Pamela, em yêu, em còn nhớ viên tướng không quân lục quân đã uống cạn một chai vodka rồi nhảy múa tưng bừng trong buổi tiệc chiêu đãi đoàn múa ba lê tại Moscow mà các em tổ chức không? Hiện giờ ông ta đang ở trong đơn vị của LeMay tại quần đảo Mariana. Anh đang viết lá thư này ngay tại văn phòng của ông ấy. Ngày mai ông ấy sẽ bay về Mỹ, đến đó có thể gửi thư đi giúp anh. Nếu không, có lẽ anh phải đánh điện cho em rồi. Anh dự định sẽ gặp em tại Washington chứ không phải San Diego, đồng thời anh còn có rất nhiều việc cần em giúp. Đại tá Williams, tùy viên hải quân của chúng ta tại London, là người giỏi xoay xở vé máy bay nhất. Hãy nói với ông ấy em là vị hôn thê của anh, ông ấy sẽ tìm cách đưa em đến Washington.
Nghe nói, chồng của Rhoda sẵn lòng cho anh thuê lại căn hộ mà ông ta đang bỏ trống. Như vậy sẽ đỡ phải để các luật sư đi thương lượng thêm nữa. Anh không bận tâm đến chuyện bồi thường tiền bạc, anh đã viết một lá thư cho luật sư của mình là Charlie Lyons, bảo ông ấy đừng dây dưa chuyện này nữa. Vì thế, cứ theo cái giá mà Peters đưa ra mà lấy căn nhà đó đi, giờ chúng ta có thể dọn vào căn hộ ở phố Connecticut rồi. Charlie sẽ lo liệu thủ tục thuê nhà, để em dọn vào; Peters cũng rất khách khí, muốn sửa sang lại căn nhà theo ý em.
Tin rằng chẳng bao lâu nữa anh có thể từ nhiệm. Cục nhân sự đang đẩy nhanh công tác luân chuyển nhân sự trên biển. Tình hình này giống như một trận bóng đá đã cầm chắc phần thắng đang đi vào hiệp cuối, để các cầu thủ dự bị ùa vào sân đá vài đường vậy. Anh dự định xin điều chuyển về Washington công tác, như thế chúng ta có thể ở bên nhau.
Tất cả những thứ anh có thể mang đi đều đã gửi ở đường Foxhall. Nếu không đoán sai tính khí của Rhoda, anh tin rằng cô ấy đã đóng thùng chúng lại để sang một bên rồi. Hãy chuyển tất cả đống đồ đó vào căn hộ đi. Ở đó không có chỗ cho anh bày sách; xem chừng Peters không phải là người thích đọc sách. Cứ để chúng trong thùng đi, anh dự định sẽ đi mua vài cái tủ sách.
Nhân tiện nhắc lại, Pam, ngay khi đến Washington, em hãy đến chỗ Charlie Lyons lấy tiền tiêu. Không cần phải từ chối, em không thể tiêu hết tiền của mình ở cái nơi vật giá đắt đỏ như Washington được. Hãy mua tất cả quần áo em cần. "Của hồi môn" có lẽ không phải là từ thích hợp, vậy thì cứ gọi nó là gì tùy ý, quần áo của em rất quan trọng. Nhiều năm nay, em luôn mặc quân phục và đồ du lịch.
Thôi được rồi, xem anh lại bắt đầu nói mấy chuyện này nữa. Trước đây em từng trách anh không nên cứ mãi nói chuyện tiền bạc trong thư. Anh không phải là tay lão luyện về mấy cái "trò yêu đương" (Wallen và Byron hồi nhỏ thường dùng cụm từ này để mô tả những cảnh lãng mạn trong phim cao bồi). Điểm này anh phải thừa nhận. Trò yêu đương này anh đúng là đã học lỏm từ em, phải không? Đó là vì, Pam à, khi anh đọc thơ tình của Keats, Shelley hay Heine, anh sẽ vô cùng xúc động, thậm chí nổi cả da gà, thế nhưng anh lại không thể diễn đạt được những tình cảm ấy, cũng giống như anh không thể xẻ một người phụ nữ làm đôi vậy. Anh không biết cái mẹo đó. Đợi đến khi đôi ta cùng cởi bỏ quần áo nằm trong chăn, lúc đó chúng ta có thể nói chuyện lần cuối về thứ tình cảm không thể diễn tả bằng lời của đàn ông Mỹ. (Em thấy thế nào?)
Anh đang đợi ăn cơm ở đây. LeMay mời anh đến dự tiệc. Vì chiếc "Iowa" hiện đang đại tu trong nước, nên chiếc "New Jersey" đã trở thành soái hạm của anh, tàu chúng ta vừa dừng lại đây để tiếp nhiên liệu. Đảo Tinian này là một hòn đảo đá cũ nằm ngoài khơi bờ biển phía nam đảo Saipan, là một sân bay ném bom do trời tạo. Sân bay này rộng đến mức đáng kinh ngạc, nghe nói nó là sân bay lớn nhất thế giới. Máy bay ném bom B-29 từ đây cất cánh, trút những quả bom cháy của chúng xuống đầu người Nhật.
Anh đang nảy sinh một cảm giác vừa hận vừa kính nể người Nhật. Anh từng chỉ huy hạm đội hỗn hợp oanh tạc đảo Iwo Jima. Lần đó do Đô đốc Spruance thống lĩnh, nên ông ấy giao cho anh vài nhiệm vụ. Anh chỉ huy tàu chiến, tàu tuần dương hạng nặng và tàu khu trục, liên tiếp nhiều ngày, dùng đại bác oanh tạc dữ dội hòn đảo nhỏ đó. Anh không tin là có một mét vuông nào không bị chúng ta phá hủy. Máy bay trên tàu sân bay cũng đi ném bom. Đợi đến khi xuồng đổ bộ cập bến, hòn đảo đã im lìm như một ngôi mộ. Thế nhưng sau đó, lạy Chúa, nếu người Nhật không từ dưới đất chui lên thì thật lạ, họ đã giết và làm bị thương hai mươi lăm nghìn lính thủy đánh bộ của chúng ta. Đó là trận chiến khốc liệt nhất toàn Thái Bình Dương. Tàu chiến của anh tiếp tục đánh mạnh vào họ, máy bay trên tàu sân bay cũng xuất kích, nhưng họ nhất quyết không chịu đầu hàng. Đợi đến khi chiếm được Iwo Jima, anh không tin trên đảo còn lại năm mươi người Nhật còn sống.
Ngay lúc này, những phi công tự sát của họ suýt chút nữa đã làm hạm đội đặc nhiệm của chúng ta hoảng sợ. Sĩ khí của hạm đội giảm sút nghiêm trọng. Thủy thủ vốn tưởng rằng họ đã thắng trận này, không ngờ lúc này lại gặp phải mối đe dọa như vậy. Báo chí của chúng ta đều chửi rủa những thành viên đội Thần Phong này, nói họ là kẻ cuồng loạn, là kẻ điên, là kẻ nghiện ma túy, đại loại như vậy. Đây đúng là nói nhảm. Chính những tờ báo này sau sự kiện Trân Châu Cảng đã rùm beng về huyền thoại của một phi công không quân lục quân tên là Colin Kelly, nói rằng anh ta đã lái máy bay lao vào ống khói một chiếc tàu chiến ngoài khơi đảo Luzon. Chuyện nhảm nhí về Colin Kelly trên báo chí từng gây xôn xao một thời. Thực ra, hoàn toàn không có chuyện đó. Kelly bị bắn hạ trong một lần làm nhiệm vụ ném bom. Trong số người Nhật ngược lại có vô số Colin Kelly thực sự. Phi công đội Thần Phong có thể là ngu xuẩn, bị lừa dối, và cuộc chiến này không thể do họ thắng được, nhưng người trẻ tuổi cam tâm tình nguyện tuẫn quốc như vậy, tự nhiên thể hiện một khí phách bi tráng, anh mang tâm trạng đau buồn tán thưởng nền văn hóa đã nuôi dưỡng nên những con người như họ, đồng thời lại tiếc cho chiến thuật lãng phí nhân lực và vô ích này.
Spruance vẫn đang cố gắng tuyên truyền sự cần thiết của việc chiếm đóng Iwo Jima, nhưng LeMay lại chủ trương mở một sân bay khẩn cấp trên đường tới Tokyo. Máy bay ném bom B-29 đang bay đi từng đàn, Fitzpatrick nói với anh rằng sau cuộc tấn công Iwo Jima, tổn thất máy bay đã giảm, và sĩ khí của không quân cũng đã hồi phục. Dù có đáng hay không, thì máu cũng đã đổ rồi.
Anh nhận lời mời của Fitz, lên bờ xem một lần xuất kích và vận hành quy mô lớn nhất của máy bay B-29. Pamela, đó là một cảnh tượng không thể diễn tả bằng lời: suốt nhiều giờ liền, loại máy bay khổng lồ này gầm thét bay vút đi. Lạy Chúa, các nhà máy Mỹ đã sản xuất ra bao nhiêu máy bay, quân đội đã huấn luyện ra những phi công xuất sắc biết bao! Fitzpatrick không ngừng nói về các cuộc không kích. Anh ta nói, cuộc không kích này suýt chút nữa đã tiêu diệt toàn bộ Tokyo, nơi đó là một biển lửa, tất cả những ngôi nhà hộp diêm rộng mấy dặm vuông đó đều sẽ bị thiêu rụi. Anh ta cho rằng, họ có lẽ đã chết năm trăm nghìn người.
Tất nhiên, những gã "chó săn" này sẽ phóng đại sự hỗn loạn mà họ gây ra, nhưng anh đã tận mắt chứng kiến sự xuất phát của đội bay không sợ hãi đó. Nó chắc chắn lại tạo ra một "cơn bão lửa" như ở Hamburg và Dresden. Anh nghe nói, cuộc ném bom bằng bom cháy quy mô lớn như vậy sẽ hút cạn oxy trong không khí, những người đó dù không bị thiêu chết thì cũng bị ngạt chết. Cho đến tận bây giờ, người Nhật vẫn chưa nhắc đến chuyện này, nhưng sớm muộn gì em cũng sẽ thấy nhiều bài báo về cuộc không kích này.
Trong phòng ăn sĩ quan này, anh đã xem vài tờ báo và tạp chí cũ mô tả cuộc không kích Dresden. Người Đức làm ầm ĩ lên. Thật tuyệt vời. Vì từng đến Liên Xô, nên anh có thể tưởng tượng ra Tiến sĩ Goebbels khóc lóc thảm thiết vì Dresden như thế nào, nhưng anh vẫn dửng dưng. Nếu người Nga có máy bay và phi công như chúng ta, họ sẽ oanh tạc các thành phố Đức như vậy mỗi tuần, cho đến khi chiến tranh kết thúc. Họ sẽ vui vẻ làm cái việc này, tuy nhiên, dù là vậy, nó cũng không bù đắp được một nửa những tổn thất vật chất và số dân thường chết do người Đức gây ra cho Liên Xô. Anh tin rằng, để trả thù, hoặc vì nghi ngờ du kích mà những đứa trẻ Nga bị treo cổ, còn nhiều hơn tổng số người chết trong các cuộc không kích của Đức. Chúa biết, anh thương xót những người phụ nữ và trẻ em bị cháy đen thành đống trong các bức ảnh tuyên truyền của Goebbels đến nhường nào, thế nhưng, chẳng có ai bảo người Đức phải nghe lời Hitler cả. Hitler cũng đâu phải là người cai trị hợp pháp. Ông ta chỉ là gã chỉ biết nói suông, nhưng người Đức lại thích nghe lời ông ta. Họ ủng hộ ông ta, họ khơi dậy một cơn bão lửa, mang đi tất cả bản tính lương thiện trong xã hội loài người. Nghĩ đến đứa con cao quý của mình, nó đã hy sinh để chống lại điều này. Tình hình này khiến tất cả chúng ta trở nên dã man. Hitler là kẻ đắc ý với hành vi dã man, ông ta coi dã man là một khẩu hiệu chiến đấu, và người Đức cũng hô vang "Victory vạn tuế". Họ tiếp tục bị lừa dối, dâng hiến mạng sống của mình cho ông ta, dâng hiến mạng sống của những người thân bất hạnh của mình. Vậy thì, anh hy vọng họ hãy vui vẻ vì sự thoi thóp của nguyên thủ mình đi.
Người Nhật đối xử với sự trừng phạt mà họ phải nhận dường như lại có thái độ khác. Họ hoàn toàn đáng đời với những gì đang gặp phải, nhưng xem ra họ lại hiểu rõ điều này. Lạy Chúa, hy vọng tất cả những hành vi thú tính tàn khốc này sớm kết thúc đi.
Pamela, em đã nghe Roosevelt phát biểu báo cáo về Hội nghị Yalta trên đài phát thanh trước Quốc hội chưa? Anh bị bài phát biểu đó làm cho hoảng sợ. Ông ấy nói năng mơ hồ, cứ kéo câu chuyện ra khỏi chủ đề, như thể ông ấy bị ốm, nếu không thì cũng là say rượu. Ông ấy xin lỗi vì phải ngồi nói chuyện, còn nhắc đến "đôi chân tôi nặng như chì". Trước đây anh chưa từng nghe ông ấy nhắc đến chứng bại liệt của mình. Hiện giờ, chỉ có một chuyện sẽ khiến cuộc chiến này xảy ra bước ngoặt, đó là ông ấy sẽ bệnh nặng không dậy nổi, hoặc không thể làm việc — Thôi được rồi, Tướng Fitzpatrick đến rồi. Đi ăn cơm đây. Vốn dĩ anh không ngờ lại kéo sang chuyện chiến tranh và chính trị, nhưng giờ không còn thời gian để nói chuyện yêu đương nữa, phải không? Em biết anh yêu em nhiều thế nào mà. Kể từ sau trận chiến Midway đó, anh cứ tưởng cuộc đời này đã kết thúc rồi. Ở một mức độ nào đó, em cũng có thể thấy, anh đúng là đã kết thúc rồi. Trong tác chiến anh chẳng qua chỉ là cái xác không hồn mà thôi. Giờ đây, anh lại sống lại rồi, hoặc là, đợi đến khi chúng ta ôm ấp nhau như vợ chồng, anh lại sắp sống lại rồi. Hẹn gặp ở Washington!
Chuyện yêu đương không bao giờ kể hết, Pug, ngày 15 tháng 3 năm 1945 tại San Francisco, Bưu điện quân đội Mỹ, Bộ tư lệnh Không quân lục quân số 8. Hạnh phúc hơn cả những gì cô tưởng tượng, nhưng lại rất xúc động, Pamela lúc này cứ nhìn ra ngoài cửa sổ đang mở xem những chiếc xe tải chuyển nhà chạy qua. Phía trước căn hộ cũ kỹ này, cây hoa mộc lan nở rộ một vùng, ngay cả trên tầng ba cũng ngửi thấy hương thơm của nó. Cơn gió thổi qua con phố ngập nắng, đối diện phố, trên sân trường, cạnh bồn hoa thủy tiên, lá cờ sao và sọc trên cột cờ bay phấp phới, thế là cây hoa anh đào đang nở rộ kia liền rụng những cánh hoa xuống bên cạnh lá cờ. Lại là Washington trong mùa xuân; nhưng, lần này sao mà khác biệt đến thế!
Cô vẫn cảm thấy mình như đang trong mơ. Trở lại thành phố phồn hoa xinh đẹp, từ đầu đến cuối chưa từng bị chiến tranh tàn phá này; đến giữa những người Mỹ no đủ, tấp nập này; mua sắm trang phục trong những cửa hàng chật ních quần áo đẹp; ăn những món ăn và trái cây mà nhiều năm nay không thấy ở London trong các quán rượu; không cần phải phiêu bạt khắp nơi theo người cha đáng thương của mình nữa; không cần phải lo lắng nước Anh sẽ sụp đổ; không cần phải cảm thấy khó chịu trong lòng vì tự trách, đau buồn hay u uất; trong lòng chỉ nghĩ đến việc kết hôn với Victor Henry! Căn hộ của Đại tá Peters, những căn phòng rộng rãi và cách trang trí mang phong cách nam tính của nó (ngoại trừ căn phòng ngủ màu hồng và vàng sặc sỡ kia, căn phòng đó chỉ có gái làng chơi mới thích), vẫn mang lại cho cô một cảm giác lạnh lẽo. Nó quá lớn, và hoàn toàn thuộc về một người lạ, bên trong không có lấy một chỗ nào liên quan đến Pug. Thế nhưng, hôm nay tất cả những điều này sẽ thay đổi.
Xe chuyển nhà đến. Hai người đàn ông mồ hôi nhễ nhại, hô hoán, khiêng vào những chiếc thùng, tủ hồ sơ, thùng hàng, vali, thùng giấy — phía sau còn có, còn nhiều đồ đạc hơn nữa. Phòng khách đã chật ních. Sau đó Rhoda đến, Pamela mới yên tâm. Trước đó, cô luôn sợ phải dọn dẹp đồ đạc của chồng cũ cùng vợ cũ của Pug, cô cảm thấy chuyện này rất khó xử. Nhưng giờ xem ra, để Rhoda đến giúp xử lý đống lộn xộn này, làm vậy vẫn là rất khôn ngoan. Bà Harrison Peters vui vẻ như một chú chim cổ đỏ, mặc một bộ đồ màu nhạt hơi giống đồ mặc dịp Lễ Phục sinh, đội mũ lụa lớn, che mạng, màu sắc đều phối hợp với găng tay và giày của bà. Bà nói lát nữa sẽ đi dự một buổi trà chiều gây quỹ từ thiện cho nhà thờ. Bà mang đến một bản danh sách các món đồ của Pug, dài đến mấy trang giấy, đều là đánh máy. Mỗi chiếc thùng đều đánh số, trong danh sách ghi rõ đồ đạc bên trong. "Số 7, số 8 và số 9 không cần mở đâu cưng, trong đó toàn là sách thôi. Đống sách đó dù em có bày biện thế nào, anh ấy cũng sẽ càu nhàu thôi. Còn nữa, để ta xem, số 3 và số 4 là quần áo mặc mùa đông — những bộ quần áo hoàn chỉnh, áo thể thao, áo khoác, loại này. Trong đó đều để băng phiến rồi. Đến tháng Chín, em đem phơi phóng, thu dọn sạch sẽ, là mặc được thôi. Tạm thời tốt nhất là xếp tất cả những thứ này vào căn phòng trống đó. Căn phòng đó đâu rồi?"
Pamela cảm thấy ngạc nhiên, đột nhiên hỏi: "Cô không biết sao?"
"Ở đây ta trước giờ chưa từng đến. Những thứ này, người trẻ tuổi, có vài thứ nhờ các anh chuyển giúp chúng tôi nhé."
Rhoda làm chủ, sai hai người đàn ông chuyển vài chiếc thùng qua, rồi mở những chiếc thùng đã đóng đinh và buộc chặt ra. Hai người đàn ông vừa đi, bà liền lấy chìa khóa ra mở thùng; rất hăng hái lấy quần áo của Pug ra, miệng luyên thuyên: anh ấy thích giặt áo sơ mi thế nào, anh ấy dùng loại nước giặt khô gì, v.v. Bà nói về Pug, có chút giống như người mẹ đang thu dọn hành lý cho đứa con trai trưởng thành sắp đi xa, cái vẻ thân thiết và giọng điệu coi anh là của riêng mình đó khiến Pamela vô cùng bất an. Khi Rhoda treo từng món quần áo của anh lên, luôn trìu mến vuốt ve chúng, còn nói những bộ quần áo này được may ở đâu, những bộ nào anh ấy thích, những bộ nào anh ấy hiếm khi mặc. Bà nhắc đến hai lần rằng số đo vòng eo của anh vẫn bằng với ngày họ kết hôn. Bà rất cẩn thận sắp xếp giày của anh vào tủ giày của Peters. "Em phải luôn nhét khuôn giày cho anh ấy đấy cưng. Anh ấy muốn giày của mình không được biến dạng chút nào. Nhưng anh ấy có chịu bỏ ra năm giây để nhét khuôn giày không? Không bao giờ. Anh ấy mới không làm chuyện đó đâu. Một khi rời khỏi hải quân, cưng à, em cứ nhìn mà xem, anh ấy hơi giống một giáo sư đại học ngẩn ngơ đấy. Em sẽ không bao giờ nghĩ Pug Henry là như thế, phải không?"
"Rhoda, thật sự, những việc còn lại em tự làm được. Em rất biết ơn —"
"Ồ? Vậy thì, được rồi, còn thùng số 15 nữa. Chúng ta cùng dọn dẹp đi. Em xem, đúng như tục ngữ nói, lọc cá tươi từ lưng rất khó. Có vài thứ, chỉ có thể là của chung giữa ta và Pug. Trong hai chúng ta, cuối cùng luôn có một người không thể chia được chúng. Đây là chuyện không còn cách nào khác. Như mấy tấm ảnh, kỷ vật, loại này. Ta đã chọn lọc rồi. Trong số những thứ ta để lại, Pug lấy cái gì cũng được. Ta có thể nhặt những thứ anh ấy không cần. Không còn gì công bằng hơn ta nữa, phải không?" Rhoda cười tươi với cô.
"Tất nhiên, không thể công bằng hơn," Pamela nói, sau đó cô lại đổi chủ đề, "Xem này, có một chuyện em không hiểu lắm. Ý cô là, trước đây chưa từng đến đây sao?"
"Chưa từng đến."
"Tại sao không đến?"
"Chuyện này, cưng à, trước khi kết hôn với Hack, ta chưa từng mơ tới việc đến cái tổ của gã độc thân này. Làm vậy sẽ giống như vợ của Caesar hay gì đó. Sau đó, ừm —" Rhoda bĩu môi, lúc này đột nhiên trở nên thô tục và già nua hơn, lộ ra vẻ chán chường — "Ta quyết định không bao giờ đi hỏi chuyện anh ấy từng làm ở đây nữa. Cần ta mô tả cho em không?"
Nhớ lại để ký hợp đồng trao đổi nhà và căn hộ đó, trong một cuộc họp rất ngắn nhưng gây cảm giác rất khó chịu tại văn phòng luật sư — Pamela theo yêu cầu của luật sư Pug đã đến tham dự, cũng chính trong cuộc họp đó, Rhoda tự nguyện đến giúp cô chuyển nhà — Rhoda cũng từng có vẻ mặt như thế này, lần đó là vì Peters rất khinh miệt buột miệng đáp trả một câu của bà. "Không, em nghĩ không cần đâu."
"Được rồi. Vậy thì cùng lật thùng số 15 ra xem, được không? Xem cái này này."
Rhoda rút ra từng cuốn album ảnh cho cô xem, trong đó có những bức ảnh toàn là trẻ con, có những bức là ngôi nhà nhà họ Henry từng ở trước đây, có những bức là đi dã ngoại, khiêu vũ, tiệc tùng, có những bức là tàu chiến Pug từng phục vụ, là Rhoda chụp cùng anh trên đó, có bức đứng dưới nắng cạnh bệ pháo. Có bức đứng trên đài chỉ huy, có bức đi dạo trên boong tàu, hoặc là ở cùng chỉ huy. Còn có ảnh hai vợ chồng lồng trong khung — có ảnh trẻ tuổi, có ảnh không trẻ lắm, có ảnh trung niên, nhưng vẻ mặt đều rất thân mật và hạnh phúc; Pug trong ảnh, thường là nhìn Rhoda với vẻ vừa yêu chiều vừa cảm thấy thú vị, trông giống như một người chồng ân cần chu đáo, biết rõ điểm yếu của vợ mình nhưng vẫn yêu bà. Pamela trước đây chưa bao giờ cảm nhận được như bây giờ: cô là một người vợ trẻ xen ngang vào cuộc sống tuổi già của Victor Henry, bất kể Henry sống cùng ai, gọi ai là vợ, nhưng trọng tâm cuộc sống của ông mãi mãi đặt trên người phụ nữ này.
"Ví dụ như cuốn này chẳng hạn," Rhoda nói, đặt cuốn album ảnh bọc da của Wallen lên một chiếc thùng, lật từng trang. "Nói thật với em, về cuốn này ta thật khó đưa ra quyết định. Trước đây ta tất nhiên không nghĩ đến việc chia những bức ảnh này làm hai phần; có lẽ Pug sẽ đau lòng. Chuyện này ta không biết. Ta thích cuốn album này. Vốn dĩ ta dán cho anh ấy, nhưng anh ấy chẳng nhắc đến một lời." Ánh mắt lạnh lùng sáng quắc của Rhoda liếc nhìn Pamela một cái. "Đôi khi em sẽ phát hiện, con người anh ấy khó đoán lắm. Có lẽ, em đã phát hiện ra rồi nhỉ?" Bà cẩn thận đóng cuốn album lại. "Được rồi, cứ thế đi. Nếu Pug muốn, anh ấy có thể lấy đi."
"Rhoda," Pamela cảm thấy câu này không dễ nói ra, "Em nghĩ anh ấy sẽ không muốn cô từ bỏ những thứ này đâu, hơn nữa —"
"Ồ, còn nữa, còn nhiều lắm. Ta có phần của riêng mình. Ba mươi năm nay, sưu tầm được bao nhiêu là thứ. Em tuyệt đối không cần nhắc đến những thứ ta từ bỏ đâu, cưng à. Vậy đi, giờ chúng ta cùng xem cái tổ cũ của Hack nhé, được không? Làm xong chuyện này, ta phải đi chơi đây. Em có căn bếp ra hồn không?"
"Căn bếp rất tuyệt," Pamela vội vàng nói. "Đi lối này."
"Em chắc chắn sẽ chê nó bẩn cho xem."
"Ừm, em đúng là cần phải cọ rửa nó một chút." Pamela cười gượng gạo. "Đàn ông độc thân mà, cô biết đấy."
"Là đàn ông, cưng à. Nhưng, lục quân và hải quân rốt cuộc vẫn có vài chỗ khác nhau. Ta phát hiện ra điều đó." Pamela dẫn đường cho Rhoda, cố gắng đi lặng lẽ qua căn phòng màu hồng và vàng đang đóng chặt cửa, nhưng Rhoda đẩy cửa bước vào. "Ồ, lạy Chúa. Là một nhà thổ kiểu mới à."
"Hơi sặc sỡ một chút, phải không?" "Thật khiến người ta buồn nôn. Sao em không bảo Hack, sửa sang lại đi?"
"Ồ, thôi cứ khóa nó lại cho đỡ phiền. Em không cần đến nó."
Toàn bộ một bức tường, lắp toàn gương có thể đẩy ngang qua, phía sau gương là một dãy tủ tường dài. Hai người phụ nữ đứng cạnh nhau nhìn vào gương, đối diện với hình bóng trong gương mà nói chuyện: Rhoda diện bộ đồ xuân thanh lịch, Pamela là một chiếc áo khoác đơn giản và một chiếc váy suông. Nhìn vào Pamela trông giống như con gái của Rhoda vậy.
Em không cần đến nó, đây có lẽ là một câu nói buột miệng của Pamela, có lẽ cô thực sự có suy nghĩ như vậy. Nhưng Rhoda lại không nói gì. Hai người họ nhìn nhau trong gương. Sự im lặng kéo dài. Thời gian trôi qua từng giây, thế là câu nói này càng trở nên nghiêm túc, cũng càng trở nên vụng về. Trong phòng của Pug chỉ có một chiếc giường đôi. Lời thú nhận ngây thơ này, có thể được suy diễn thành ý nghĩa sau đây, và thực sự là lời nói thật: Em muốn ngủ cùng Pug, sống cùng anh ấy trong căn phòng đó. Ở đó có đủ tủ tường cho cả hai chúng ta... Em không cần thêm một căn phòng nào khác. Em quá yêu anh ấy. Em muốn ở bên cạnh anh ấy.
Miệng La Đạt méo xệch sang một bên. Trong gương, ánh mắt cô lộ vẻ lạnh lùng và ưu sầu, từ gương mặt của Phàm Mễ Lạp, cô quay sang nhìn căn phòng lòe loẹt kia. "Tôi nghĩ cô sẽ không cần đến nó đâu. Tôi và Cáp Khắc ở hai phòng riêng biệt, khá là tiện lợi, nhưng xem kìa, tôi lại nói lan man rồi phải không? Được rồi, xem còn việc gì cần làm nữa nào?"
Trở lại phòng khách, cô nhìn ra ngoài cửa sổ rồi nói: "Phía này của các cô hướng về phía Nam. Thật thoải mái. Một cây mộc lan đẹp làm sao! Những căn hộ kiểu cũ này là tốt nhất. Cái sân chơi của trường học kia không quá ồn ào chứ? Tất nhiên, giờ này là lúc tan học rồi."
"Tôi không để ý lắm."
"Cô có biết tại sao họ lại treo cờ rủ không?"
"Vậy sao? Đúng là thế thật. Nửa tiếng trước vẫn chưa có chuyện đó."
"Thật ư?" La Đạt nhíu mày nói, "Có lẽ, là chuyện gì đó liên quan đến chiến tranh chăng?"
Phàm Mễ Lạp nói: "Để tôi đi mở đài."
Chiếc đài bắt đầu nóng lên, phát ra tiếng léo nhéo, đó là quảng cáo cho nhãn hiệu thuốc lá Hồng Vận. Phàm Mễ Lạp chuyển sang một đài khác.
"... Đại pháp quan Tư Thông hiện đang tới Nhà Trắng," giọng nói mềm mại dễ nghe cùng điệu bộ chuyên nghiệp của phát thanh viên lộ rõ vẻ cảm xúc chân thành, "chủ trì lễ tuyên thệ nhậm chức của Phó Tổng thống Harry Truman. Phu nhân Roosevelt sắp bay tới suối nước nóng ở bang Georgia..."
"Lạy Chúa, đây là đang nói về Tổng thống đấy," La Đạt kinh ngạc nói. Cô đưa một tay lên đỡ trán, làm chiếc mũ bị lệch sang một bên.
Bản tin rất ngắn gọn. Tổng thống đột ngột qua đời vì đột quỵ tại biệt thự nghỉ dưỡng của ông ở bang Georgia. Tất cả diễn biến chỉ có vậy. Những lời phát thanh viên nói mãi không dứt sau đó đều liên quan đến phản ứng tại Washington. La Đạt ra hiệu cho Phàm Mễ Lạp tắt đài. Cô ngồi sụp xuống một chiếc ghế bành, đôi mắt trân trân nhìn thẳng. "Franklin Roosevelt chết rồi, ôi chao, xem ra thế giới này tận rồi." Giọng cô khàn đặc. "Tôi đã từng gặp ông ấy. Tôi đến Nhà Trắng dự tiệc, ngồi cạnh ông ấy. Ông ấy là một người thú vị biết bao! Cô có biết ông ấy đã nói gì với tôi không? Cả đời này tôi sẽ không bao giờ quên những lời đó. Ông ấy nói: 'Chẳng có mấy người xứng đáng cưới được người vợ xinh đẹp như cô đâu, La Đạt, nhưng Cáp Cách thì xứng đáng.' Đó là những gì ông ấy đã nói. Cô biết đấy, nói những lời như vậy chỉ là để làm tôi vui thôi. Thế nhưng, ông ấy quả thực đã nhìn tôi như thể thực sự nghĩ như vậy. Chết rồi! Roosevelt! Thế còn cuộc chiến này thì sao? Truman là một kẻ chẳng có uy tín gì cả. Ôi, đúng là một cơn ác mộng!"
"Thật kinh khủng," Phàm Mễ Lạp nói, cô nhanh chóng xem xét lại chiến lược toàn cầu để xác định liệu chuyện này có làm trì hoãn ngày Cáp Cách trở về Washington hay không.
"Cáp Khắc nói, anh ấy vẫn còn để lại một ít rượu ở đây," La Đạt nói.
"Có rất nhiều rượu."
"Chà, cô biết tại sao không? Tôi sẽ không đi tham dự cái hội nghị đó đâu. Cho tôi uống vài ly rượu Whisky nguyên chất cho thỏa thích được không, cưng? Uống xong, tôi sẽ về nhà."
Phàm Mễ Lạp rót rượu trong bếp thì nghe thấy tiếng khóc. Cô vội vã quay lại phòng khách. La Đạt đang ngồi giữa mấy cái thùng rỗng, nước mắt tuôn rơi, chiếc mũ lệch sang một bên, cuốn album ảnh của Hoa Luân đang mở ra trên đầu gối cô. "Thế giới này tận rồi," cô đau lòng nói. "Nó tận rồi."