẻ phá hoại bị hành quyết, lá cờ chữ Vạn màu đỏ tươi tung bay trên các tòa nhà chính phủ và tượng đài, tung bay trên Khải Hoàn Môn và tháp Eiffel, thực đơn tiếng Đức viết bằng phấn bên ngoài nhà hàng, xe quân sự Đức lao vun vút trên đại lộ vắng vẻ, và những binh lính Đức mặc quân phục xám xanh sau giờ làm việc đi dạo say sưa trên vỉa hè với máy ảnh. Có một lần, Natalie bắt gặp một ban nhạc quân đội thổi kèn đánh trống dẫn đầu một đội vệ binh đi bước đều tiến về phía Khải Hoàn Môn dọc theo Đại lộ Champs-Élysées, tiếng trống thình thịch, kèm theo tiếng nhạc quân đội chói tai, lá cờ nhạc tung bay theo gió; chỉ cần liếc nhìn khung cảnh kỳ lạ này, sẽ nhận ra chiếm đóng có nghĩa là gì.

Tâm hồn con người được cứu rỗi nhờ có thể tùy ngộ nhi an. Natalie chỉ cần vùi đầu vào công việc trong thư viện, hoặc dành hoàng hôn bên Louis, hoặc sau bữa trưa đi dạo dọc sông Seine, xem những sạp sách, là có thể yên lòng. Mỗi tuần một lần, cô đến Công sứ quán Thụy Sĩ báo cáo. Một ngày nọ Louis bị bệnh, cô đành phải ở nhà, một nhà ngoại giao Thụy Sĩ trẻ tuổi cao ráo, ăn mặc sang trọng đến thăm nhà cô, xem tình hình có bình thường không. Điều này đủ để khiến người ta yên tâm. Paris có vẻ không đáng sợ như Marseille, mọi người trông không quá sợ hãi. Ăn uống cũng tốt hơn, cảnh sát cũng văn minh hơn.

Ba tuần sau, Ellen được chuyển đến viện điều dưỡng, ở trong một căn phòng có cửa sổ nhìn ra vườn. Ông vẫn yếu ớt, buồn ngủ, hầu như không thể nói chuyện. Ông dường như không xứng đáng với sự ưu đãi này. Nhưng trong lòng Natalie cảm thấy nghi vấn. Chuyện đưa bệnh nhân đến Paris đối với cô mà nói vốn chẳng có gì kỳ lạ. Vì bác sĩ ở Baden-Baden đã nói, bệnh viện Mỹ đó có đội ngũ y tế hạng nhất, chú của cô ở đó tốt hơn ở Frankfurt. Bản thân Paris càng khiến người ta cảm thấy dễ chịu, điều này Baden-Baden khó lòng so sánh. Tuy nhiên, một bóng đen kinh hoàng luôn bao trùm trong lòng cô, giống như một đứa trẻ cảm thấy kinh hoàng trước sự bí ẩn của một căn phòng bị khóa quanh năm. Đây là nỗi kinh hoàng trước những sự vật không thể biết. Ở thành phố bị người Đức chiếm đóng này, sự ưu đãi chú cô nhận được và sự tự do cô được hưởng khiến cô tâm thần bất định, cô cho rằng đây là một câu đố khó giải, chứ không phải vận may của họ đặc biệt tốt. Khi đáp án cuối cùng được tiết lộ trong thư viện Mỹ, cảm giác cô nhận được không phải là kinh ngạc, mà là nỗi kinh hoàng khi mở ra một căn phòng tối tăm bị khóa lại.

Nữ bá tước gọi từ văn phòng bên ngoài: "Natalie, chúng ta có một vị khách. Là bạn cũ của cô đấy."

Cô đang ở phòng phía sau, ngồi xổm giữa đống sách để điền danh mục. Cô dùng tay vuốt lại mái tóc xõa trên mặt, vội vã bước vào văn phòng. Đứng trong văn phòng là Werner Beck, ông ta vừa đứng nghiêm "cách" một tiếng, vừa cúi chào, nheo mắt lộ ra nụ cười thân thiện.

"Công sứ của Đại sứ quán Đức," Nữ bá tước nói, "tại sao cô không nói với tôi là cô quen Werner?"

Kể từ khi rời Siena, cô chưa bao giờ mặc lễ phục dạ hội. Ở Siena, mặc dù lúc đó cô vẫn bị người Ý quản thúc tạm thời, cô có vài lần ra ngoài vào ban đêm vẫn mặc một bộ lễ phục dài đã bạc màu. Còn bây giờ, cô chỉ có vài bộ quần áo du lịch mang theo trong vali để mặc đi mặc lại. Đêm đó, trong trạng thái tinh thần bị chấn động sâu sắc của Natalie, mặc lên bộ lễ phục hoa lệ của Lọ Lem mà Nữ bá tước kiếm được cho cô, dường như là một sự giễu cợt kỳ quặc đối với thực tại, giống như cơ hội cuối cùng kinh khủng để thể hiện vẻ đẹp nữ tính trước khi bị hành hình bằng treo cổ. Bộ quần áo này rất vừa vặn; dáng người của người em họ của Nữ bá tước vừa vặn giống hệt cô. Khi Natalie kéo đôi tất lụa mịn màng như ngọc trai lên đôi chân mình, kéo lên tận dây đai tất trên đùi, một cảm giác không thể diễn tả bằng lời trào dâng trong lòng. Ngày nay, ngay cả một phụ nữ Paris giàu có, cô ấy có thể kiếm đâu ra đôi tất lụa như thế này? Nếu mặc một bộ trang phục như thế này trong những năm tháng thái bình mà đi tận hưởng một đêm tuyệt vời cùng Byron chứ không phải đối mặt với một cơn ác mộng lạnh người như bây giờ, thì sẽ là cảm giác gì?

Để phối với bộ lễ phục lụa xám thời thượng đó, cô thực sự đã tốn không ít tâm tư khi trang điểm. Nhưng cô chỉ có vài món mỹ phẩm tối thiểu, vì lâu ngày không dùng nên đã khô nứt: một hộp phấn má hồng, một thỏi son, một đoạn đầu bút vẽ lông mày và một ít mascara. Louis mở to đôi mắt tò mò nhìn người mẹ đang trang điểm, như thể cô đang tự thiêu vậy, khó tin đến lạ lùng. Khi cô còn đang tô son điểm phấn, người phụ nữ trông trẻ tóc bạc trắng thò đầu vào nói: "Phu nhân, vị tiên sinh của cô đến rồi, ông ấy đang ngồi trong xe hơi dưới lầu — ôi, phu nhân, cô đẹp quá!"

Ngoài việc chấp nhận lời mời kinh hoàng của Beck, không còn lựa chọn nào khác. Ngay cả khi có cách khác, cô cũng không có gan để thử. Ngày đó, khi ông ta rời thư viện, Nữ bá tước bình luận đầy hài hước: "Này, Công sứ Đức, còn có 'Đám cưới Figaro' nữa! Thật không tệ." Natalie buột miệng: "Nhưng làm sao ông ta có thể làm như vậy? Ngoài việc tôi là kiều dân địch ra, ông ta cũng biết tôi là người Do Thái."

Nữ bá tước bĩu đôi môi mỏng, già nua nhăn nheo — họ trước đây chưa từng nói về vấn đề này — cười hì hì trả lời: "Cưng à, người Đức thích làm thế nào thì làm chứ, họ là kẻ chinh phục. Vấn đề là, cô mặc gì?"

Còn về mối quan hệ giữa Natalie và Beck, bà không hỏi nửa lời. Cũng không có câu nói móc mỉa nào. Bà chỉ đầy hứng khởi bắt tay vào việc chuẩn bị trang phục cho một người bạn đồng hành chuẩn bị trải qua một đêm trong giới thượng lưu Paris. Người em họ của Nữ bá tước là một phụ nữ trẻ da ngăm đen, cô ta cảm thấy bối rối khi thấy Nữ bá tước dẫn cô gái Mỹ này đột ngột xuất hiện ở căn hộ của mình. Cô ta không nói nhiều, cũng không nhìn ra là có vui hay không, chỉ ngoan ngoãn lấy ra những bộ trang phục hoa lệ mà Nữ bá tước yêu cầu. Nữ bá tước đưa ra đánh giá cho từng món trang phục, bà thậm chí còn khăng khăng đòi một chai nước hoa thượng hạng. Nữ bá tước làm vậy là vì thiện cảm, hay là để lấy lòng Công sứ Đức, Natalie thực sự không nhìn ra. Bà ấy cứ làm thế, và làm một cách dứt khoát gọn gàng.

Louis buồn bã nhìn mẹ mình không hôn nó một cái đã đi mất. Cô cảm thấy môi dính và nhờn, sợ làm bẩn con trai, cũng sợ làm bẩn chính mình. Dưới lầu, cô khoác lên mình chiếc áo choàng nhung màu tím đỏ có mũ trùm, lúc này cô mới thực sự cảm nhận được niềm phấn khích của một người phụ nữ khi mặc lễ phục. Cô thực sự rất đẹp, ông ta là đàn ông, còn cô thì đang dưới sự bảo hộ của chính quyền Thụy Sĩ. Trong mấy tháng nay, trong những ngày tháng phiền muộn không dứt này, đây là điều đáng sợ nhất cô gặp phải, nhưng cô là người đã trải qua sóng gió, cô đã chuẩn bị tinh thần để thực hiện một cuộc tự vệ không màng sống chết.

Dưới ánh đèn đường phát ra ánh sáng xanh, trong ánh hào quang của vầng trăng sáng, một chiếc xe hơi hiệu Mercedes đang đỗ ở đó. Ông ta vừa khẽ nói vài lời khen ngợi, vừa bước ra mở cửa xe cho cô. Đây là một đêm ấm áp, từ những bụi cây đang nở hoa trong khu vườn có hàng rào trước ngôi nhà cổ lâu năm tỏa ra mùi thơm thoang thoảng.

Khi ông ta khởi động xe, Natalie nói: "Xin cho phép tôi mạn phép hỏi ngài một câu, làm sao ngài có thể đi chơi cùng một người phụ nữ Do Thái chứ?"

Khuôn mặt nghiêm nghị của ông ta lộ ra một nụ cười dưới ánh sáng đỏ mờ nhạt phát ra từ bảng điều khiển. "Đại sứ biết cô và chú cô đang ở Paris, và tất nhiên mật vụ Đức cũng biết. Họ đều biết tối nay tôi mời cô đi xem opera. Không một ai khác dám hỏi han cô là ai cả. Cô có chút lo lắng sao?"

"Rất lo lắng."

"Tôi có thể làm gì để cô an tâm đây? Có phải cô không muốn đi? Điều tôi ít muốn làm nhất chính là ép buộc cô phải trải qua một buổi tối không vui vẻ. Tôi cứ tưởng cô sẽ thích nó. Tôi mời cô đi chơi vốn là để bày tỏ thiện chí, ít nhất là để thể hiện mong muốn hòa giải."

Nathalie nghĩ, nếu có thể, cô cần phải làm rõ tâm địa của người này. Thế là cô nói: "Được thôi, tôi đã chuẩn bị xong xuôi cả rồi. Cảm ơn thịnh tình của ông."

"Cô thực sự thích Mozart sao?"

"Tất nhiên. Đã nhiều năm rồi tôi không nghe 'Đám cưới Figaro'."

"Tôi thật vui vì đã tình cờ chọn được chương trình hay này."

"Ông đã biết chuyện chúng tôi đến Paris từ bao giờ?"

"Thưa bà Henry, tôi biết các người ở Lộ Đức (Lourdes)." Trên con đường tối đen và vắng vẻ, ông ta chậm rãi lái xe. "Cô biết đấy, Winston Churchill từng hào phóng bày tỏ sự kính trọng đối với Rommel khi chiến dịch châu Phi đang diễn ra. 'Vượt qua hố ngăn cách của chiến tranh,' ông ấy nói, 'tôi xin bày tỏ lòng kính trọng tới một vị tướng vĩ đại.' Chú của cô là một học giả kiệt xuất, thưa bà Henry, nhưng ông ấy không phải là người thạo việc. Chuyện trốn từ Siena đến Marseille chắc chắn là ý của cô. Cuộc đào tẩu của hai người đã đẩy tôi vào tình thế vô cùng khó xử. Tuy nhiên, 'vượt qua hố ngăn cách của chiến tranh,' tôi xin bày tỏ lòng kính trọng với cô. Cô rất dũng cảm."

Becker dùng tay trái giữ vô lăng, ông ta chìa bàn tay phải ngắn và thô của mình ra với Nathalie. Nathalie đành phải bắt tay ông ta. Bàn tay đó vừa ẩm vừa lạnh.

"Sao ông biết chúng tôi ở Lộ Đức?" Cô vô thức lau tay lên áo choàng, lại hy vọng ông ta không phát hiện ra.

"Vì có người đã tìm cách giúp các người được phóng thích. Người Pháp lập tức thông báo cho chúng tôi, điều đó cũng tự nhiên thôi..."

"Cái gì? Có người tìm cách? Chúng tôi không hề biết có chuyện đó."

"Thật sao?" Ông ta kinh ngạc quay đầu lại.

"Tôi chưa từng nghe nói đến."

"Rất thú vị." Ông ta gật đầu vài cái. "Được rồi, ở Washington từng có người thăm dò xem có thể dàn xếp để các người lặng lẽ vượt biên sang Tây Ban Nha hay không. Các người xuất hiện ở đây làm tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi cứ lo không biết các người đã xảy ra chuyện gì."

Nathalie giật mình kinh ngạc. Là ai đã tìm cách giúp họ được phóng thích? Điều này có tác động gì đến tình cảnh khó khăn hiện tại của họ không? "Hóa ra là vậy nên ông mới biết chúng tôi ở đâu."

"Ồ, sớm muộn gì tôi cũng sẽ tra ra thôi. Tại Đại sứ quán, chúng tôi luôn theo sát đám người các cô. Đủ loại người cả, đúng không? Nhà ngoại giao, phóng viên, người theo giáo phái Quaker, đàn bà, trẻ con, vân vân! Nhân tiện nói thêm, bác sĩ tại viện điều dưỡng Victoria hôm nay bảo tôi rằng chú của cô đã khỏe hơn nhiều rồi."

Nathalie im lặng. Một lát sau, Becker tiếp tục: "Cô có thấy Nữ bá tước de Chambrun là một người phụ nữ thú vị không? Rất có văn hóa, phải không?"

"Người rất thú vị, tất nhiên rồi."

"Đúng, đó là lời nhận xét xác đáng dành cho bà ấy."

Cuộc tán gẫu kết thúc tại đây. Bước từ bóng tối vào sảnh nhà hát rực rỡ ánh đèn khiến Nathalie thấy chói mắt. Cỗ máy thời gian đưa cô trở về Paris năm 1937. Cảnh tượng hiện tại không khác gì những buổi tối cô cùng Leslie Slote đi xem kịch, chỉ là bây giờ có thêm vài quân nhân mặc quân phục Đức rải rác. Đây là nét tinh túy trong ký ức của cô về Paris: sảnh đợi hùng vĩ, những cột trụ bằng đá cẩm thạch, cầu thang sang trọng, những bức tượng phong phú đa dạng. Những sinh viên tóc dài mặc áo mưa dẫn theo bạn gái mặc váy ngắn, chen chúc giữa những người lao động tiến về phía cửa vào các hàng ghế giá rẻ; từng cặp vợ chồng trung lưu thong dong đi về phía sảnh chính; và cả những nhân vật thượng lưu ăn mặc hoa mỹ lướt qua đám đông như dòng suối nhỏ. Không khí sôi nổi, những giọng nói và ngữ điệu đậm chất Pháp, từng khuôn mặt — có lẽ gầy gò hoặc nhợt nhạt hơn xưa — phần lớn là khuôn mặt người Pháp, và số ít những người phóng khoáng vượt trội kia đều là người Pháp thuần chủng. Đặc biệt là phụ nữ, những người phụ nữ Paris luôn sang trọng quý phái, kiểu tóc độc đáo, trang điểm đậm nhạt, trong ánh mắt ngoái nhìn, trong những cánh tay trần chuyển động hay những tiếng cười nhẹ nhàng, nơi nào cũng thể hiện nghệ thuật biết cách phô diễn bản thân và làm hài lòng người khác. Một số đi cùng đàn ông Pháp mặc lễ phục, một số đi cùng sĩ quan Đức. Trong đám đông thấp kém hơn, binh lính Đức cũng dẫn theo các cô gái Pháp, họ ăn mặc rực rỡ, dung mạo tỏa sáng, hoạt bát vui vẻ như những chú mèo con.

Có lẽ vì Nathalie đang trong trạng thái hưng phấn — Tiến sĩ Becker ở ngay bên cạnh khiến adrenaline trong cô không ngừng hoạt động — việc đột ngột bước vào sảnh nhà hát không chỉ khiến cô thấy chói mắt bởi ánh đèn mạnh, mà còn là một tia chớp khiến lương tâm cô bất an. Cô nghĩ: Những kẻ "cộng tác" bị báo chí Đồng minh và đài phát thanh của De Gaulle chế giễu, mắng nhiếc là những người như thế nào? Hóa ra chính là những người này đây. Chẳng phải sao? Họ là người Pháp. Họ là nhân dân. Họ đã bại trận. Để thắng cuộc chiến trước, họ đã đổ máu thành sông. Họ đã đóng thuế suốt hai mươi năm, làm những gì chính trị gia của họ yêu cầu, xây dựng phòng tuyến Maginot, dưới sự dẫn dắt của những vị tướng đáng kính mà tiến vào cuộc chiến. Giờ đây người Đức chiếm đóng Paris. Được thôi! Tôi không quan tâm! Nếu người Mỹ có thể đến cứu chúng tôi thì thật tuyệt vời. Trong thời gian này, họ tiếp tục sống dưới sự kiểm soát của người Đức theo cách sống của người Pháp. Vì đau khổ thì nhiều mà hoan lạc thì ít, nên càng phải tận hưởng những khoảnh khắc vui vẻ này. Lúc này Nathalie cảm thấy mình hiểu được Nữ bá tước de Chambrun đôi chút. Khi cùng Becker len qua đám đông để đến chỗ ngồi, cô nhận thấy có một điểm khác biệt so với năm 1937. Năm đó, mỗi lần diễn opera, trong khán giả luôn có rất nhiều gương mặt người Do Thái. Còn hôm nay, không thấy một gương mặt Do Thái nào cả.

Những nốt nhạc đầu tiên của bản nhạc dạo đầu lướt qua dây đàn hạc như cơn gió nhẹ lướt qua thần kinh cô, gây ra một sự run rẩy rùng mình. Do đang ở trong trạng thái căng thẳng tột độ, cô càng run rẩy dữ dội hơn. Cô cố gắng tập trung lắng nghe âm nhạc, nhưng sau vài tiểu đoạn, tin tức mà Becker tiết lộ lại hiện lên trong tâm trí cô. Khi họ ở Lộ Đức, rốt cuộc là ai đã thực hiện những thăm dò vô ích và gây bất lợi đó? Trong lúc cô đang khổ sở suy tư, nặng trĩu tâm tư, tấm màn nhung kéo lên, trên sân khấu xuất hiện bối cảnh lộng lẫy không kém gì bất kỳ bối cảnh nào trong những năm tháng thái bình. Figaro và Susanna, cả hai đều là những ca sĩ hạng nhất, lập tức tiến vào những cảnh kịch vui nhộn bất hủ đầy cảm xúc của họ. Mặc dù vở "Đám cưới Figaro" này diễn rất xuất sắc, nhưng Nathalie lại chẳng thưởng thức được bao nhiêu. Trong lòng cô đang thấp thỏm bất an vì tình cảnh hiện tại.

Becker đã đặt trước một phòng nghỉ nhỏ hơn, bên trong có một chiếc bàn nhỏ để dùng trong giờ nghỉ giữa hiệp. Người phục vụ cúi đầu chào, đón họ bằng nụ cười thân thiện. "Chào buổi tối, thưa bà, chào buổi tối, thưa Ngài Công sứ." Anh ta nhanh nhẹn lấy tấm biển "Đã đặt chỗ" đi, rồi mang sâm panh và bánh quy đến.

"Nhân tiện," Becker vừa ăn bánh, nhấp rượu, vừa đưa ra những bình luận khá sâu sắc về các ca sĩ, nói, "gần đây tôi đọc lại bản thảo phát thanh của chú cô. Ông ấy quả thực có tầm nhìn xa trông rộng, cô có biết điều đó không? Những gì ông ấy viết một năm trước chính là điều mà mọi người trong phe Đồng minh đang bàn tán sôi nổi ngày nay. Phó Tổng thống Henry Wallace gần đây có bài phát biểu, những lời ông ấy nói rất có thể đã được sao chép từ bản thảo phát thanh của chú cô. Những tư tưởng gia hàng đầu như Shaw và Russell cũng đều đang nói những điều này. Thật kỳ lạ."

"Gần đây tôi chẳng có liên lạc gì với phe Đồng minh cả."

"Là vậy sao. Ừm, tôi có giữ những bản cắt báo đó. Khi Tiến sĩ Jastrow khỏe hơn, ông ấy nên xem những thứ này. Tôi vẫn luôn muốn đăng bản thảo của ông ấy. Nói thật, cái gọi là cần phải nhuận sắc thêm là hoàn toàn vô lý. Những bản thảo này đều là bài viết hay. Đều là những tác phẩm để đời, chúng thể hiện một quá trình tư duy tuyệt vời." Khi người phục vụ rót rượu cho ông ta, Becker dừng lại một chút. Nathalie dùng môi nhấp rượu. "Cô nghĩ ông ấy bây giờ có sẵn lòng phát những bản thảo này không? Có lẽ là trên đài phát thanh Paris? Nói thật, ông ấy đang nợ tôi món nợ này đấy."

"Trong tình trạng suy nhược như hiện nay, sao có thể thảo luận những chuyện này."

"Nhưng bác sĩ của ông ấy hôm nay bảo tôi rằng, ông ấy có hy vọng hồi phục sau hai ba tuần nữa. Ông ấy ở viện điều dưỡng Victoria có thoải mái không?"

"Ông ấy được chăm sóc chu đáo nhất về mọi mặt."

"Tốt. Tôi nhất định phải làm được điều đó. Bệnh viện Frankfurt là một bệnh viện rất tốt, nhưng tôi biết ông ấy ở đây sẽ vui vẻ hơn — à, tiếng chuông thứ nhất vang lên rồi, cô hầu như chưa đụng đến rượu của mình. Rượu không ngon sao?"

Nathalie uống cạn ly rượu rồi nói: "Rượu rất ngon."

Sau đó, những bản nhạc tuyệt vời như dòng thác tuôn trào trong tai Nathalie nghe như đoàn tàu đang lao đi phía xa. Khi các ca sĩ xuất hiện trên sân khấu với đủ loại hóa trang nực cười, đùa giỡn nhau trong những hiểu lầm rối rắm, đủ loại khả năng khủng khiếp lần lượt hiện lên trong tâm trí cô. Một lần nữa, khả năng tồi tệ nhất đang trở thành hiện thực. Việc đưa bệnh nhân đến bệnh viện Paris tuyệt đối không phải là ngẫu nhiên. Tiến sĩ Becker vốn dĩ muốn đưa họ đến đây, ông ta chờ đợi thời cơ và lợi dụng cơ hội Ellen không may bị bệnh để thực hiện âm mưu của mình, vì nếu sử dụng thủ đoạn dã man hơn có thể khiến ông ta khó ăn nói với người Thụy Sĩ. Vậy bây giờ sẽ thế nào? Ellen vẫn có thể tìm cớ từ chối phát thanh, ngay cả khi ông ấy đồng ý, làm vậy liệu có ngược lại quyết định vận mệnh của ông, và có lẽ là cả vận mệnh của cô? Rõ ràng ông ấy có thể phủ nhận buổi phát thanh này ngay sau khi trở về Mỹ, và Tiến sĩ Becker là một người thông minh, ông ta không thể không tính đến khả năng này. Vì vậy, một khi người Đức có được những đoạn ghi âm đó, họ sẽ tìm mọi cách giữ Ellen lại, rất có thể cũng sẽ không để cô rời đi. Xét đến vị thế không vững chắc hiện tại của họ, sự "bảo hộ" mà người Thụy Sĩ cung cấp trong tình huống này còn có hiệu quả không?

Tuy nhiên, nếu Ellen kiên quyết từ chối yêu cầu của Werner và Becker, thì sẽ xảy ra tình huống gì? Tại Follonica, ông ấy đã từng sử dụng chiến thuật trì hoãn đó rồi.

Họ đã rơi vào bẫy, không thể thoát thân; hoặc ít nhất với cô là như vậy. Ngồi trong Nhà hát Opera Paris, khoác lên mình y phục của người khác, trên mặt trát lớp phấn dày, dạ dày nhạy cảm đang quặn thắt vì ly rượu vừa uống, bên cạnh là một người đàn ông lịch thiệp, thông tuệ, cựu sinh viên Đại học Yale, cách nói năng cử chỉ hoàn toàn là một người châu Âu có giáo dục và văn hóa, mà những gì ông ta làm quy lại cũng chẳng qua là dùng một tương lai khủng khiếp mơ hồ để đe dọa cô và con cô. Đây là cảm giác đáng sợ nhất có thể tưởng tượng được. Và đây không phải là cơn ác mộng vô lý sẽ biến mất khi cô tỉnh dậy; đây là hiện thực sống động.

"Thật cảm động," Tiến sĩ Becker nói, lúc này tấm màn nhung từ từ hạ xuống trong tiếng vỗ tay nhiệt liệt, các ca sĩ bước ra sân khấu tạ từ. "Bây giờ đi ăn tối thế nào?"

"Tôi phải về nhà trông con, thưa Tiến sĩ Becker."

"Cô có thể về nhà rất sớm, tôi đảm bảo."

Ông ta đưa cô đến một nhà hàng đông đúc, ánh đèn mờ ảo gần đó. Nathalie đã từng nghe nói về nơi này: giá cả đắt đỏ, sinh viên đừng hòng bén mảng đến, và phải đặt chỗ trước một ngày. Ở đây, những người Đức mặc quân phục hoặc là những vị tướng đầu hói, hoặc là tóc đã bạc trắng. Người Pháp phần lớn là những kẻ bụng phệ và hói đầu. Cô nhận ra hai chính trị gia và một diễn viên nổi tiếng. Trong số phụ nữ có người tóc đã bạc, thân hình đầy đặn, nhưng đa số đều là những cô gái Paris trẻ tuổi thanh lịch, trang phục quyến rũ, tràn đầy sức hút.

Ngay cả mùi thức ăn cũng khiến cô buồn nôn. Becker khuyên cô thử món cá hồi sông Loire; nhà hàng này là nơi duy nhất ở Paris hiện nay có thể ăn được cá hồi sông Loire. Cô khéo léo từ chối, chỉ gọi một phần trứng tráng, nhưng khi trứng tráng được bưng lên cô chỉ ăn một chút, còn Becker thì bình thản, tham lam ăn món cá hồi của mình. Xung quanh họ, những người Đức và những nhân vật quyền thế người Pháp giàu có cùng bạn tình của họ vừa ăn vịt, cá tươi sống và thịt nướng, vừa uống rượu ngon; họ lúc tranh luận, lúc cười đùa, hạnh phúc đến tột cùng. Đây là cảnh tượng khó tin. Chế độ phân phối ở Paris rất nghiêm ngặt. Trên báo chí đầy rẫy những bài phóng sự về tình trạng thiếu hụt lương thực cùng những tiểu phẩm châm biếm sâu cay. Tại viện điều dưỡng, mỗi ngày Ellen chỉ nhận được một phần sữa trứng phân phối. Loại sữa trứng chỉ cần một quả trứng là có thể làm được này đã được coi là món tráng miệng thượng hạng. Nhưng chỉ cần có đủ quyền thế hoặc tiền bạc, ít nhất là trong ốc đảo không ai biết tới này, Paris vẫn là Paris.

Dưới sự thúc ép của Becker, Nathalie uống một chút rượu vang trắng. Việc người đàn ông này đang làm, cô nghĩ, thật sự là bỉ ổi tột cùng. Sự tiếp đãi xa hoa khiến cô mềm lòng, đồng thời trong bữa tối lại dùng lời ngon tiếng ngọt để đưa ra yêu cầu, gây áp lực trần trụi. Thậm chí trước khi món ăn được mang lên, ông ta lại bắt đầu dùng cả cương cả nhu với cô. Khi họ xuất hiện lần đầu ở Lộ Đức, ông ta nói, trụ sở mật vụ Đức tại Paris đã định bắt giữ họ ngay lập tức với tư cách là những người tị nạn Do Thái trốn thoát từ Ý bằng giấy tờ giả. May mắn là Đại sứ Otto Abetz là một người có giáo dục, cao thượng. Nhờ Tiến sĩ Abetz giúp đỡ, họ mới đến được Baden-Baden. Tiến sĩ Abetz đã xem xét bản thảo phát thanh của Tiến sĩ Jastrow với sự nhiệt tình lớn lao. Trong mắt Tiến sĩ Abetz, cách duy nhất để cuộc chiến này đạt được kết quả tích cực là để hai nước Đồng minh Anh-Mỹ thấy rằng Đức đang chiến đấu vì họ. Chiến đấu để bảo vệ văn minh phương Tây chống lại chủ nghĩa đế quốc Slav man rợ. Đối với Đại sứ Abetz, bất cứ điều gì giúp thúc đẩy sự hiểu biết với phương Tây đều rất quan trọng.

Đây là lớp vỏ bọc đường. Viên thuốc độc xuất hiện trong lúc họ dùng bữa. Khi Becker chép miệng ăn cá hồi, ông ta thản nhiên nhét viên thuốc này cho cô. Ông ta cho cô biết, áp lực đòi bắt giữ họ của mật vụ Đức chưa bao giờ dừng lại. Mật vụ đang sốt sắng thẩm vấn họ về quá trình họ đi từ Siena đến Marseille. Dù sao thì cảnh sát cũng phải làm tròn trách nhiệm của mình. Tiến sĩ Abetz cho đến nay vẫn luôn che chở cho Tiến sĩ Jastrow, Becker nói, nếu không, mật vụ sẽ bắt họ đi ngay lập tức mà không hề chậm trễ. Một khi chuyện đó xảy ra, những việc sau đó Becker không thể chịu trách nhiệm được, mặc dù ông ta sẽ cảm thấy vô cùng đau đớn vì điều đó. Trong tình huống này, biện pháp bảo hộ ngoại giao mà Thụy Sĩ cung cấp sẽ giống như hàng rào rơm không thể ngăn được ngọn lửa hung dữ. Các nhà chức trách Thụy Sĩ đã có đầy đủ hồ sơ về việc họ trốn thoát khỏi Ý trái phép. Trước hồ sơ tội phạm rành rành của Nathalie và Tiến sĩ Jastrow, các nhà chức trách Thụy Sĩ cũng bất lực. Tiến sĩ Otto Abetz là người che chở cho họ, cũng là hy vọng của họ.

"Được rồi," Tiến sĩ Becker dừng xe trước cửa nhà cô, tắt máy rồi nói, "Tôi tin rằng tối nay trôi qua cũng không tệ nhỉ."

"Cảm ơn sự chiêu đãi thịnh tình, vừa được xem kịch, vừa được ăn tối, vô cùng cảm ơn."

"Tôi rất vui. Này, bà Henry, mặc dù cô đã trải qua những con đường quanh co khúc khuỷu, nhưng trông cô bây giờ còn đáng yêu hơn bất cứ lúc nào."

Trời ơi! Chẳng lẽ ông ta còn muốn quyến rũ cô sao? Cô vội vã và lạnh lùng nói: "Không món đồ nào trên người tôi không phải là đồ đi mượn cả."

"Nữ bá tước?"

"Đúng, Nữ bá tước."

"Tôi cũng nghĩ vậy. Tiến sĩ Abetz đang đợi tôi báo cáo tình hình tối nay của chúng ta. Tôi có thể nói gì với ông ấy đây?"

"Hãy nói với ông ấy rằng tôi rất thích vở 'Đám cưới Figaro'."

"Vậy ông ấy chắc chắn sẽ rất vui," Becker nhắm mắt cười nói, "Nhưng điều ông ấy quan tâm nhất là thái độ của cô đối với buổi phát thanh."

"Điều đó phải do chú tôi quyết định."

"Bản thân cô không từ chối đề nghị này ngay lập tức sao?"

Nathalie đầy oán hận, cô nghĩ, nếu điều ông ta yêu cầu ở cô chỉ là ngủ cùng cô — mặc dù nghĩ đến đây cô không khỏi nổi da gà — thì mọi chuyện đã đơn giản hơn nhiều rồi.

"Tôi đâu có nhiều lựa chọn, phải không?"

Ông ta gật đầu, khuôn mặt bị che khuất trong bóng tối lộ ra nụ cười. "Thưa bà Henry, nếu cô hiểu được điều này, thì tối nay chúng ta không coi là lãng phí rồi. Tôi thực sự muốn nhìn thấy đứa trẻ đáng yêu của cô, nhưng tôi đoán thằng bé đã ngủ rồi."

"Ồ, đã ngủ từ vài tiếng trước rồi."

Becker không nói lời nào, chỉ cười với cô, hồi lâu sau, ông ta mới xuống xe mở cửa cho cô.

Trong phòng tối đen như mực.

"Mẹ?" Tiếng gọi hoàn toàn tỉnh táo.

Nathalie bật đèn. Bên cạnh chiếc giường nhỏ của Louis trong phòng khách, bà lão ngồi trên ghế đang ngủ gật, trên người đắp một chiếc chăn. Louis đang ngồi dậy, mặc dù nước mắt còn đầm đìa, thằng bé giờ đây chớp chớp mắt, phá lệ mỉm cười. Ánh đèn làm bà lão tỉnh giấc. Bà xin lỗi vì đã ngủ quên, rồi ngáp dài lảo đảo bước ra ngoài. Lúc này, Nathalie vội vã dùng một chiếc khăn rách lau sạch lớp phấn, và dùng xà phòng rửa sạch mặt. Cô bước đến bên Louis, ôm lấy thằng bé, hôn thằng bé. Thằng bé rúc vào lòng cô.

"Louis, con phải ngủ thôi."

"Vâng, mẹ." Kể từ khi đến Corsica, thằng bé luôn gọi cô là mẹ bằng tiếng Pháp.

Khi thằng bé cuộn tròn thoải mái dưới tấm chăn, cô bắt đầu hát bài hát ru bằng tiếng Yiddish. Kể từ khi đến Marseille, bài hát ru này đã trở thành bài hát mà thằng bé nhất định phải nghe trước khi ngủ.

Bé ngủ trên nôi,

Dưới có con dê trắng.

Dê nhỏ làm gì,

Bé lớn lên cũng làm như thế.

Nho khô và hạnh nhân,

Ngủ đi ngủ đi, bé nhỏ.

Louis nửa tỉnh nửa mê hát theo, đứa trẻ bập bẹ tập nói, hát sai cả tiếng Yiddish.

Ngày hôm sau, Nữ bá tước vừa nhìn khuôn mặt Nathalie là biết tối hôm qua đi xem opera không hoàn toàn là một chuyện vui vẻ. Khi Nathalie đặt hai túi quần áo bên cạnh bàn làm việc, Nữ bá tước liền hỏi cô tối hôm qua thế nào.

"Không tệ. Em họ của bà thật hào phóng."

Nói xong câu này, Nathalie lập tức đi đến văn phòng nhỏ của mình để sắp xếp thẻ mục lục. Một lát sau, Nữ bá tước de Chambrun bước vào, khép cửa lại. "Có chuyện gì vậy?" Bà hỏi với giọng mũi đặc trưng, tông giọng này hoàn toàn không xứng với một quý bà Pháp.

Nathalie không biết trả lời thế nào, chỉ trừng đôi mắt bàng hoàng nhìn bà. Nathalie không biết xung quanh mình còn những cái bẫy nào khác, nên không dám vội vàng bước đi. Cô có thể tin tưởng người phụ nữ cộng tác này không? Câu hỏi này, cùng với một số vấn đề khác khó giải đáp tương tự, khiến cô thức trắng đêm. Nữ bá tước ngồi xuống một chiếc ghế đẩu nhỏ trong thư viện. "Nhanh lên, cả hai chúng ta đều là người Mỹ. Nói đi."

Nathalie kể hết đầu đuôi sự việc cho Nữ bá tước de Chambrun nghe. Việc này tốn rất nhiều thời gian. Do quá căng thẳng, cô bị khản giọng hai lần, phải uống chút nước trong bình thủy tinh. Nữ bá tước không nói một lời, đôi mắt sáng như mắt chim. Sau khi Nathalie kể xong, bà nói: "Cô tốt nhất nên quay lại Baden-Baden ngay lập tức."

"Quay lại Đức? Làm vậy có ích gì?"

"Người có thể cung cấp cho cô sự bảo hộ hiệu quả nhất là Đại biện lâm thời. Tuck là người ủng hộ nhiệt thành cho 'Chính sách mới', nhưng ông ấy là một người cứng rắn, tháo vát. Cô không có luật sư ở đây. Người Thụy Sĩ chỉ có thể làm bộ làm tịch thôi. Tuck sẽ đấu với họ. Ông ấy có thể đe dọa trả đũa các công dân Đức đang bị giam giữ tại Mỹ. Tình cảnh hiện tại của các người là nếu có chuyện gì xảy ra, thì có kháng nghị cũng không kịp nữa. Đường sá xa xôi, chú cô có chịu nổi không?"

"Nếu ông ấy phải đi, ông ấy sẽ sẵn lòng đi."

"Hãy nói với người Thụy Sĩ rằng các người muốn quay lại với đám người của mình. Chú cô rất nhớ những đồng nghiệp phóng viên của ông ấy. Người Đức không có quyền ép buộc các người ở lại đây. Hãy hành động nhanh chóng. Yêu cầu họ liên lạc ngay với Tuck, và sắp xếp cho các người quay lại Baden-Baden, nếu không thì hãy để tôi làm."

"Để bản thân bà dính líu vào là quá nguy hiểm, thưa Nữ bá tước."

Nữ bá tước bặm đôi môi mỏng, lộ ra nụ cười kiên cường bất khuất, rồi đứng dậy. "Chúng ta đi tìm Bá tước nói chuyện xem."

Natalie cùng đi qua đó. Đây cũng không mất đi là một kế sách; ngoài ra, cô cũng đã đến bước đường cùng rồi. Nữ bá tước đến bệnh viện liền đi vào trong, Natalie tiếp tục đi về phía trước, một mình đến viện điều dưỡng. Ellen nguyên khí chưa phục, đối với những việc liên quan đến Becker, anh không cách nào đưa ra phản ứng mãnh liệt. Anh chỉ lắc đầu, và nói khẽ: "Đây là báo ứng." Còn về đề nghị quay trở lại Baden-Baden, anh nói rằng mình để Natalie toàn quyền quyết định. Họ phải làm bất cứ điều gì có lợi nhất cho cô và Louis. Nếu quyết định đi, anh cảm thấy cơ thể mình vẫn chịu đựng được.

Khi Natalie và nữ bá tước gặp lại nhau tại bệnh viện, nữ bá tước đã nói chuyện với công sứ Thụy Sĩ. Vị công sứ hứa sẽ liên lạc với Tuck và sắp xếp cho họ trở về Baden-Baden. Ông ước tính sẽ không có khó khăn gì.

Xem ra cũng không đến mức có bất kỳ khó khăn nào. Ngày hôm sau, tòa công sứ Thụy Sĩ gọi điện cho Natalie đang ở trong thư viện, báo với cô rằng mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi. Phía Đức đã phê chuẩn cho họ trở về, vé tàu cũng đã có trong tay. Tuy nhiên, không thể gọi điện trực tiếp cho Tuck ở Baden-Baden, cuộc gọi phải thông qua tổng đài ở Berlin chuyển tiếp. Nhưng họ ước tính có thể thông báo cho Jastro trước khi ông rời Paris. Chiều cùng ngày, người Thụy Sĩ lại gọi điện đến: đã xuất hiện khó khăn ngoài ý muốn. Đại sứ Abetz đích thân quan tâm đến vị tác giả nổi tiếng này. Ông đã cử bác sĩ riêng của mình đến kiểm tra cho Jastro, nhằm xác định xem bệnh nhân hiện tại có thích hợp để di chuyển hay không.

Natalie vừa nghe tin này, liền biết là không còn hy vọng gì nữa. Quả nhiên là vậy. Ngày hôm sau, tòa công sứ Thụy Sĩ thông báo rằng, vị bác sĩ người Đức kia tuyên bố Jastro quá suy nhược, trong vòng một tháng không thể di chuyển. Vì vậy, đại sứ Abetz cho rằng ông không thể gánh vác trách nhiệm để ông ấy rời khỏi Paris.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »