Leslie Slote mỗi khi nhìn thấy cô gái nào có thân hình mảnh khảnh, dáng điệu nhẹ nhàng, mái tóc đen dày uốn lượn chải ngược ra sau, anh thường dễ nhầm tưởng đó là Natalie Jastrow. Có lần, tại một buổi tiệc ở Bern, anh bắt gặp một cô gái như thế, toàn thân bất giác khẽ run lên theo thói quen. Tất nhiên, lại là một phen mừng hụt. Dù Natalie có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, nhưng anh biết rõ cô đang ở chỗ nào.
Người giả Natalie này đang trò chuyện với chủ nhân của buổi tiệc Giáng sinh - một đại diện ngoại giao người Anh. Họ đứng dưới một bức chân dung rực rỡ của Vua George VI, nhân vật trong tranh mặc quân phục đầy đủ, đeo đầy huân chương. Slote cố len lỏi qua đám đông khách khứa đang nói đủ thứ tiếng để nhìn cho thỏa mắt. Cô gái ấy có gương mặt hình trứng, đôi mắt đen to, đuôi mắt xếch, khoảng cách giữa hai mắt khá xa, gò má cao, đôi má hơi hõm, ngay cả màu son đỏ cam cũng tô quá đậm, thật là giống đến lạ kỳ! Cô ấy chắc chắn là người Do Thái. Dáng người cô mảnh khảnh hơn, vì vậy trông còn quyến rũ hơn cả Natalie; theo quan điểm thẩm mỹ của Slote, Natalie vẫn luôn hơi bị thô xương. Anh dõi theo cô gái ấy đi xuyên qua phòng khách đầy khói thuốc. Cô quay đầu nhìn anh. Anh theo chân cô vào một phòng đọc sách ốp vách gỗ, cô dừng lại bên một quả địa cầu khung thép, nhấp một ngụm rượu lớn.
"Chào cô."
"Chào anh." Đôi mắt nồng nhiệt đang ngước nhìn anh thật trong trẻo và ngây thơ, dù trông cô đã ngoài hai mươi, nhưng ánh mắt vẫn như một thiếu nữ thông minh.
"Tôi là Leslie Slote, Bí thư thứ nhất của Công sứ quán Hoa Kỳ."
"Ồ, tôi biết."
"À, chúng ta đã gặp nhau bao giờ chưa?"
"Vì anh cứ nhìn chằm chằm vào tôi nên tôi đã hỏi thăm người khác xem anh là ai." Cô nói bằng chất giọng êm ái dễ nghe, pha chút âm hưởng Anh ngữ kiểu Đức.
"Xin đừng trách. Trông cô đặc biệt giống một cô gái mà tôi từng yêu. Cô ấy đã kết hôn rồi. Rất hạnh phúc, nên nói ra thì tôi có hơi si tình, nhưng dù sao đó cũng là lý do tôi nhìn cô."
"Thật sao? Lần này thì tôi đã hiểu rõ về anh rồi, mặc dù anh vẫn chưa biết tên tôi. Tôi là Selma Ascher." Cô chìa bàn tay mảnh khảnh ra bắt tay anh, lực nắm không mạnh bằng Natalie, nhưng lại mang nét thiếu nữ hơn. Cô không đeo nhẫn. "Bạn tôi nói vì anh quá thiên vị người Do Thái nên mới bị điều từ Moscow về đây."
Slote nghe xong câu này vô cùng khó chịu. Ở Bern đâu đâu cũng đồn thổi như vậy. Rốt cuộc là kẻ nào trong Công sứ quán đang tung tin? "Ước gì tôi thực sự có thể xứng đáng với sự hy sinh cho những người này. Việc điều chuyển của tôi chỉ là thủ tục hành chính thông thường. Tìm được một nơi có rượu ngon thức ăn tốt, tối đến có đèn đuốc sáng trưng, không súng nổ đạn bay là tôi đã mãn nguyện rồi."
Cô đưa ngón trỏ chỉ về phía anh, giống như một cô giáo tiểu học. "Đừng như vậy! Đừng cảm thấy hổ thẹn vì công việc. Chẳng lẽ anh không hiểu chuyện này khiến anh nổi tiếng đến mức nào trong giới ngoại giao sao?" Cô đưa bàn tay trắng nhợt ra xoay quả địa cầu kêu cọt kẹt. "Thế giới này đủ lớn nhỉ! Nhưng lại chẳng có nơi nào dung chứa nổi người Do Thái. Suốt bao thế kỷ qua, ít nhất vẫn còn một cánh cửa mở rộng. Bây giờ thì cửa đóng chặt hết cả rồi."
Slote nào ngờ mình lại vớ phải một rắc rối như thế này. Cô gái này mặc đồ thời thượng đẹp đẽ, thái độ đầy tự tin, nói cười tự nhiên với những người đàn ông khác, lẽ nào lại là một người tị nạn? Những kẻ khốn khổ bị đuổi khỏi quê hương đó cứ đến Công sứ quán làm phiền không dứt: anh đã sớm trở nên vô cảm với nỗi đau của họ. Ngoài cách đó ra, chẳng còn cách nào khác để giữ cho tinh thần bình thường cả.
"Cô có gặp khó khăn gì không?"
"Bản thân tôi ư? Không. Khi còn bé, cả gia đình tôi đã rời khỏi Đức. Chúng tôi là công dân Thụy Sĩ. Lúc đó người ta đều coi Hitler là trò cười, nhưng bố tôi thì không thấy buồn cười chút nào." Cô ngửa đầu ra sau, giọng điệu cũng thay đổi. "Được rồi! Kể cho tôi nghe về cô gái giống tôi đi. Nhưng, làm ơn lấy giúp tôi thêm chút nước chanh soda đã."
Anh dừng lại trước quầy bar, uống cạn một ly rượu gin lớn. Khi quay lại, chỉ thấy Selma Ascher đứng bên quả địa cầu, khoanh tay, một bên hông và một chân hơi nghiêng ra ngoài, chiếc váy xanh ôm sát làm nổi bật đường cong tuyệt mỹ của đôi chân; đây là tư thế mà Natalie rất thích. "Nói đến cô gái ấy," anh nói, "chính là cháu gái của Aaron Jastrow, ông ấy là một nhà văn, có lẽ cô đã từng nghe danh."
"Ồ, người viết cuốn 'Chúa Jesus của một người Do Thái' và 'Một người Do Thái tên là Paul' sao? Tất nhiên là có nghe. Tôi không thích đọc sách lắm. Những cuốn đó viết rất thông minh, nhưng khá nông cạn, lại còn là vô thần. Hóa ra cô ấy là người Do Thái! Hai người quen nhau thế nào? Giờ cô ấy ở đâu?"
Cô chăm chú lắng nghe anh kể chuyện về Natalie với vẻ đầy hứng thú. Đôi mắt nâu trong trẻo của Selma Ascher nhìn anh như thể có điện. Ánh mắt Slote lại cứ dán chặt vào mạch máu đang đập dữ dội trên chiếc cổ trắng ngần lộ ra dưới lớp áo sơ mi ren xanh của cô. Đây là biểu hiện của sự hưng phấn thần kinh cao độ.
"Chuyện thật kỳ lạ! Dù chú cô ấy có là người nổi tiếng hay không, tại sao cô ấy không thoát khỏi ông già cứ bám riết lấy mình đó đi?"
"Cô ấy đã bị cuốn vào từng chút một. Đến khi cô ấy cố hết sức để đưa mình và con ra ngoài thì đã quá muộn. Vụ tấn công Trân Châu Cảng đã giữ chân cô ấy lại."
"Vậy cha của đứa bé, viên sĩ quan hải quân trẻ tuổi ngoại đạo đó giờ đang ở đâu?"
"Đang ở trên một chiếc tàu ngầm tại Thái Bình Dương."
"Kỳ lạ thật! Tôi thực sự thấy tội cho cô ấy, nhưng mắt nhìn người của cô ấy chắc chắn là rất tệ. Sao anh biết cô ấy ở Siena?"
"Tôi đang phụ trách công việc trao đổi kiều dân bị giam giữ. Ý đã giữ các phóng viên của bên chúng tôi ở đó. Cô ấy và Tiến sĩ Jastrow đều có tên trong danh sách."
"Cô ấy có biết anh đang cố gắng giải thoát cho cô ấy không?"
"Ước gì cô ấy biết. Công sứ quán Thụy Sĩ tại Rome đã chuyển thư giúp chúng tôi, tôi đã viết thư cho cô ấy."
"Anh quyết tâm đưa cô ấy ra ngoài sao?"
"Tôi không biết có lý do gì để không làm vậy. Chú cô ấy từng đăng bài trên tạp chí, cô ấy vốn là nghiên cứu viên dưới quyền ông ấy. Trong nước chúng tôi cũng giữ lại không ít phóng viên người Ý. Việc này cần thời gian, nhưng sẽ không quá rắc rối."
"Thật là quyến rũ." Selma Ascher chìa tay ra. "Anh nhất định phải viết thư kể cho cô ấy nghe là anh đã gặp một cô gái giống cô ấy ở Bern."
"Để tôi đưa cô về."
"Cảm ơn, tôi có xe riêng."
"Nhưng tôi rất muốn gặp lại cô."
"Ồ, không được, không được." Cô cười, đôi mắt mở to khiến người ta dở khóc dở cười. "Tôi chỉ khiến anh đau lòng, làm anh nhớ đến người trong mộng đã mất của mình thôi."
Nhẹ nhàng vui tươi như một bản nhạc waltz, cô lắc hông đi ra khỏi phòng đọc sách.
"Vậy anh cho rằng Liên Xô quyết tâm theo đuổi đến cùng chứ?" Tiến sĩ Ascher hỏi, ông có thân hình tròn trịa, mái tóc bạc dày, chiếc mũi khoằm rất lớn. Ông ngồi ở vị trí chủ tọa, gương mặt mệt mỏi rã rời rủ xuống trước ngực.
Slote nghe câu hỏi trực diện này không khỏi cảm thấy hoang mang, một là không ngờ lần này người ta lại mời mình ăn cơm, hai là nhìn thấy sự xa hoa của nhà Ascher, anh đã thấy bất an rồi. Bộ đồ ăn của họ toàn là loại sứ viền vàng nặng nề. Trên vách tường kẻ ô treo hai bức tranh của Manet, tỏa sáng dưới những tia nắng xuyên qua cửa sổ nhỏ. Selma mỉm cười với Slote qua bàn ăn. "Bố, bố đừng hòng lấy được một câu trả lời dứt khoát từ miệng một nhà ngoại giao."
Ngồi bên cạnh cô là một vị linh mục mặt đỏ gay trong trang phục giáo sĩ, đang ăn uống thỏa thích, bên kia là một ông già người Anh cao gầy như bộ xương khô, trên mũi có một cái mụn cóc khó coi, khi dọn món ông chỉ chọn món chay, nhưng rồi cũng chẳng đụng đũa, cứ để nguyên đó. Tổng cộng có mười khách, ngoài Selma ra, Slote không quen ai cả. Anh trai của Selma là một người nhỏ thó hói đầu, anh ta và cha mình đều đội mũ nhỏ màu đen trong nhà. Leslie Slote đã đi nhiều nơi, nhưng chưa bao giờ ăn cơm cùng bàn với những người Do Thái đội mũ nhỏ. Mẹ của Selma chạm vào tay Slote. Những ngón tay thon dài của bà đeo hai chiếc nhẫn kim cương lớn, tỏa ra ánh sáng đỏ và xanh. "Nhưng anh vừa từ Moscow về. Nhất định phải kể cho chúng tôi nghe ấn tượng của anh đi."
"Nói đến thì, lúc tôi rời đi vào tháng Mười Một, tình hình là tệ nhất. Sau đó thì có khởi sắc đôi chút."
Slote nói một cách trôi chảy, rồi bất giác độc thoại luôn. Anh nói về tình hình cuộc phản công mùa đông: trên báo "Sự thật", cùng với những tiêu đề báo tin thắng trận là ảnh của các vị tướng, các quan chức nhát gan lũ lượt kéo từ Kuibyshev trở về Moscow, nguồn cung lương thực được cải thiện, số lần không kích ngày càng giảm, từng đoàn người Đức râu ria xồm xoàm, dáng vẻ hốc hác bị lính Hồng quân áp giải bằng súng tiểu liên, đi trên mặt tuyết phố Gorky, vừa đi vừa lau nước mũi bằng ống tay áo rách rưới. "Người Nga gọi đám này là 'Lũ Đức mùa đông'", Slote nói, người nghe đều cười ồ lên, mặt lộ vẻ vui mừng. "Nhưng hiện tại là giữa tháng Giêng. Người Đức tuy hơi thất thế, nhưng Hitler vẫn chiếm đóng miền Tây nước Nga. Cuộc phản công có vẻ sắp kết thúc, mọi người nên lạc quan hết mức có thể. Chỉ là sự hăng hái, tinh thần yêu nước và số lượng đông đảo của người Nga thực sự để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc."
Tiến sĩ Ascher gật đầu ủ rũ. "Phải, phải, nhưng mất đi chín mươi phần trăm công nghiệp nặng, Liên Xô làm sao có thể tiếp tục chiến đấu được chứ?"
"Năm 1941 lúc họ thua trận, họ đã chuyển các nhà máy ra sau dãy núi Ural. Đây thực sự là một công việc siêu nhân."
"Ông Slote, các nhà máy của Hitler thì không cần phải di chuyển. Những nhà máy đó đều có thiết bị tốt nhất thế giới, vẫn đang ổn định sản xuất ra lượng lớn vũ khí. Chỉ đợi mùa xuân năm sau băng tan, bùn đất khô ráo, ông ta sẽ phát động một cuộc tấn công quy mô lớn mới. Anh nói những nhà máy di dời kia có thể sản xuất đủ vũ khí cho người Nga không?"
"Người Nga còn nhận được vật tư từ 'Đạo luật Cho thuê-Cho mượn'."
"Không đủ," ông già người Anh gầm lên. "Họ không đủ, Anh cũng không đủ."
Ascher nói một cách buồn bã: "Điều tôi lo lắng là, nếu Hitler chiếm được Kavkaz vào năm 1942, mà Leningrad và Moscow vẫn bị cô lập với thế giới bên ngoài, anh không thể loại trừ khả năng người ta sẽ đơn phương cầu hòa đâu."
Ông già người Anh nói: "Giống như Lenin đã làm vào năm 1917 vậy. Những người cộng sản chỉ cần chớp mắt là lập tức bán đứng đồng minh, họ là những kẻ hiện thực chủ nghĩa hoàn toàn."
Mẹ của Selma nói: "Như vậy thì người Do Thái ở Nga tiêu đời rồi."
Vị linh mục vốn đang dữ dằn xử lý nửa con vịt, bỗng dừng lại, đôi mắt nhỏ liếc nhìn Slote. "Hiện tại tình hình những người Do Thái ở Nga thế nào?"
"Ở phía sau chiến tuyến của Đức sao? Chắc là tệ lắm. Những nơi khác thì tạm ổn. Nhà cầm quyền coi họ như súc vật mà xua đuổi, nhưng Nga ít nhiều cũng đối xử với mọi người như vậy thôi." "Những lời đồn truyền ra từ Nga và Ba Lan là thật sao?" Tiến sĩ Ascher hỏi. Slote không trả lời. "Tôi đang nói đến vụ thảm sát."
Bốn phía đều nhìn anh bằng ánh mắt nghiêm nghị.
"Những chuyện loại này rất khó kiểm chứng." Anh ấp úng nói. "Thời chiến mà. Những khu vực đó cấm các phóng viên nước ngoài ra vào. Ngay cả người Đức cũng không được phép. Nạn nhân của vụ thảm sát không thể lên tiếng, kẻ sát nhân tất nhiên không chịu nói."
"Người say nói thật, Đức cũng có người thích uống rượu đấy thôi." Selma nói.
Bà Ascher lại chạm vào tay anh. Người phụ nữ gần sáu mươi tuổi này, trong mái tóc điểm vài sợi bạc, gương mặt nhăn nheo gầy gò xinh đẹp, bộ lễ phục đen dài tay cài kín cổ, tất cả đều mang lại cho bà một vẻ đẹp quý phái sang trọng. "Tại sao anh nói tình hình ở phía sau chiến tuyến của Đức rất tệ?"
"Trước khi rời Moscow, tôi đã thấy một số tài liệu lưu trữ."
"Loại tài liệu gì?" Vị linh mục hỏi ngay lập tức đầy sắc bén.
Slote ngày càng bất an, né tránh nói: "Chẳng qua cũng là những thứ mà người ta vẫn hay nghe nói thôi."
Người Anh kia hắng giọng, lấy khớp ngón tay gõ gõ lên mặt bàn, nói như đang nghẹn đờm: "Ông Slote, Bern là một thành phố nhỏ đầy thị phi, ông biết không? Nghe nói vì ông quá quan tâm đến người Do Thái nên Bộ Ngoại giao các ông mới điều ông từ Moscow sang Thụy Sĩ đấy."
"Hoàn toàn là chuyện nhảm nhí. Bộ Ngoại giao nước tôi vốn dĩ rất quan tâm đến người Do Thái."
Người Anh kia không buông tha: "Trên thực tế, nghe nói ông đã tiết lộ tài liệu lưu trữ của mình cho giới báo chí Mỹ, vì vậy mới khiến cấp trên của ông không hài lòng."
Slote không thể đối phó khéo léo với sự thăm dò này, anh chỉ có thể nói: "Tin đồn nhảm chẳng đáng để thảo luận."
Sau đó mọi người rơi vào im lặng hồi lâu, lúc này một người hầu gái đặt một cuốn sách cầu nguyện nhỏ lên mỗi chỗ ngồi. Tiến sĩ Ascher và con trai đều nghiêm trang đọc một đoạn cầu nguyện bằng tiếng Do Thái, trong lúc này, Slote cảm thấy xấu hổ nên thuận tay lật xem bản dịch tiếng Đức của cuốn sách. Khi các vị khách nam nữ lần lượt đi sang phòng nghỉ để uống cà phê, Selma chặn Slote lại ở một hành lang, dang hai tay ôm lấy anh. Chiếc áo lót bằng nhung đen trên người cô nửa che nửa hở đôi gò bồng đảo xinh đẹp, nhỏ hơn của Natalie một chút. Cô nhìn quanh không thấy ai, liền nép vào người anh, hôn nhẹ lên môi anh.
"Tại sao vậy?"
"Anh gầy quá. Chúng tôi nhất định phải vỗ béo anh." Cô vội vã rời đi.
Tòa biệt thự này có hẳn một tầng là phòng đọc sách của Tiến sĩ Ascher: một căn phòng dài, tối tăm, từ sàn đến trần là những dãy sách, phần lớn là sách bìa da đóng gáy sang trọng. Một mùi sách cũ mốc nồng nặc. Trên bức tường phía sau chiếc bàn làm việc bừa bộn treo đầy những bức ảnh có chữ ký của các chính trị gia và ngôi sao opera. Trên một chiếc giá gỗ gần đó trải một tấm bản đồ quân sự thế giới, cắm đầy những chiếc đinh ghim màu.
"Anh lại nghe đài Berlin rồi à, Jacob?" Người Anh kia đưa ngón tay run rẩy, gõ cộp cộp lên bán đảo Mã Lai trên bản đồ. "Người Nhật đã bị đánh bật lùi về phía bắc xa hơn chỗ này rồi."
Ascher nói với Slote: "Anh xem, tôi thật hồ đồ, lại mang chiến tranh vào nơi tu dưỡng tâm tính của mình."
"Bản đồ ở đây của ông còn chi tiết hơn ở Công sứ quán chúng tôi. Chúng tôi thường quên mất cả Thái Bình Dương."
"Nhưng, ông Slote, đây là một khu vực then chốt, đúng không? Nếu Singapore thất thủ, thì không tránh khỏi gây ra một cuộc sụp đổ" — ông xòe ngón tay quét một đường từ Ấn Độ đến Úc — "không làm cho thiên hạ đại loạn thì không xong đâu." Ông lại đưa ngón tay vung lên, chỉ vào chiến tuyến của Đức ở Nga, đó là một hàng đường cong dọc nam bắc được đánh dấu bằng những chiếc đinh ghim màu đỏ, từ Biển Đen kéo dài đến tận Bắc Băng Dương. "Nhìn xem Hitler chiếm đóng những nơi nào! Liên Xô đã là một kẻ tàn phế cụt tay thiếu chân rồi."
"Singapore không thể mất được," người Anh kia nói.
"Hơn nữa, một quốc gia có chủ quyền có thể mọc ra tay chân mới," Slote nói, "đây là một sinh vật nguyên thủy ngoan cường, giống như con cua vậy."
Ascher nghe xong sự so sánh này, gương mặt tái nhợt lộ vẻ vui mừng. "Ai, nhưng người Đức mạnh quá. Ước gì có thể bao vây từ phía sau lưng họ thì tốt biết mấy!" Ngón tay ông nhảy sang bờ đông Đại Tây Dương. "Nhưng sự sụp đổ ở Đông Á hiện nay sẽ kéo Mỹ và Anh sang một hướng khác." Ascher thở dài chán nản, buông thõng người ngồi xuống ghế sofa da nâu cạnh Slote.
"Sao có thể để chuyện như vậy xảy ra được!" Người Anh kia ngồi trên một chiếc ghế cao, bắt đầu dùng chuyện tàu ngầm Đức đánh chìm tàu chiến Đồng minh dọc bờ biển Đại Tây Dương để trêu chọc Leslie Slote. Lẽ nào đồng bào của Slote ngay cả trong thời chiến cũng không thể cố gắng kiềm chế, thực hiện lệnh giới nghiêm ở các thành phố ven biển sao? Đài Berlin đang công khai khoe khoang rằng ánh sáng rực rỡ đã cung cấp điều kiện tìm kiếm thuận tiện nhất trong chiến tranh cho tàu ngầm Đức. BBC vừa xác nhận con số đáng kinh ngạc về số tàu chiến bị đánh chìm ở vùng biển Mỹ trong tháng Mười Hai mà Đức đã công bố. Cứ đà này, phe Đồng minh thua chắc.
Hơn nữa — ông già càng nói càng tức, suýt chút nữa nhảy dựng khỏi ghế —, tại sao người Nhật lại tiến quân nhanh như vậy trên đảo Luzon? Lực lượng Anh phân tán toàn cầu, lại đã đánh nhau hơn hai năm; nên không lạ gì Singapore đang trong tình trạng nguy cấp. Thế nhưng quân Mỹ đóng tại Philippines đã giành thêm được hai năm hòa bình quý giá để luyện quân chuẩn bị chiến đấu, hơn nữa Mỹ không hề tác chiến ở những nơi khác trên thế giới. Tại sao không đuổi quân xâm lược xuống biển đi? Nếu trong cuộc đại chiến này Mỹ ngay cả gánh nặng này cũng không gánh nổi, thì cũng thôi đi, Anh nguyện đơn độc cứu vãn thế giới văn minh, sau đó quay lại đối phó với gấu Nga. Nhưng gánh nặng đường xa đấy. Mỹ có đầy đủ tài nguyên, chỉ thiếu ý chí chiến đấu.
Slote nghe xong bài diễn văn hùng hồn này thì không hề nổi nóng, vì nhìn thái độ và giọng nói khàn khàn của người này, đúng là đã già hồ đồ rồi. Anh bình tĩnh trả lời rằng, một quốc gia yêu chuộng hòa bình cần có thời gian để chuẩn bị tư tưởng cho chiến tranh. Điều này đã thấy rất rõ ở nước Anh dưới thời Chamberlain cầm quyền. Nhưng anh cũng có một hai câu hỏi muốn thỉnh giáo. Việc không cho phép người tị nạn Do Thái trốn chạy khỏi Hitler vào Palestine có lợi ích gì cho việc tác chiến của Anh? Một quốc gia tự xưng là dân chủ văn minh, sao có thể ép phụ nữ và trẻ em ngồi trên những con tàu cũ kỹ nguy hiểm trôi dạt vô vọng trên Địa Trung Hải?
"Lý do thì nhiều lắm, có đủ loại lý do về chính sách khu vực, đủ loại lý do về quốc gia —" Người Anh kia rưng rưng nước mắt, mạnh tay quệt lên mắt. "Không giấu gì anh, Đại đế quốc Anh gánh vác đủ loại trọng trách, hoàn cảnh khó khăn lắm — một người còn thường tiến thoái lưỡng nan nữa là — xin lỗi; tôi xin cáo từ." Ông đứng dậy, vội vàng bỏ chạy ra cửa. Một lúc sau, cô con gái không phấn son, diện mạo tầm thường của ông xuất hiện nói: "Chúng ta phải đi thôi." Cô trừng mắt nhìn Slote đầy oán trách, quay người bỏ đi luôn.
"Đắc tội, đắc tội," Slote nói với Ascher.
"Ngày trước khi Toliver còn làm việc tại Công sứ quán ở đây, ông ấy đã trở thành bạn tốt của gia đình chúng tôi. Ông ấy bệnh tật, yêu nước, nhưng người già rồi." Ascher trầm tĩnh nói.
Tiệc tan. Slote cùng vị linh mục đi vào bầu trời đêm đầy sao và gió lạnh. Slote kéo cổ áo lên, nói mình muốn đi bộ về căn hộ. Linh mục đề nghị cùng anh đi dạo. Luyện gân cốt. Slote vốn nghĩ đi cùng vị linh mục béo nhỏ này chắc sẽ không nhanh, nhưng khi hai người sải bước dưới những cái cây trơ trụi lá đi qua đài phun nước khô cạn, thì anh lại phải tăng tốc. Trong đêm khuya tĩnh mịch, Slote nghe thấy tiếng thở sâu đều đặn của linh mục. Từ chiếc mũi lớn tỏa ra hơi nóng như một cỗ máy hơi nước nhỏ. Họ đi được khoảng một dặm, cả hai đều không nói lời nào.
"Được rồi, tôi về đến nhà rồi," Slote dừng bước trước cửa căn hộ mình nói, "cảm ơn ông đã tiễn."
Linh mục nhìn chằm chằm vào mặt anh. "Còn một số tài liệu lưu trữ liên quan đến sự việc của người Do Thái, anh có hứng thú không?" Câu này đột nhiên được nói bằng tiếng Đức dứt khoát.
"Cái gì? À — tôi vừa nói trong bữa tiệc rồi, chính phủ nước tôi tất nhiên quan tâm đến vấn đề giảm bớt nỗi đau của người Do Thái."
Linh mục vẫy tay về phía công viên trẻ em tối tăm bên kia đường, nơi có những chiếc xích đu và bập bênh giữa những hàng ghế dài trống trải. Họ băng qua đường, lặng lẽ đi một vòng trong công viên.
"Thật đáng sợ, thật đáng sợ, thật đáng sợ," linh mục đột nhiên liên tục nói, giọng điệu thật khác lạ, thật buồn bã, thật căng thẳng, Slote nghe xong không khỏi dừng bước, vô cùng kinh ngạc. Linh mục ngước nhìn anh, dưới ánh sáng lờ mờ của một ngọn đèn đường phía xa, gương mặt đó biến dạng. "Ông Slote, tôi vốn là người Bavaria. Năm 1923 tại Munich, tôi tận mắt nhìn thấy Adolf Hitler, cái đống phân đó, đứng trên đường phố diễn thuyết trước hai mươi người. Sau khi bạo động thất bại, năm 1924, tôi thấy hắn ta hùng biện khi bị xét xử. Năm 1936, tại đại hội Đảng Quốc xã, tôi lại thấy hắn diễn thuyết trước một triệu người. Hắn vẫn luôn là một đống phân như thế. Hắn chưa bao giờ thay đổi. Cho đến tận hôm nay cũng không thay đổi. Vẫn là một bàn tay chống hông, vẫn là một nắm đấm vung vẩy không ngừng, vẫn là giọng nói thô tục, ngôn từ hạ lưu, những tư tưởng ngu xuẩn và nguyên thủy. Thế nhưng hắn là chúa tể của nước Đức. Hắn là hung thần ác sát của nhân dân nước tôi. Hắn là tai họa lớn mà Chúa giáng xuống."
Bất thình lình, vị linh mục lại bước tiếp. Slut phải chạy vài bước mới theo kịp ông. "Ông phải hiểu về nước Đức, ông Slut ạ." Giọng điệu đã bình tĩnh hơn. "Đây là một thế giới khác, chúng tôi là một dân tộc thiếu kinh nghiệm về chính trị, chúng tôi chỉ biết phục tùng mệnh lệnh từ cấp trên. Đó là sản phẩm của lịch sử nước ta, một loại chế độ phong kiến bền bỉ. Suốt một thế kỷ rưỡi qua, chúng tôi luôn do dự không quyết, không biết nên sùng bái chủ nghĩa lạc quan của chủ nghĩa xã hội viển vông, hay nghiêng về chủ nghĩa bi quan của chủ nghĩa thực dụng lãng mạn? Là muốn những ảo tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa không tưởng, hay muốn lý thuyết cường quyền chuyên chế ngang ngược? Đến tận hôm nay, chúng tôi về cơ bản vẫn không biết đi đâu về đâu, là muốn chủ nghĩa hưởng lạc phóng túng của các nước dân chủ phương Tây, hay muốn chủ nghĩa vô thần cực đoan của phái Bolshevik phương Đông!" Vị linh mục tuôn ra những từ ngữ trừu tượng này một cách trôi chảy, tay mở rộng làm điệu bộ minh họa. "Mà giữa hai cái đó, có biết bao hố sâu, biết bao khoảng chân không, biết bao chỗ trống rỗng! Chủ nghĩa nhân văn của cả hai trào lưu tư tưởng hiện đại này đều đề xướng không tin vào Chúa. Người Đức chúng tôi trong lòng đều hiểu rõ, hai luận điểm này đều quá đơn giản hóa và giả tạo như nhau. Về điểm này, chúng tôi đã tính đúng. Về điểm này, chúng tôi không hề bị lừa gạt. Chúng tôi vẫn luôn mò mẫm tìm cách khôi phục tình yêu và đức tin trong cuộc sống hiện đại, ồ, và cả Đấng Christ nữa. Nhưng chúng tôi quá ngây thơ khờ dại, chúng tôi đã bị che mắt. Một ác ma phản Chúa đã lừa dối chúng tôi, hắn lợi dụng thứ chủ nghĩa dân tộc man rợ, giả tôn giáo của hắn để dẫn chúng tôi vào con đường dẫn tới địa ngục. Bất hạnh thay, sự cuồng tín tôn giáo và thói mù quáng tuân theo không suy nghĩ của chúng tôi lại nghiêm trọng đến thế, thực sự là không có đáy. Người Đức chân thành khao khát có được đức tin, hy vọng và một hệ thống siêu hình học hiện đại đứng vững được, Hitler và chủ nghĩa xã hội quốc gia là sự bóp méo cực độ đối với khao khát này. Chúng tôi đang uống thuốc độc giải khát. Nếu không chặt đứt móng vuốt của hắn, kết cục sẽ là một thảm họa không thể đong đếm được."
Một phần vì bàn tay mạnh mẽ của vị linh mục siết ngày càng chặt, một phần vì những lời lẽ hào hứng bộc phát này, Slut cảm thấy vô cùng cảm động, anh nói: "Những lời này tôi tin hết, ông nói rất đúng."
Cái đầu tròn trịa của vị linh mục gật gật. Ông cười ngây ngô một cái, rồi đột nhiên đổi sang giọng điệu tùy tiện đầy hài hước: "Ông có thích xem phim không? Bản thân tôi thì cực kỳ mê phim ảnh. Tôi thừa nhận, điều này hơi lãng phí thời gian vô ích."
"Thích chứ. Tôi rất thích xem phim."
"Tuyệt quá. Hôm nào đó chúng ta cùng đi xem."
Nhà ngoại giao thường có người tìm đến tận cửa để đưa tin, mà rạp chiếu phim chính là điểm hẹn thường thấy. Slut lại chưa từng gặp chuyện này bao giờ. Anh rơi vào thế khó xử, đành ấp úng nói: "Xin hỏi lại danh tính của ông. Tôi rất lấy làm tiếc, đáng tiếc là lúc nãy tôi nghe không rõ."
"Tôi là linh mục Martin. Vài ngày nữa chúng ta hẹn cùng đi xem một bộ phim nhé. Để tôi gọi điện thoại cho ông."
Một lúc lâu sau, Slut mới gật đầu.
Tại sao lại gật đầu? Sau này, Leslie Slut thường tự hỏi trong lòng, vì việc này đã quyết định vận mệnh nửa đời sau của anh. Nói ra thì, một là anh có một khái niệm đại diện cho nước Mỹ; hai là anh cảm thấy bất kể bề ngoài có nghịch lưu, có định kiến, nhưng trong cốt lõi nước Mỹ vẫn đồng cảm với người Do Thái; ba là anh luôn canh cánh trong lòng, cho rằng mình lại từ chối một cô gái Do Thái tuyệt sắc đúng là kẻ ngốc thiển cận; bốn là anh khao khát khắc phục sự nhút nhát sợ hãi của bản thân, anh đã bắt đầu cảm thấy sự nhút nhát này thật đáng ghét; năm là anh nhận ra mặc dù lần trước việc anh tiết lộ tài liệu Minsk cho hãng tin AP khiến anh mất chức, nhưng vẫn không mất đi yếu tố tạo nên một niềm tự hào khác thường; điểm cuối cùng, cũng giống như những điểm khác, đó chính là sự tò mò; những điểm này đã đẩy anh vào một cuộc sống mới.
Ba tuần trôi qua. Slut đã sớm quên bẵng cuộc trò chuyện kỳ lạ trong đêm khuya đó. Bất thình lình, linh mục Martin gọi điện đến. "Ông Slut, ông có thích Bing Crosby không? Tôi thấy anh ta hài hước cực kỳ. Ông có biết không, phim mới của Bing Crosby đang chiếu ở rạp chiếu phim Bích Châu đấy."
Vị linh mục cầm tấm vé đã mua trước chờ sẵn. Suất chiếu lúc bảy giờ, rạp vẫn chưa kín chỗ. Linh mục Martin tìm một chỗ ngồi ở rìa, Slut lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh ông. Họ xem Bing Crosby ăn mặc như sinh viên, đùa giỡn với những cô gái xinh đẹp mặc váy ngắn, xem được khoảng nửa tiếng, vị linh mục không nói một lời liền đổi chỗ, chuyển ra hàng ghế phía trước ngồi từ xa. Chẳng bao lâu sau, một người đàn ông gầy gò đeo kính đi tới, ngồi vào chỗ này, tay mân mê một chiếc mũ, một chiếc ô và một bọc dày. Chiếc mũ rơi xuống sàn. Trong lúc hắn cúi xuống gầm ghế tìm mũ, tiện tay đặt bọc đồ đó lên đầu gối Slut, miệng nói "Làm phiền". Người hàng xóm ngồi bên cạnh Slut là một cô gái mặt đầy mụn nhọt, chỉ mải mê xem Bing Crosby, hoàn toàn không chú ý đến việc này. Người đó tìm được mũ rồi thì an tâm xem phim. Slut cầm lấy bọc đồ. Đến khi tan phim, anh kẹp bọc đồ vào nách rồi đi, tim đập thình thịch. Trong cảnh đêm mờ ảo bên ngoài rạp, không một khán giả nào tan phim về nhìn Slut lấy một cái.
Anh cố gắng kiềm chế bản thân, không dám rảo bước nhanh hơn, thực ra là không dám chạy, cứ thế thong dong đi về chỗ ở. Khóa cửa, kéo rèm lá sách, lúc này mới rút trong bọc ra một xấp bản in, chữ trắng nền đen, là một văn kiện chính thức của Đức, có vài trang dính vết bẩn màu nâu, làm nhòe cả chữ. Khi anh vội vàng lật xem những tờ giấy tối màu này, trên giấy bốc lên một mùi thuốc sát trùng hăng hắc.
Trang trên cùng đóng một con dấu cao su chữ trắng nền đen, nét chữ rõ ràng: "Tối mật". Tiêu đề văn kiện là: Biên bản hội nghị các thứ trưởng bộ ngành chính phủ họp tại Wannsee ngày 20 tháng 1 năm 1942. Những trang đầu liệt kê danh sách 15 quan chức cấp cao có tước vị hiển hách. Nhân vật số hai của SS là Reinhard Heydrich chủ trì hội nghị họp tại Wannsee ở ngoại ô Berlin này. Slut đang định vừa xem văn kiện vừa dịch ra, thì chuông điện thoại reo.
"Alo. Tôi là Selma Ascher. Anh có muốn mời tôi ăn tối không?"
"Selma! Trời ạ, được chứ!" Cô nghe ra sự nhiệt tình của anh, không khỏi cười ha hả. "Khi nào? Ở đâu?"
Tranh thủ lúc chưa thay đồ, anh vội vàng lật xem văn kiện. Luận điểm chính là vận chuyển một lượng lớn người Do Thái ở châu Âu bằng đường sắt đến các khu vực đã bị chinh phục ở phương Đông, ép họ xây dựng đường cao tốc. Việc này không mới, cũng không quá kinh khủng. Cần biết rằng tù binh chiến tranh của Nga và Pháp cũng bị sử dụng làm lao động nô lệ. Người Đức thậm chí còn ép cả người Ý vào nhà máy làm việc. Người Đức xưng vương xưng bá, đối với người Do Thái lại càng tàn nhẫn, vì thế mới bày ra kế hoạch dự án xây đường này. Slut không hiểu tại sao vị linh mục phải tốn nhiều công sức đưa tài liệu này cho mình đến vậy. Anh nhét bọc đồ dưới nệm, quay lại xem tiếp sau.
Selma lái chiếc xe Fiat hai chỗ màu xám của cô đến đón anh. Khi chào anh, khuôn mặt cô nửa ẩn trong cổ áo lông cáo trắng tuyết, vẻ mặt nghiêm túc, mắt sáng ngời, thẹn thùng. Cô lái xe đến một nhà hàng nhỏ trên con đường vắng vẻ.
"Từ khi quen anh đến nay, lần đầu tiên trong đời tôi làm hai việc xấu." Đôi bàn tay mảnh khảnh của Selma đặt trên khăn trải bàn ca-rô, lúc thì nắm chặt, lúc thì thả lỏng. "Một trong số đó là mở lời mời một người đàn ông mời tôi ăn tối."
"Việc này không xấu đâu, may mà cô làm thế, tôi rất vui. Còn việc kia thì sao?"
"Còn xấu hơn." Cô bất chợt cười thỏa thích, dùng tay chạm vào tay anh, rồi lại rụt ngay về.
"Selma, tay cô lạnh quá."
"Chẳng trách, tôi căng thẳng quá."
"Nhưng tại sao chứ?"
"Ừm—để nói rõ một chuyện, lần mời anh đi ăn tối tháng trước không phải là ý của tôi. Là cha tôi bất ngờ bảo tôi mời. Theo tình hình anh kể về người bạn ở Siena đó, xem ra anh không để tâm đến những cô gái phóng túng, thực ra tôi lại hoàn toàn không phải kiểu người đó. Tôi kể với cha mẹ việc gặp anh. Họ đã ngưỡng mộ anh từ lâu. Cha tôi làm trưởng hội Do Thái ở đây nhiều năm rồi. Nhìn thấy cùng với mỗi chiến thắng của người Đức, bạn bè của chúng tôi ở Bern này ngày càng ít đi, điều này đối với tôi lại là một sự giáo dục," những câu đầu Selma nói ngập ngừng, sau đó thì tuôn ra một tràng, cô thốt lên đầy kinh ngạc: "Một sự giáo dục chân thực khi nhìn đời bằng con mắt lạnh lùng. Cha tôi từng tài trợ cho bệnh viện, nhà hát opera, nhà hát diễn kịch định kỳ, cái gì cũng tài trợ! Nhà chúng tôi từng là nơi khách khứa đông đúc. Nhưng giờ đây—ôi—"
"Selma, vị linh mục tôi gặp ở nhà cô là người thế nào?"
"Linh mục Martin? Một người Đức tốt bụng. Ồ, người Đức tốt bụng quả thực là có đấy. Số lượng cũng không ít, đáng tiếc là chưa đủ để tạo ra ảnh hưởng gì. Linh mục Martin đã giúp cha tôi lo được không ít thị thực nhập cảnh Nam Mỹ."
"Ông ấy cung cấp cho tôi thông tin tình báo bí mật về việc Đức ngược đãi người Do Thái."
"Thật sao?"
"Thông tin của ông ấy có đáng tin không?"
"Tôi thực sự không thể phán xét linh mục, dù ông ấy là bạn thân thiết nhất. Xin lỗi nhé." Cô vung hai tay, làm một động tác phủ định đầy kích động, như thể muốn gạt bỏ chủ đề này đi vậy. "Trong nhà ầm ĩ không chịu nổi! Tối nay tôi đành phải ra ngoài. Cha tôi đang chuyển doanh nghiệp của ông ấy sang Mỹ đấy. Ông ấy bận đến kiệt sức, mẹ tôi lại không muốn nhìn ông ấy cứ lo lắng ưu phiền mà mất mạng. Việc này rất phức tạp, liên quan đến việc bán các nhà máy ở Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil, những cái khác thì tôi không hiểu, ôi—xem tôi lải nhải một đống kìa."
"Được cô tin tưởng chia sẻ, tôi rất vinh dự. Tôi tuyệt đối không đem lời người khác nói ra ngoài đâu."
"Natalie nói nhiều không?"
"Nhiều hơn nhiều. Cô ấy rất độc đoán, lại hay tranh cãi."
"Tôi thấy chúng tôi không giống nhau thật."
"Tôi nhất thời lại quên mất sự giống nhau giữa hai người."
"Thật sao? Đáng thương thay. Hóa ra điều anh thấy thú vị ở tôi chính là tôi giống cô ấy."
"Cô nói ít đi thì không giống nữa."
Selma Ascher đỏ mặt, vội vàng quay mặt đi, rồi lại ngẩng cổ lên, quay đầu nhìn anh. "Một lý do khác, lý do thực sự khiến cha tôi chuyển nhà, chính là tôi sắp kết hôn với một người Mỹ, một luật sư ở Baltimore, một người theo đạo giáo thuần túy."
"Cô—bản thân cô chân thành tin vào tôn giáo sao? Hay là cô tuân theo ý nguyện của cha mẹ?"
"Tôi được giáo dục tốt về tiếng Do Thái. Tôi thậm chí còn hiểu một chút về giáo luật Do Thái, đáng lẽ con gái không nên học. Tôi đọc sách luôn rất nghiêm túc. Cha tôi thấy vậy rất vui. Hiện tại ông ấy đang cùng tôi nghiên cứu về Isaiah, điều này thực sự rất thú vị. Còn nói đến Chúa thì—" Cô lại làm một động tác phủ định đầy kích động. "Tôi ngày càng nghi ngờ. Giờ đây Chúa đi đâu rồi? Chúa làm sao có thể để mặc loại chuyện này xảy ra chứ? Tôi có khi lại trở thành một linh hồn lạc lối rơi xuống địa ngục không bao giờ siêu thoát được cũng nên."
"Vậy chuyện cô sắp lấy người thanh niên sùng đạo kia thì sao?"
"Ồ, tôi tuyệt đối không thể tùy tiện lấy người khác được." Cô thấy anh nhíu mày khó hiểu, thầm buồn cười. "Điểm này anh không hiểu đúng không? Nói ra thì, anh cũng không cần phải hiểu."
Giờ đây Slut hoàn toàn hiểu rõ, mối quan hệ với cô gái này đã chấm dứt. Họ cứ luyên thuyên trò chuyện cho đến khi dọn món ăn lên. Anh bắt đầu tìm kiếm khuyết điểm trên người cô, mỗi khi anh định rút lui, anh luôn áp dụng cách này, mọi cô gái đều khó tránh khỏi có khuyết điểm. Chuỗi bông tai dài của Selma chọn thật tệ hại. Quan niệm thời trang của cô cũng có vấn đề: chiếc áo cổ cao kia, che khuất cái cổ, nhưng lại khiêu khích làm nổi bật cặp ngực như hai ngọn núi nhỏ, vừa muốn thể hiện vẻ đẹp nữ tính, lại vừa giả bộ đoan trang, làm ra vẻ chẳng ra làm sao cả. Lông mày cô mọc quá rậm, không tỉa tót. Trước đây trông có vẻ ngây thơ khờ dại cũng khác biệt, giờ xem ra rõ ràng chỉ là vẻ quê mùa quá mức e dè mà thôi. Anh sao—lại—cùng một con nhóc vàng hoe sùng đạo đi ăn tối! Anh bắt đầu cảm thấy mình bị lừa. Bữa cơm này có gì thú vị chứ?
"Anh có thích khiêu vũ không?" Selma đang vừa làm biếng vừa kén cá chọn canh ăn món cá hấp.
"Tàm tạm," Slut nói hơi thiếu khách khí, "còn cô?"
"Tôi nhảy tệ lắm. Trước đây tôi hiếm khi khiêu vũ. Tối nay tôi lại rất muốn nhảy."
"Nhất định sẽ phụng bồi." Đây đúng là một cách để ôm con nhóc vàng hoe sùng đạo này vào lòng, mặc dù cách này chưa chắc đã khiến người ta hài lòng lắm.
"Anh đang giận tôi à."
"Làm gì có."
"Anh đoán được việc xấu thứ hai tôi làm trong đời là gì không?"
"E là không đoán được."
"Vậy được thôi. Tôi nói cho anh biết. Chính là hôn một người không phải Do Thái. Nhưng tôi cũng chẳng hôn nhiều người Do Thái lắm đâu."
Họ đến một hộp đêm vui chơi, ở đó có hai ban nhạc luân phiên biểu diễn. Cô cứ giẫm lên chân anh, quay sai hướng, cơ thể giữ khoảng cách một feet với anh, trông vừa lúng túng, vừa kích động, vừa vui vẻ. Bất kể trong lòng ôm con nhóc vàng hoe thô tục này với khoảng cách bao xa, đầu ngón chân phải chịu khổ bao nhiêu, đều không khỏi khiến anh nhớ lại cảnh tượng tại buổi khiêu vũ thời trung học năm nào. Cô không ngừng nhìn chiếc đồng hồ treo tường lớn, đúng vào lúc mười một giờ mười lăm phút, cô nói: "Chúng ta nên đi thôi. Chơi vui cực kỳ."
Cô lái chiếc Fiat đó đưa anh về chỗ ở, tay cũng không bắt mà để anh xuống xe, rồi gầm rú lái đi mất. Anh lê bước chân nặng nề lên lầu, trong lòng biết rằng, bóng hình của Selma Ascher và cảm giác khó quên khi ôm cơ thể cô, ngửi thấy mùi tóc cô, sẽ làm anh mất ngủ vài tiếng đồng hồ. Anh tự pha một ly whisky pha nước, rồi ngồi phịch xuống một chiếc ghế bành. Ánh mắt anh rơi trên giường, thở dài một tiếng, đứng dậy đi lấy "Biên bản hội nghị Wannsee", trong lòng thầm nghĩ dịch bài báo chính thức của Đức có lẽ sẽ gây buồn ngủ. Anh cầm một xấp giấy vàng, một cây bút chì và xấp tài liệu đen đó, tập trung tinh thần vừa xem vừa viết.
Qua khoảng hơn một tiếng, trang văn kiện anh đang xem không tự chủ được mà rơi từ tay xuống sàn. "Chúa... ơi!" Anh thốt lên, kinh ngạc nhìn chằm chằm vào khuôn mặt tái nhợt của chính mình trong chiếc gương trên tường, tỉnh táo hơn bình thường. "Chúa... ơi!"