Chiến Tranh và Hồi Ức (1941–1945)

Lượt đọc: 342 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 50

❊ ❊ ❊

Tháng 9 năm 1941, khi Victor Henry rời khỏi đất nước, trong nước vẫn là một khung cảnh thái bình. Mặc dù luận điệu "kho vũ khí dân chủ" cũng khá xôn xao, nhưng giữa những người theo chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa can thiệp vẫn tranh cãi gay gắt, sản xuất quân nhu chẳng qua chỉ là một dòng suối nhỏ. Giới quân sự nơm nớp lo sợ nhìn Quốc hội thông qua dự luật gia hạn nghĩa vụ quân sự với đa số chỉ một phiếu bầu. Khi đó, đây vẫn là một quốc gia không có phân phối định lượng. Chi phí quốc phòng tạo ra sự thịnh vượng cho giới công nghiệp, từ bờ Đông sang bờ Tây, đèn đuốc sáng trưng về đêm, những con đường cao tốc dài dằng dặc và đường phố đô thị vẫn tấp nập xe cộ như dòng nước đổ về ngàn khe.

Giờ đây ông đã trở về. Nhìn từ máy bay xuống, San Francisco đã là một khung cảnh thời chiến: những cây cầu không ánh đèn lộ ra cái bóng ủ rũ dưới ánh trăng tròn, những con đường vắng bóng người trải dài như những dải lụa xám trắng, trên núi dưới đồi ở khu dân cư đều không thấy ánh đèn, những tòa nhà cao tầng ở trung tâm thành phố đen kịt một màu. Trên những con phố u tối tĩnh mịch, trong những sảnh khách sạn đèn điện rực rỡ, đâu đâu cũng là những đám đông mặc quân phục, điều này khiến ông hết sức kinh ngạc. Ngay cả Berlin của Hitler cũng chẳng giống một thế giới quân nhân như thế này.

Ngày hôm sau, trên chuyến bay đến miền Đông, những tờ báo và tạp chí ông đọc đều phản ánh sự thay đổi này. Các cột quảng cáo tràn ngập tinh thần yêu nước thượng võ. Nếu không phải là những thợ tán đinh, thợ mỏ hay người lính đầy vẻ uy vũ cùng người tình của họ, thì cũng là những gã Nhật Bản nhe răng cười, những con rắn độc để ria mép kiểu Hitler, hoặc những con lợn béo mặt mũi ủ rũ giống Mussolini đang bị đánh đập. Các cột tin tức và bài bình luận thời sự cuối năm tràn đầy sự tự tin lâng lâng, tại Stalingrad và Bắc Phi, cục diện chiến tranh đã xoay chuyển. Thái Bình Dương chỉ được nhắc qua loa. Có lẽ phải trách Hải quân giữ miệng như bưng, khi nhắc đến trận Midway và đảo Guadalcanal, hoàn toàn không nói đến quy mô của hai trận đánh này. Pug hiểu rằng, dù có công bố tin tức tàu "Northampton" bị đánh chìm, cũng sẽ chẳng có ai chú ý. Tai họa này trong cuộc đời ông, làm mất đi một chiến hạm khổng lồ, đã bôi lên một vệt ố trên bức tranh đầy không khí lạc quan.

Sự thay đổi đến quá đột ngột! Những ngày gần đây, cuộc chiến vượt đảo trên Thái Bình Dương đã bắt đầu. Những gì ông thấy trên máy bay và phòng chờ vẫn là những cuốn tạp chí cũ nát từ mấy tháng trước. Chúng đều đồng thanh than thở sự trì trệ của nỗ lực chiến tranh của quân Đồng minh, kỵ binh thép của Đức tiến sâu vào vùng núi Caucasus, sự xáo trộn thân phe Trục ở Ấn Độ, Nam Mỹ và các quốc gia Ả Rập, bước tiến của Nhật Bản tại Miến Điện và Tây Nam Thái Bình Dương. Vẫn là những tạp chí đó, giờ đây lại đồng thanh reo hò sự sụp đổ tất yếu của Hitler và đồng bọn tội ác. Pug cảm thấy, sự thay đổi trong tâm lý quần chúng này sao mà phù phiếm. Ngay cả khi sự chuyển biến chiến lược sắp đến gần, những trận đánh ác liệt trên chiến trường vẫn còn ở phía sau. Mỹ mới chỉ bắt đầu có người chết. Đối với gia đình quân nhân, nếu không phải đối với các cây bút bình luận, thì đây không phải là chuyện nhỏ. Ông đã gọi điện cho Rhoda từ San Francisco, cô nói không nhận được tin tức gì của Byron. Thời chiến mà không có tin tức, đặc biệt là không có tin tức về một đứa con trai đang phục vụ trên tàu ngầm, thì chưa chắc đã là tin tốt.

Máy bay xóc nảy bay trên bầu trời mùa đông xám xịt, Pug lặp đi lặp lại suy nghĩ về mệnh lệnh yêu cầu ông báo cáo với Cục Nhân sự cũng như cuộc trò chuyện lần đó với Spruance. Digg Brown là người phụ trách việc bổ nhiệm chức vụ cho sĩ quan cấp đại tá tại Cục Nhân sự, là bạn học cùng khóa với ông tại Học viện Hải quân. Khả năng học ngoại ngữ của Brown rất kém, trong suốt ba năm ở trường quân sự, Pug đã giúp ông ta luyện tiếng Đức, giúp ông ta thi đạt điểm cao, từ đó nâng cao thứ hạng trong lớp, sự nghiệp cả đời ông ta cũng nhờ đó mà được hưởng lợi không ít. Pug hy vọng sẽ được điều trở lại Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương mà không gặp trở ngại gì, vì hiện tại trong Hải quân không ai có tiếng nói trọng lượng hơn Nimitz và Spruance; nếu chẳng may gặp phải sự đùn đẩy quan liêu, ông còn chuẩn bị sẵn sàng để đường hoàng đi tìm Brown, nói cho ông ta biết yêu cầu của mình. Người anh em này không thể từ chối ông.

Đối xử với Rhoda thế nào đây? Trong khoảnh khắc gặp mặt, ông nên nói gì? Cử chỉ nên ra sao? Trong suốt chặng đường bay nửa vòng trái đất, ông đã luôn khổ sở suy nghĩ về những vấn đề này, và giờ đây chúng vẫn đang ám ảnh ông.

Trong sảnh bằng đá cẩm thạch đen của ngôi nhà lớn trên đường Foxhall, Rhoda ngã vào vòng tay Pug mà khóc. Những bông tuyết dính trên chiếc áo khoác sĩ quan hải quân cồng kềnh của ông, cái ôm của ông có chút vướng víu, nhưng Rhoda lại tựa chặt vào lớp vải len xanh lạnh lẽo ẩm ướt và những chiếc cúc đồng nổi cộm, nức nở phân trần: "Xin lỗi, ồ, xin lỗi anh, Pug. Em không cố ý muốn khóc, thật đấy, em không cố ý. Thấy anh em mừng đến chết mất. Xin lỗi anh, cưng! Xin lỗi vì em đã trở thành một đứa mít ướt thế này."

"Đừng buồn, Ro. Mọi chuyện đều ổn cả."

Trong khoảnh khắc tràn đầy dịu dàng sau bao ngày xa cách, Pug quả thực cảm thấy có lẽ mọi chuyện sẽ ổn. Cô tựa vào lòng ông, ông chỉ cảm thấy thân hình cô mềm mại ấm áp. Trong suốt những năm tháng dài kể từ khi họ kết hôn, ông chỉ thấy vợ khóc vài lần; mặc dù cô có nhiều điểm phù phiếm nông cạn, nhưng lại có tính tự kiềm chế nỗi đau. Cô ôm chặt lấy Pug, giống như một đứa trẻ tìm kiếm sự an ủi, đôi mắt đẫm lệ long lanh tỏa sáng. "Ái chà, chết tiệt, thật chết tiệt. Em vốn định dùng nụ cười và rượu Martini để đón anh. Giờ có ly Martini có lẽ vị sẽ đặc biệt ngon hơn, phải không?"

"Giữa trưa mà đã uống rượu sao? Được thôi, có lẽ còn ngon hơn đấy." Ông ném áo khoác và mũ lên ghế. Rhoda nắm tay ông dẫn vào phòng khách, ngọn lửa trong lò sưởi đang nhảy múa, những món đồ trang trí trên cây thông Noel khổng lồ lấp lánh, khiến căn phòng tràn ngập không khí lễ hội thời thơ ấu và niềm vui gia đình.

Ông nắm lấy đôi tay cô. "Để anh nhìn em cho kỹ nào."

"Madeline sẽ đến đây đón Giáng sinh, anh biết đấy," cô lải nhải, "không có người giúp việc nào hỗ trợ, em nghĩ thôi thì cứ mua cây thông sớm, trang trí cho xong cái thứ phiền phức này. Hơn nữa—thôi, thôi, vẫn là nói chuyện chính sự đi." Cô không quyết định được, cười khúc khích, rút tay về, "Chuyến kiểm tra của vị hạm trưởng này làm em khó xử quá. Anh thấy con tàu nát này thế nào?"

Pug nhìn như thể đang đánh giá vợ của người khác. Làn da của Rhoda mềm mại trong trẻo, hầu như không nhìn thấy nếp nhăn. Cô mặc chiếc áo dệt kim bó sát này, dáng người vẫn tràn đầy sức sống như trước; nếu có gì thay đổi, chỉ là gầy đi một chút. Gân cốt cô lộ ra. Hành động và tư thế của cô vẫn nhẹ nhàng, quyến rũ, kiều diễm. Khi cô nói đến "khó xử", cô tinh nghịch xòe mười ngón tay ra trước mặt ông, không khỏi khiến ông nhớ đến vẻ quyến rũ tinh quái của cô trong những lần hẹn hò đầu tiên.

"Em thật xinh đẹp."

Tông giọng khen ngợi này khiến mặt cô lập tức bừng sáng. Giọng cô hơi khàn nhưng âm điệu rất cuốn hút. "Anh thích nói vậy nhỉ. Anh mới là người thật oai phong! Chỉ là tóc hơi bạc đi một chút, ông già ạ, mà vẫn thật đáng yêu."

Ông đi đến bên lò sưởi, đưa hai tay ra. "Thật thoải mái."

"Ồ, những ngày này lòng yêu nước của em cao lắm đấy. Còn có hành động thực tế nữa. Dầu diesel là một vấn đề. Em đã hạ thấp nhiệt độ của máy điều nhiệt, tắt hầu hết các phòng, cố gắng đốt củi. Tại sao không gọi cho em một cuộc điện thoại từ sân bay? Anh thật là đồ hư hỏng! Làm em cứ như một con báo, đi lại trong nhà."

"Các bốt điện thoại công cộng đều chật kín người."

"Chẳng phải sao, điện thoại làm em rối bời suốt cả giờ, nó cứ reo không ngừng. Gã Slote đó gọi từ Bộ Ngoại giao; anh ta từ Thụy Sĩ về rồi."

"Slote! Có tin tức gì của Natalie không? Của Byron không?"

"Anh ta bận lắm. Lát nữa sẽ gọi lại. Natalie hình như đang ở Lộ Đức (Lourdes), và—"

"Cái gì? Pháp ư? Sao nó lại đến được Lộ Đức?"

"Nó ở cùng với những nhà ngoại giao và phóng viên bị giam giữ của chúng ta. Về tình hình của nó, anh ta chỉ nói có vậy. Byron đã đến Lisbon, tìm cách tìm phương tiện để quay về, đó là tin tức cuối cùng Slote nghe được. Nó đã nhận được mệnh lệnh, phải lên một chiếc tàu ngầm mới đóng."

"Tuyệt quá! Còn lũ trẻ thì sao?"

"Slote không nói. Em đã mời anh ta đến ăn tối. Anh còn nhớ Sim Anderson không? Anh ta cũng gọi điện. Chuông điện thoại cứ reo mãi."

"Cậu học viên hải quân đó hả? Chính là cái gã làm tôi chạy đông chạy tây trên sân tennis, khiến Madeline đứng bên cạnh vừa vỗ tay vừa cười đó, phải không?"

"Anh ta giờ là thiếu tá hải quân rồi! Anh thấy thế nào, Pug? Em dám cá, bây giờ chỉ cần là đứa trẻ mới cai sữa cũng có thể làm thiếu tá hải quân. Anh ta đã hỏi số điện thoại của Madeline ở New York."

Pug nhìn chăm chăm vào ngọn lửa nói: "Nó về cùng với thằng nhãi Cleveland đó, phải không?"

"Cưng à, em đã gặp ông Cleveland ở Hollywood. Người này cũng không tệ." Cô thấy sắc mặt chồng không vui, lời nói liền có chút ấp úng. "Hơn nữa, công việc của con bé cũng rất thú vị! Con bé kiếm được nhiều tiền lắm!" Ánh lửa trong lò sưởi đổ những cái bóng thô kệch, chập chờn trên khuôn mặt Victor Henry. Rhoda bước đến bên ông. "Cưng à, ly rượu đó sao rồi? Thật lòng là em run hết cả người rồi đây."

Ông vòng một cánh tay ôm lấy eo cô, hôn lên má cô. "Còn phải nói. Để anh gọi cho Digg Brown một cuộc, hỏi xem rốt cuộc tại sao lại ưu tiên cho anh bay đến đây bằng đường hàng không."

"Ừm, Pug, anh ta chỉ bảo anh gọi cho Nhà Trắng thôi. Hay là chúng ta cứ giả vờ như máy bay anh đến muộn đi—sao vậy? Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, tim của em?"

"Chẳng phải sao, đúng rồi," cô lập tức lấy tay che miệng, "Ái chà, lạy Chúa! Lucy Brown sẽ chặt đầu em mất. Cô ấy bắt em thề phải giữ bí mật, nhưng em cứ tưởng anh đã biết rồi chứ."

"Biết cái gì?" Giọng ông thay đổi. Giống như đang nói chuyện với một nhân viên quân nhu. "Rhoda, nói cho anh biết rốt cuộc Lucy Brown đã nói gì với em? Nói khi nào?"

"Trời đất! Được rồi—hình như là nói, Nhà Trắng lệnh cho Cục Nhân sự lập tức triệu tập anh về đây, khẩn cấp lắm. Chuyện này từ đầu tháng 11, còn trước cả khi anh mất tàu 'Northampton', Pug. Em chỉ biết có vậy thôi. Ngay cả bản thân Digg cũng chỉ biết chừng đó."

Pug đi đến bên điện thoại, quay số. "Mau đi pha rượu đi."

"Cưng à, đừng để lộ chuyện Lucy nói với em nhé. Anh ta sẽ nướng cô ấy trên lửa nhỏ mất."

Tổng đài của Bộ Hải quân mãi không trả lời. Victor Henry đứng một mình trong phòng khách rộng rãi, từ từ hồi phục sau cú sốc. Nhà Trắng đối với ông, cũng như đối với bất kỳ người Mỹ nào, là một từ ngữ có ma lực, nhưng ông đã sớm dần thấu hiểu cái dư vị chua chát của việc phục vụ Tổng thống. Franklin Roosevelt đối xử với ông chẳng khác nào một cây bút chì mượn tạm, dùng xong là thôi; tống khứ ông đi chỉ huy con tàu xui xẻo "California", thủ đoạn chính trị cả đấy! Victor Henry không có lời oán trách nào đối với Tổng thống. Dù ở bên cạnh ông ta hay không, Victor Henry đối với vị lão què mưu mô thâm sâu này vẫn giữ lòng kính sợ. Nhưng ông quyết tâm bằng mọi giá phải từ chối bất kỳ nhiệm vụ nào mà Tổng thống giao cho mình lần nữa. Làm tùy tùng cho nhân vật lớn, chuyên đi làm việc vặt trên đất liền, chỉ có thể hủy hoại sự nghiệp cả đời của ông. Ông phải trở lại Thái Bình Dương.

Digg không có ở đó. Pug đi đến trước lò sưởi, đứng quay lưng lại ngọn lửa. Ông cảm thấy không thoải mái ở đây, nhưng trong căn nhà nhỏ tồi tàn của Janice, ông lại cảm thấy rất thoải mái. Sao lại thế nhỉ? Trước khi đi Moscow, ông đã ở căn nhà này chưa đầy ba tháng. Căn nhà này lớn quá! Lúc đó sao họ lại nghĩ đến việc mua một căn nhà lớn như vậy chứ? Ông lại một lần nữa đồng ý để cô rút ra một phần tiền ủy thác của riêng mình để dùng vào việc này, vì cuộc sống xa hoa mà cô muốn không nằm trong khả năng của ông. Sai rồi, sai rồi. Lúc đó còn bàn đến việc đón tiếp nhiều cháu trai cháu gái. Thật không dám nhìn lại! Trong tháng 12 băng giá này, trong căn phòng tỏa ra không khí Giáng sinh, tại sao đồ đạc vẫn còn bọc vải mùa hè? Ông vốn chẳng thích họa tiết hoa lá tầm thường trên vải in hoa xanh. Mặc dù cảm thấy ngọn lửa sưởi ấm chiếc áo khoác của mình, nhưng cái lạnh trong phòng dường như vẫn xâm nhập vào tận tủy xương ông. Phục vụ ở vùng nhiệt đới sẽ làm máu loãng đi, điều này có lẽ là thật. Nhưng trong ký ức của ông, trước đây cũng là từ Thái Bình Dương trở về, lại không lạnh thấu xương như bây giờ.

"Rượu Martini đến rồi," Rhoda nói lớn, bưng một cái khay kêu lanh canh bước vào, "Digg nói sao?"

"Anh ta không có ở đó."

Ngụm rượu đầu tiên Pug uống, chạy nóng rát xuống cổ họng. Đã mấy tháng rồi ông không biết đến mùi rượu; sau khi Warren chết, thân tâm ông đều rơi vào trạng thái tê liệt, từ lúc đó đến nay ông không uống một giọt nào. "Rất ngon," ông nói, nhưng trong lòng lại hối hận vì đã đồng ý uống Martini. Ông phải giữ tỉnh táo để đến Cục Nhân sự. Rhoda mang đến cho ông một đĩa sandwich không đậy nắp, ông tỏ ra giọng điệu nhiệt tình: "Hay quá, trứng cá tầm! Em thực sự cưng chiều anh, phải không?"

"Anh không nhớ sao," nụ cười của cô là sự tán tỉnh táo bạo lộ liễu, "Là anh mang từ Moscow về đấy. Một vị đại tá lục quân đã mang cho em sáu hộp, còn có cả mẩu giấy này của anh nữa."

Trên một tờ giấy Nga tồi tàn viết những dòng chữ nguệch ngoạc: "Để dành cho ngày chúng ta đoàn tụ, chuẩn bị sẵn rượu Martini, trứng cá tầm, nhóm sẵn lò sưởi, và... đặc biệt là... nữa! Yêu anh. Pug."

Giờ ông đã nhớ ra tất cả: Vẫn là buổi chiều hân hoan mấy tháng trước khi sự kiện Trân Châu Cảng bùng nổ, Harriman và đoàn tùy tùng mua đồ trong một cửa hàng khách sạn còn mở cửa ở khách sạn Quốc gia. Lúc đó Pamela chê bai tất cả các loại khăn choàng và áo khoác. Cô ấy từng nói, một người phụ nữ thanh lịch như Rhoda mà mặc những thứ tầm thường này thì chẳng phải là kệch cỡm sao. Những chiếc mũ lông đó hình như đều được làm cho những người phụ nữ khổng lồ. Vì vậy ông đã mua số trứng cá tầm này, và vội vàng viết mẩu giấy điên rồ đó.

"Ồ, trứng cá tầm này thực sự không tệ, không chê vào đâu được."

Sự nhiệt tình lộ ra nơi đuôi mắt lông mày của Rhoda thật gợi tình. Khung cảnh như vậy cũng đã nhiều lần hiện lên trong tâm trí Victor Henry: Vị hạm trưởng trải qua trăm trận trên biển trở về nhà, Odysseus và Penelope cùng nhau bước vào phòng ngủ. Giọng cô êm tai quyến rũ. "Anh trông như mấy ngày không ngủ rồi."

"Không đến nỗi đó," ông dùng hai tay xoa mắt, "hành trình quá dài."

"Lần nào anh chẳng đi xa trở về! Trong mắt anh, nước Mỹ đáng yêu đã biến thành bộ dạng gì rồi, Pug?"

"Khác hẳn rồi, nhìn từ máy bay vào ban đêm càng khác. Bờ Tây hoàn toàn giới nghiêm. Đến nội địa mới bắt đầu thấy ánh đèn. Chicago vẫn đèn đuốc huy hoàng như thường lệ. Qua Cleveland, ánh đèn bắt đầu mờ dần, đến Washington, lại là một màu đen kịt."

"Ái chà, phân tầng rõ rệt thật! Bây giờ chuyện gì cũng chẳng đâu vào đâu. Thiếu hụt vật tư đã đến mức hỗn loạn, người ta bàn tán xôn xao về việc phân phối! Lúc có, lúc không! Thật làm người ta chóng mặt. Bây giờ lại rộ lên phong trào tích trữ, Pug. Ôi chà, nhìn họ khoe khoang mình thông minh thế nào, tích trữ lốp xe, thịt, đường và dầu nhiên liệu, em kể không xuể. Đúng là, chúng ta là một dân tộc hư hỏng như lợn vậy."

"Rhoda, tốt nhất đừng kỳ vọng quá cao vào bản chất con người."

Câu nói này khiến vợ ông nghẹn lời, sắc mặt bối rối, không biết nói gì, sau đó cô đặt một bàn tay lên tay ông. "Cưng à, anh có muốn nói về tàu 'Northampton' không?"

"Chúng tôi bị ngư lôi bắn trúng, chìm rồi."

"Nghe Lucy nói, hầu hết sĩ quan và thủy thủ đoàn đều được cứu."

"Jim Griggs đã làm rất xuất sắc. Nhưng, số người chúng ta mất vẫn là quá nhiều."

"Anh tự mình thoát chết là may mắn nhỉ?"

Trên mặt cô hiện lên vẻ khao khát và mong đợi, nhưng Pug không có cử chỉ động lòng, vì ông không cảm thấy có ham muốn ân ái. Ông bắt đầu kể lại quá trình con tàu của mình gặp nạn. Ông đứng dậy chậm rãi đi lại, sau khi mở đầu xong, lời nói của ông trở nên trôi chảy tự nhiên. Sự kịch tính của đêm kinh hoàng đó lại trào dâng trong lòng. Rhoda mắt trong veo, chăm chú lắng nghe. Chuông điện thoại reo, cắt ngang dòng suy nghĩ của Pug, ông mở to mắt, giống như vừa tỉnh dậy từ cơn mộng du. "Anh đoán là Digg gọi."

Giọng nói hào sảng đầy nhiệt tình của Đại tá Brown: "Hay quá, hay quá, Pug. Về rồi, phải không? Tuyệt lắm."

"Digg, anh có nhận được bức điện báo nào từ Bộ Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương về tôi không?"

"Này, trong điện thoại đừng nói chuyện công việc, Pug. Anh và Rhoda cứ vui vẻ đoàn tụ hôm nay đi. Xa nhau lâu thế rồi, còn chuyện gì nữa thì khỏi cần nói. Hê hê! Ngày mai chúng ta nói chuyện nhé. Ngày mai chín giờ gọi cho tôi."

"Hôm nay anh có rảnh không? Bây giờ tôi đến được không?"

"Được thôi, anh muốn đến thì đến." Pug nghe thấy người bạn cũ của mình thở dài, "Nghe anh nói là biết, chắc anh mệt lắm rồi."

"Tôi đến ngay đây, Digg." Pug gác máy, sải bước đến bên vợ, hôn lên má cô. "Anh vẫn muốn làm cho rõ, rốt cuộc là chuyện gì."

"Được thôi." Cô dùng hai tay nâng khuôn mặt ông, hôn lâu vào môi ông. "Anh cứ lái chiếc Oldsmobile đó đi."

"Nó còn chạy được không? Tuyệt quá."

"Có lẽ họ sẽ yêu cầu anh làm sĩ quan tùy tùng hải quân cho Tổng thống đấy. Lucy đoán thế. Như vậy ít nhất chúng ta có thể ở bên nhau một thời gian, Pug."

Cô đi về phía chiếc bàn nhỏ, lấy chìa khóa xe ra. Sự oán trách thầm kín mà Rhoda vô tình bộc lộ trong mấy câu nói này, còn lay động trái tim Pug hơn cả những lời tán tỉnh của cô. Một mình sống trong căn nhà lạnh lẽo như vậy, lại phải chịu nỗi đau mất con, mất đi đứa con đầu lòng—họ vẫn luôn không nhắc đến nó, ảnh của nó đang mỉm cười trên giá đàn piano; chồng đi xa hơn một năm, vừa về đến nhà đã vội vã đi ra ngoài lo việc công, đối với tất cả những điều này, cô thể hiện đều rất tốt. Hông thon thả của cô lắc lư thật mê hồn. Pug rất ngạc nhiên vì mình lại không có ham muốn tình dục với cô. Ông chỉ muốn lập tức vứt bỏ chiếc áo khoác hải quân đang mặc, ôm cô vào lòng. Nhưng Digg Brown đang đợi ông, hơn nữa Rhoda đang tinh nghịch nhẹ nhàng ném chìa khóa vào tay ông. "Dù sao thì, chúng ta phải ăn tối ở nhà, được không? Chỉ có hai chúng ta thôi?"

"Nhất định về nhà ăn tối, chỉ có hai chúng ta. Anh tin chắc là sẽ có rượu, và—" ông ngập ngừng một chút, rồi nhướng mày, cố làm ra vẻ mặt dâm đãng, "đặc biệt là... nữa."

Ánh sáng trong mắt cô lập tức vượt qua hố sâu ngăn cách giữa hai người. "Mau lên đường đi, anh chàng thủy thủ."

Nhìn từ bên ngoài, tòa nhà Hải quân cũ kỹ vẫn là bộ dạng đó, dãy nhà "tạm thời" u ám để lại từ cuộc chiến trước, vẫn làm hỏng cảnh quan toàn bộ đường Constitution. Nhưng bên trong, lại là một bầu không khí khác: sự đi lại vội vã, âm thanh hỗn tạp trộn lẫn, trên hành lang là từng tốp phụ nữ phục vụ trong Hải quân và những nhân viên tham mưu mặt mũi trẻ măng. Xung quanh những bức tường đầy bụi bặm, treo những bức tranh sơn dầu màu sắc rực rỡ, sơn dầu hình như vẫn chưa khô hẳn. Trên tranh đều là những cảnh không chiến ác liệt trên không trung tàu sân bay, pháo chiến ban đêm, ném bom đảo nhiệt đới, v.v. Trong thời gian Pug phục vụ trong Hải quân, vật trang trí trên tường luôn là những tác phẩm kỷ niệm chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha hoặc chiến dịch Đại Tây Dương năm 1918.

Digg trông toàn thân vẫn là cái vẻ ngồi trên núi làm vua: cao lớn, vạm vỡ, tráng kiện, mái tóc bạc trắng, cùng với kinh nghiệm chỉ huy thiết giáp hạm một năm (phục vụ ở Đại Tây Dương, cũng đủ tốt rồi), giờ đây giữ vị trí cao nhất tại Cục Nhân sự. Tước hiệu tướng quân của Digg đã là chắc như đinh đóng cột, Pug không quyết định được bản thân mình trong mắt Brown sẽ là hạng người thế nào. Nhưng ông chưa bao giờ cảm thấy không ngẩng đầu được trước người bạn cũ đang trên đà thăng tiến này, bây giờ cũng vậy. Khi họ bắt tay và nhìn nhận đối phương, họ đã hiểu biết nhiều điều không cần thốt nên lời. Thực ra, Pug làm Đại tá Brown nhớ đến cây sồi ở sân sau nhà ông ta, tuy từng chịu sét đánh, nhưng vẫn tràn đầy sức sống, mỗi mùa xuân trên cành khô đều đâm chồi nảy lộc mới.

"Warren thật làm người ta đau lòng," Brown nói.

Henry cố nén cảm xúc, khó nhọc châm một điếu thuốc. Brown đành phải nói tiếp: "Còn tàu California, rồi lại đến tàu Northampton, lạy Chúa!" Anh ta nắm lấy vai Pug, thể hiện sự đồng cảm bất lực. "Mời ngồi đi."

Pug nói: "Phải, đôi khi tôi cũng tự nhủ với bản thân, tôi không phải tình nguyện xin được đầu thai làm người, Digg, tôi là bị ép buộc vào đời. Nhưng mà, tôi vẫn ổn."

"Còn Rhoda thì sao? Anh thấy tâm trạng cô ấy thế nào?"

"Rất tốt."

"Còn Byron?"

"Đang từ Gibraltar trở về, nghe đâu được điều sang tàu ngầm mới đóng." Pug ngẩng đầu đối diện với cố nhân, nheo mắt trong làn khói. "Anh đúng là đang trên đà thăng tiến nhỉ."

"Tôi còn chưa nghe thấy tiếng đại bác gầm vang đâu."

"Chỗ thiếu người đánh trận còn nhiều lắm."

"Pug, e rằng tâm trạng của anh khó tránh khỏi bị chỉ trích, nhưng tôi hy vọng suy nghĩ của anh là đúng." Đại tá Brown đeo cặp kính gọng đồi mồi lên, bắt đầu lật giở những bức điện tín kẹp trên bìa hồ sơ, rút ra một tờ đưa cho Pug. "Tôi nghĩ đây là thứ anh hỏi đến, phải không?"

Người gửi: Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương. Người nhận: Cục Nhân sự. Yêu cầu bổ nhiệm cựu Hạm trưởng tàu Northampton, Đại tá Hải quân Victor Henry, số quân 4329, vào chức vụ tham mưu tại Bộ tư lệnh này. Nimitz.

Pug gật đầu.

Brown bóc một miếng kẹo cao su. "Tôi phải cai thuốc lá. Huyết áp cao. Suýt nữa thì mất mạng vì nó."

"Nói nhanh đi, Digg, lệnh điều tôi đến Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đã thông qua chưa?"

"Này Pug, bức điện này có phải là trò anh bày ra trên đường về nước không?"

"Tôi không bày trò gì cả. Là Spruance đột ngột đề nghị với tôi. Chính tôi cũng kinh ngạc. Tôi cứ tưởng mất tàu rồi thì mình xong đời rồi chứ."

"Tại sao? Anh bị đánh chìm trong chiến đấu mà." Dưới ánh mắt dò hỏi của Pug, Brown không ngừng nhai kẹo cao su, thân hình cao lớn xoay theo chiếc ghế. "Pug, theo Joe Larkin, năm ngoái anh đã từ chối chức vụ tham mưu tại Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương mà."

"Năm ngoái là tình hình năm ngoái."

"Anh đã bao giờ nghĩ tại sao anh lại được ưu tiên đi máy bay về nước nhất chưa?"

"Anh nói đi."

Brown ra vẻ thâm sâu khó lường, chậm rãi nói: "Cái đó... người lớn... Nhà Trắng... Lão gia." Đoạn hạ thấp giọng: "Chà! Chính là Đại lão bản. Anh phải lập tức đến báo cáo với ông ấy, cắm lông vũ kiểu người da đỏ, bôi đầy sơn chiến đấu lên người thôi." Brown không nhịn được cười vì sự hài hước của chính mình.

"Rốt cuộc là chuyện gì?"

"Ôi, chết tiệt, cho tôi điếu thuốc, cảm ơn." Brown rít mạnh một hơi, mắt trợn lên. "Tôi nghĩ anh biết Tướng Standley chứ. Đại sứ tại Nga."

"Đương nhiên là biết. Năm ngoái tôi cùng ông ấy đến Nga trong phái đoàn Harriman."

"Đúng vậy. Ông ấy đã về nước để hội đàm với Tổng thống. Thậm chí trước khi tàu Northampton chìm, Thiếu tướng Carton đã gọi điện từ Nhà Trắng cho chúng tôi, lo lắng hỏi han tình hình của anh. Standley cũng liên tục nghe ngóng xem anh có thoát ra được không. Vì thế mới cho anh quyền ưu tiên số một."

Pug cố gắng không để giọng mình lộ vẻ bồn chồn khó chịu: "Nimitz ở đây lẽ ra phải có trọng lượng hơn Standley chứ."

"Pug, tôi phải làm việc theo chỉ thị cấp trên. Anh nên tìm Las Carton để hẹn giờ gặp Tổng thống."

"Carton có biết bức điện của Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương không?"

"Tôi không nói với ông ấy."

"Tại sao không nói?"

"Chẳng ai bảo tôi phải nói."

"Được rồi, Digg. Vậy phiền anh thông báo nội dung bức điện của Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương cho Carton đi. Ngay hôm nay."

Hai người đối đầu lạnh lùng trong khoảnh khắc. Digg rít một hơi thuốc thật mạnh rồi nói: "Anh không phải đang ép tôi ra khỏi hàng ngũ đấy chứ?"

"Sao? Anh không báo cáo lên Nhà Trắng việc Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương cần tôi, thì tôi chẳng khác nào một con tàu phế thải."

"Hoang đường, Pug, đừng nói nhảm với tôi. Nhân vật lớn ở Đại lộ Pennsylvania chỉ cần búng ngón tay, chúng ta ở đây đều phải xoay như chong chóng. Chuyện khác không quan trọng."

"Nhưng đây chẳng qua là do lão già Bill Standley tùy hứng, anh nói thế mà."

"Khó nói lắm. Hay là khi gặp Las Carton, anh tự mình nói với ông ấy chuyện Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đi."

"Không được. Phải nhận được thông báo từ Cục Nhân sự mới tính."

"Ai bảo nhất định phải thông báo cho ông ấy?" Đại tá Brown lộ vẻ giận dữ, tránh ánh mắt của anh.

Victor Henry nói từng chữ một như đang luyện ngôn ngữ: "Tôi phải, anh phải, ông ấy phải."

Môi Brown nhếch lên, cười khổ, rồi tiếp lời theo giọng điệu đó: "Chúng ta phải, các anh phải, họ phải."

"Chúng ta phải, Digg."

"Chúng ta phải. Tôi chưa bao giờ học tiếng Đức, đúng không?" Brown rít một hơi thuốc sâu, đột nhiên dập tắt nó. "À, vị ngon đấy. Pug, tôi vẫn cho rằng, anh nên làm rõ xem lão gia ở Nhà Trắng kia muốn gì trước đã." Anh ta cau có ấn nút chuông báo. "Làm theo ý anh vậy. Tôi sẽ gửi ngay một bản sao cho Las."

Trong nhà ấm áp hơn. Pug nghe thấy có người đang nói chuyện trong phòng khách.

"Này," anh cất tiếng gọi.

"Ồ, hi!" là giọng Rhoda vui vẻ, "Về nhanh thế sao?"

Pug bước vào phòng khách, một sĩ quan trẻ da ngăm đen đã đứng dậy. Hàng ria mép trên môi khiến anh nhất thời không nhận ra là ai, sau đó mới thấy mái tóc vàng nhạt và vạch vàng mới tinh của Thiếu tá Hải quân. "Chào anh, Anderson."

Rhoda vừa rót trà trên bàn cạnh lò sưởi vừa nói: "Sim vừa mới đến, tiện đường mang quà Giáng sinh cho Madie."

"Tôi tiện tay mua ít đồ ở Trinidad," Anderson chỉ vào chiếc hộp gói ghém tinh xảo trên bàn.

"Anh đến Trinidad làm gì?"

Rhoda bưng trà cho hai người rồi rời đi, Anderson kể cho Pug nghe về tình hình tàu khu trục của anh làm nhiệm vụ ở vùng biển Caribe. Ở vùng biển quanh Venezuela và Guyana, trong vịnh Mexico, tàu ngầm Đức đã vớ bẫm, nào là tàu chở dầu, tàu chở bauxite, tàu hàng và tàu khách. Được đà lấn tới, các thuyền trưởng tàu ngầm Đức thậm chí còn dám nổi lên mặt nước, trực tiếp dùng pháo bắn chìm tàu thuyền qua lại để tiết kiệm ngư lôi. Để đối phó với mối đe dọa này, hải quân Mỹ và Anh hiện đã thành lập hệ thống hộ tống liên hợp; Anderson chính là đi làm nhiệm vụ hộ tống như vậy.

Pug chỉ biết lờ mờ về vấn đề tàu ngầm Đức ở biển Caribe. Lời của Anderson khiến anh nhớ đến hai bức ảnh lớn trong tòa nhà Hải quân. Một bức là những người Eskimo quấn da thú trong bão tuyết đang nhìn một chiếc thủy phi cơ loại Catalina bốc hàng; bức kia là những người Polynesia chỉ quấn một mảnh vải hẹp, cơ thể trần trụi, đang quan sát một chiếc thủy phi cơ giống hệt đậu trong phá nước với những rặng cọ cao vút trên bờ. Cuộc chiến này giống như bệnh hủi, đang lan tràn khắp thế giới.

"Đúng rồi, Anderson, có phải anh đã cùng Dick Parsons nghiên cứu một loại thiết bị bảo mật tiên tiến tại Cục Quân giới, đó là ngòi nổ cận đích vô tuyến cho pháo cao xạ không?"

"Vâng, thưa ngài."

"Vậy tại sao lại phái anh đến một con tàu bốn ống khói cũ kỹ ở vùng Caribe?"

"Vì thiếu sĩ quan mặt boong, thưa ngài."

"Ngòi nổ đó thực sự rất tuyệt, Sim."

Đôi mắt xanh sáng ngời trên khuôn mặt ngăm đen của Sim lộ vẻ rạng rỡ. "À, hạm đội đã sử dụng hết rồi sao?"

"Tôi đã từng xem một buổi diễn tập bắn máy bay bia ở vùng biển Nouméa. Chẳng khác nào tàn sát. Trong vài phút, cả ba máy bay bia đều tan tành rơi xuống. Đạn pháo cao xạ lần nào cũng nổ sát nút mục tiêu, quả thực không thể tin nổi."

"Chúng tôi đã đổ rất nhiều công sức vào đó."

"Rốt cuộc Dick Parsons đã nhét toàn bộ thiết bị tín hiệu vô tuyến vào trong vỏ đạn pháo bằng cách nào? Loại thiết bị này làm sao không bị ảnh hưởng bởi chấn động sơ tốc, không bị ảnh hưởng bởi tốc độ quay năm trăm vòng mỗi giây trong hành trình bay?"

"Ừm, thưa ngài, chúng tôi đã tính toán xong dữ liệu. Bộ phận công nghiệp nói: 'Được', và họ thực sự làm ra được. Thực ra, hiện tôi đang chuẩn bị đến Anacostia để gặp Đại tá Parsons."

Trong số những kẻ theo đuổi Madeline, không ai lọt vào mắt xanh của Victor Henry, nhưng anh thấy người trước mắt này không tệ, so với Hugh Cleveland thì càng thấy anh ta khá hơn. "Anh có thể bớt chút thời gian đến ăn tối Giáng sinh với chúng tôi không? Madeline sẽ về."

"Được ạ, thưa ngài. Cảm ơn ông. Cảm ơn bà Henry, bà ấy cũng đã mời tôi."

"Vậy sao? Tốt quá! Hãy gửi lời hỏi thăm đến Dick. Bảo với ông ấy toàn bộ lực lượng Nam Thái Bình Dương đều hết lời khen ngợi loại ngòi nổ đó."

Trong một văn phòng ngột ngạt của phòng thí nghiệm Hải quân, Đại tá William Parsons nhìn bãi bùn ven sông ngoài cửa sổ, hết lời khen ngợi làn da rám nắng của Anderson. Đối với lời chào của Pug, ông chỉ gật đầu không nói gì. Ông đã ngoài bốn mươi, trán nhợt nhạt, đã có không ít nếp nhăn và bắt đầu hói. Bề ngoài không có gì nổi bật, nhưng trong số tất cả cấp trên mà Anderson từng theo, ông là người cần mẫn và xuất sắc nhất.

"Anh có hiểu về Uranium không, Sim?"

Anderson vừa nghe thấy, cảm giác như giẫm phải thanh ray dẫn điện. "Tôi chưa nghiên cứu về hiện tượng phóng xạ, thưa ngài, cũng chưa nghiên cứu về bắn phá hạt nhân."

"Anh chắc chắn biết rằng đang có những bước tiến rất thú vị trong nghiên cứu về Uranium."

"Ừm, đó là năm 1939 khi tôi còn là nghiên cứu sinh tại Viện Công nghệ California, đã từng nghe nhiều bàn tán về kết quả nghiên cứu phân hạch nguyên tử của người Đức."

"Đó là những bàn tán gì?"

"Những bàn tán viển vông thôi, Đại tá. Nào là siêu bom, động cơ nguyên tử, v.v., thuần túy là lý thuyết."

"Anh cho rằng chúng ta chỉ dừng lại ở đó sao? Chỉ là khả năng trên lý thuyết thôi sao? Chỉ là một hiện tượng tự nhiên bất thường đầy hứa hẹn thôi sao? Trong khi những nhà khoa học Đức đó đang ngày đêm bán mạng làm việc cho Hitler?"

"Tôi hy vọng không phải như vậy, thưa ngài."

"Theo tôi."

Họ bước ra ngoài, đối mặt với cơn gió lạnh buốt thổi từ phía sông, rụt cổ vội vã chạy về phía tòa nhà chính của phòng thí nghiệm. Thậm chí còn cách phòng thí nghiệm một đoạn, đã nghe thấy một thứ âm thanh lạ lùng rít lên. Đến bên trong, tiếng động này lớn đến mức chói tai. Trong phòng dựng đứng những ống dài mảnh, gần như chạm đến trần nhà, hơi nước tràn ngập, khiến nơi này bao trùm bởi cái nóng ẩm ướt giống như ở vùng Caribe. Mọi người mặc áo sơ mi hoặc quần áo bảo hộ, lượn lờ trước các đường ống và bảng điều khiển.

"Khuếch tán nhiệt," Parsons nói lớn, "dùng để tách Uranium 235 đấy. Anh có biết Phil Abelson của Viện Công nghệ California không?" Parsons chỉ vào một người gầy gò mặc áo sơ mi thắt cà vạt, tuổi tác xấp xỉ Anderson, hai tay chống hông đứng trước một bức tường đầy bảng điều khiển.

"Không quen, nhưng có nghe nói qua."

"Qua đây gặp cậu ấy đi. Cậu ấy đang làm việc với chúng ta dưới danh nghĩa dân sự."

Trong tiếng ồn chói tai, Parsons cao giọng giới thiệu với Abelson rằng Anderson từng nghiên cứu ngòi nổ cận đích vô tuyến, Abelson vừa nghe vừa nhìn vị Thiếu tá Hải quân. "Chúng tôi gặp phải một vấn đề về kỹ thuật hóa học," Abelson vừa chỉ vào đường ống vừa nói: "Anh học chuyên ngành này phải không?"

"Chính xác thì không. Cởi bỏ quân phục ra tôi là người làm vật lý."

Abelson mỉm cười nhẹ rồi quay lại phía bảng điều khiển.

"Tôi chỉ cho anh xem bộ thiết bị này thôi," Parsons nói, "chúng ta đi thôi."

Bên ngoài lạnh như Bắc Cực. Parsons cài cúc áo khoác hải quân đến tận cổ, hai tay đút túi, sải bước về phía bờ sông, nơi có nhiều tàu chiến màu xám đang neo đậu.

"Sim, anh quen thuộc với nguyên lý ống Clausius, phải không?"

Anderson cố gắng hồi tưởng. "Có phải là ống nghiệm tiết diện hình vòng không?"

"Đúng. Abelson lắp chính là loại ống này. Thực ra, hai ống lồng vào nhau, làm nóng ống bên trong, đồng thời làm lạnh ống bên ngoài. Nếu trong không gian giữa hai ống xuất hiện chất lỏng, các phân tử đồng vị nhẹ hơn sẽ bắt đầu chuyển động theo hướng nhiệt. Đối lưu nhiệt đưa những phân tử này lên bề mặt, anh có thể lấy chúng ra. Abelson đã lắp rất nhiều ống Clausius cao lớn theo trình tự, giống như cả một khu rừng. Uranium 235 cứ thế tách ra từ từ. Tốc độ quá chậm, nhưng cậu ấy đã thu được lượng Uranium đậm đặc đáng kể rồi."

"Vậy chất lỏng cậu ấy thu được là gì?"

"Uranium hexafluoride, đó là kết quả ban đầu của cậu ấy. Cậu ấy tiếp tục thay đổi tính chất của chất lỏng này, nó tuy rất khó kiểm soát nhưng vận hành thì đủ ổn định. Giờ chuyện này đang trở nên rất nóng hổi, Cục Quân giới muốn phái một Hạm trưởng tàu chiến thường trú ở đây. Tôi đã tiến cử anh. Đây lại là một vị trí công việc trên bờ. Các anh người trẻ, chỉ cần muốn, luôn có thể có được chức vụ trên biển."

Tuy nhiên, Sim Anderson không có tham vọng cưỡi gió rẽ sóng đi vạn dặm. Anh vào Học viện Hải quân ban đầu là để nhận nền giáo dục chất lượng cao miễn phí. Học viện Hải quân Annapolis đã rèn giũa anh thành một quân nhân tiêu chuẩn. Trên đài chỉ huy tàu khu trục cũng chỉ là một sĩ quan mặt boong bình thường, không khác gì các sĩ quan mặt boong khác; nhưng trong chức trách quân nhân tiêu chuẩn mà người khác có thể thay thế này, lại ẩn giấu tài năng của một nhà vật lý trẻ hạng nhất. Giờ đây, cơ hội phá vỡ xiềng xích đó đã đến. Thiết bị ngòi nổ cận đích vô tuyến tuy là một bước tiến về khí tài quân sự, nhưng không phải là một bước đột phá trong việc khám phá bí ẩn cơ bản của tự nhiên. Còn Abelson chính là đang câu một con cá lớn bằng những đường ống hơi nước đan xen dọc ngang kia.

Người của Viện Công nghệ California từng dự đoán rằng Uranium 235 có thể san phẳng cả một thành phố; và nói rằng, chỉ cần dùng vài kg Uranium làm nhiên liệu, động cơ có thể khiến một con tàu khách viễn dương đi vòng quanh trái đất ba vòng. Trong số nhân viên hải quân, bàn tán về một loại tàu ngầm đạt đến đỉnh cao, cũng như thiết bị động lực không cần không khí để đốt cháy. Đây là một lĩnh vực vĩ đại mới để con người phát huy trí tuệ của mình. Còn điều thu hút Anderson trẻ tuổi là một sự cám dỗ lớn hơn, nhưng lại thực tế hơn. Thường trú tại Anacostia, anh sẽ có nhiều cơ hội gặp Madeline Henry hơn trước. "Thưa ngài, nếu Cục thấy tôi đủ năng lực, tôi không có ý kiến gì."

"Được. Việc tôi định nói tiếp theo với anh, Anderson, giờ coi như hỏng bét rồi." Parsons gác hai khuỷu tay lên hàng rào sắt, phía dưới là bờ sông dốc đứng. "Tôi đã nói, chúng ta quan tâm đến động cơ đẩy, nhưng Lục quân đang cắm cúi nghiên cứu một loại bom. Chúng ta bị gạt ra ngoài. Mỗi bên đều có bí mật riêng. Nhưng chúng ta vẫn biết. Parsons liếc nhìn chàng trai trẻ, vội nói: "Mục tiêu ban đầu của chúng ta thống nhất với Lục quân, tức là chiết xuất Uranium 235 nguyên chất. Còn bước tiếp theo của họ là chế tạo một loại vũ khí. Một nhóm nhà lý thuyết đã bắt tay vào nghiên cứu phương diện này. Có lẽ một sự thật khách quan nào đó của tự nhiên sẽ ngăn cản ý đồ này. Không ai nói chắc được."

"Lục quân có biết chúng ta đang làm gì không?"

"Tệ hại lắm. Đã biết rồi. Uranium hexafluoride họ vừa mới bắt đầu sử dụng chính là chúng ta đưa cho họ. Nhưng Lục quân cho rằng phương pháp khuếch tán nhiệt vô nghĩa. Quá chậm và độ đậm đặc quá thấp. Mục tiêu của họ là đánh bại Hitler, tập trung toàn lực vào một quả bom. Đúng là một ý tưởng hay. Họ tay trắng dựng cơ đồ, thiết kế cũng chưa qua thử nghiệm, khái niệm cũng mới, và nghe nói khái niệm mới này là một con đường tắt. Họ đang thử nghiệm với quy mô sản xuất công nghiệp. Những nhân vật có trọng lượng đạt giải Nobel như Lawrence, Compton, Fermi vẫn luôn hiến kế cho họ. Anderson, anh biết đấy, cái vốn Lục quân bỏ ra thực sự khiến người ta kinh ngạc. Họ không ngừng trưng dụng điện, nước, đất đai và vật tư chiến lược, có vẻ như muốn vét sạch sành sanh. Khi họ đang làm như vậy, chúng ta đã chế tạo ra Uranium 235 đậm đặc, tuy độ đậm đặc không cao, chưa thể làm nguyên liệu chế bom, nhưng dù sao cũng đã bước được bước đầu tiên. Lục quân đầy tham vọng, quy mô bày ra cũng đủ lớn. Giả sử Lục quân thất bại, đó sẽ là một thất bại chưa từng có trong khoa học và quân sự. Đến lúc đó – cứ thử tưởng tượng đi, anh đừng quên đấy – đến lúc đó sẽ phải dùng bom nguyên tử của Hải quân để đánh gục nước Đức. Bom nguyên tử đang được chế tạo ngay tại đây, ở Anacostia."

"Ôi trời."

Parsons nhếch mép cười khổ: "Đừng căng thẳng! Lục quân đã khiến Tổng thống nghe theo răm rắp, những nhân vật trí tuệ vĩ đại nhất thế giới đều đang làm việc cho điều đó, hơn nữa khoản chi phí của họ so với chúng ta là một triệu so với một. Họ có khả năng chế tạo ra một quả bom, chỉ cần tự nhiên thực sự không đủ kín kẽ, để lại một lỗ hổng cho chúng ta chui vào. Nhưng đến lúc đó chúng ta vẫn tiếp tục đốt những chiếc lon sắt tây nhỏ bé của mình. Hãy ghi nhớ trường hợp khác có thể xảy ra. Ngày mai đến Cục Nhân sự nhận lệnh."

"Vâng, vâng, thưa ngài."

Dưới ánh nến, khuôn mặt Rhoda trông như một người phụ nữ trẻ. Họ ăn món bánh nhân anh đào do Rhoda nướng, Pug buồn ngủ như thể rơi vào sương mù, nhưng vẫn đang kể cho Rhoda nghe tình hình anh dừng chân ở Nouméa trên đường về nước. Họ đã uống hết hai chai rượu, giờ đang uống chai thứ ba, nên Pug mô tả khung cảnh cuồng hoan do Mỹ tham chiến mang lại ở vùng thuộc địa Pháp tĩnh lặng phía nam xích đạo có phần lộn xộn. Anh rất muốn mô tả cảnh tượng nực cười ở câu lạc bộ quân nhân đặt trong một khách sạn Pháp cổ kính hôi hám: những quân nhân mặc quân phục vây quanh vài nữ y tá hải quân và phụ nữ Pháp ba vòng trong, ba vòng ngoài. Các Đại tá và Trung tá đứng sát bên trong, còn sĩ quan cấp dưới vây quanh vòng ngoài, dán mắt vào những người phụ nữ này. Pug mệt mỏi đến cực độ, ngay cả khuôn mặt Rhoda nhìn cũng như đang đung đưa trong ánh nến.

"Anh yêu," cô dịu dàng ngập ngừng ngắt lời anh, "em thấy anh có vẻ hơi mất tinh thần rồi."

"Gì cơ? Làm gì có chuyện đó?"

"Anh vừa nói, những điều này đều là anh và Warren tận mắt nhìn thấy, hơn nữa Warren còn nói đùa một câu –"

Pug bừng tỉnh. Khi anh kể, quả thực anh đang mơ màng, mộng tưởng đan xen với hồi ức, tưởng tượng rằng rất lâu sau trận Midway, Warren vẫn còn sống, xuất hiện trong câu lạc bộ Nouméa đông đúc đầy khói thuốc, cầm lon bia với tư thế quen thuộc, nói: "Bố à, mấy cô gái đó đều quên rằng một khi cởi bỏ quân phục, quân hàm càng cao thì càng vô vị." Đây thuần túy là ảo tưởng, Warren khi còn sống chưa từng đến Nouméa.

"Xin lỗi," anh cố lắc đầu nói.

"Đừng uống cà phê nữa nhé," – cô quan tâm nhìn anh, "để em đưa anh lên giường."

"Chết tiệt, không được. Anh muốn uống cà phê. Cả rượu Brandy nữa. Anh đang hứng thú đây, Rhoda."

"Có lẽ lò sưởi khiến anh muốn ngủ rồi."

Trong ngôi nhà cổ này, hầu hết các phòng đều có lò sưởi. Bệ lò sưởi chạm khắc gỗ trong phòng ăn rộng rãi, dưới ánh lửa củi nhảy múa chập chờn, phong thái tao nhã khiến người ta không chịu nổi. Pug đã trở nên không còn hòa hợp với lối sống này của Rhoda. Anh vốn dĩ luôn cảm thấy kiểu đó quá xa hoa. Anh đứng dậy, cảm thấy chóng mặt chân mềm, men rượu rất đậm. "Có lẽ vậy. Anh mang rượu vang đỏ vào trong, em đi pha cà phê đi."

"Anh yêu, rượu cũng để em mang vào cho anh."

Anh bước vào phòng khách, đổ ập xuống một chiếc ghế, bên cạnh là lò sưởi đã kết lại một lớp tro dày. Đèn chùm rực rỡ bao phủ lên cây thông Noel được trang trí một màu sắc lòe loẹt như tủ kính cửa hàng. Toàn bộ ngôi nhà đều ấm lên, trong phòng tỏa ra mùi nhiệt từ bộ tản nhiệt tích đầy bụi bặm. Rhoda vặn nhiệt độ của bộ điều nhiệt cao lên, đồng thời nói với anh: "Em quen sống trong nhà lạnh rồi. Chẳng trách người Anh cho rằng chúng ta giống như hấp hải sản, tự hấp chính mình. Tất nhiên, anh là người mới từ vùng nhiệt đới về."

Pug cảm thấy rất kỳ lạ, rõ ràng mình đang tỉnh táo, vậy mà cũng có thể nhìn thấy hình ảnh Warren đảo lộn âm dương. Đầu óc mơ hồ làm sao lại có thể nghĩ ra lời nói sắc sảo như vậy? Giọng nói của Warren sao lại quen thuộc đến thế, giống người sống đến thế! "Bố à, một khi cởi bỏ quân phục, quân hàm càng cao thì càng vô vị!" Hoàn toàn là giọng điệu của Warren; bản thân anh và Byron chưa bao giờ nói những lời như vậy.

Rhoda đặt chai rượu và ly rượu bên tay anh. "Cà phê sẽ có ngay thôi, cưng à."

Ông nhấp một ngụm rượu, cảm thấy nếu bây giờ đặt lưng xuống giường, mình có thể ngủ li bì suốt mười bốn tiếng đồng hồ mà không hề cựa quậy. Thế nhưng, Roda đã tất bật ngược xuôi cả một buổi chiều, bữa tối lại thịnh soạn và ngon miệng đến thế: súp hành tây, món bò nướng hiếm có, khoai tây nướng kem chua, súp lơ phô mai vụn bánh mì; bộ đồ lụa đỏ bó sát mới tinh của bà có thể khiến bất cứ ai cũng phải sững sờ, mái tóc được chải chuốt như thể sắp tham dự một buổi dạ vũ, từng cử chỉ của bà đều cho thấy bà đang chân thành yêu thương và hết lòng chiều chuộng. Roda đã chuẩn bị mọi thứ chu đáo đến từng chi tiết cho người chồng vừa trở về từ phương xa, và Pag cũng không muốn khiến vợ mình thất vọng hay mất mặt. Thế nhưng, không rõ là do tuổi tác đã cao, hay do quá mệt mỏi, hoặc cũng có thể vì chuyện của Kirby vẫn còn treo lơ lửng, Pag hoàn toàn không có chút ham muốn tình dục nào với bà. Không một chút nào.

Gương mặt ông thoáng lộ vẻ hổ thẹn. Ông mở mắt ra, thấy bà đang mỉm cười nhìn xuống mình. "Em nghĩ cà phê cũng chẳng giúp ích được gì đâu, Pag."

"Phải, thật nản lòng."

Đến lúc chuẩn bị đi ngủ, cơn buồn ngủ của ông lại vơi đi một nửa. Bước ra từ phòng tắm, ông thấy Roda vẫn đang ăn mặc chỉnh tề, loay hoay trải giường cho mình. Ông cảm thấy bản thân thật ngốc nghếch. Ông muốn ôm bà, nhưng bà lại cười khúc khích như một nữ sinh, khéo léo né tránh. "Cục cưng của em, em yêu anh đến phát điên, nhưng em biết rõ anh đang lực bất tòng tâm. Cứ ngủ một giấc thật ngon đi, rồi 'con hổ' sẽ quay lại săn mồi thôi."

Pag thở dài trong cơn ngái ngủ rồi đổ người xuống giường. Roda nhẹ nhàng hôn lên môi ông. "Anh về rồi, em thấy hạnh phúc lắm."

Khi Roda tắt đèn, Pag thì thầm: "Anh thật sự rất xin lỗi em."

Roda không hề giận dỗi, ngược lại còn thấy nhẹ nhõm hơn. Bà cởi bộ đồ lụa đỏ, khoác lên mình chiếc áo choàng mặc nhà rộng rãi rồi đi xuống lầu dọn dẹp tàn dư của bữa tối và ngày hôm nay. Bà đổ gạt tàn trong phòng khách, hốt tro bếp vào thùng, chất sẵn củi cho lò sưởi vào sáng mai, rồi mang tro và rác ra ngoài. Khoảnh khắc hít thở bầu không khí lạnh giá ngoài hành lang, nhìn thoáng qua những vì sao lấp lánh và nghe tiếng tuyết lạo xạo dưới đôi dép lê, tất cả đều khiến bà cảm thấy lâng lâng vui sướng.

Trong phòng trang điểm, Roda đặt một ly brandy bên cạnh, chuẩn bị nước nóng để tắm. Dưới ánh đèn rực rỡ, giữa những tấm gương lớn, bà bắt đầu tẩy trang. Bà lau sạch phấn má, son môi, chì kẻ mày và lớp dầu dưỡng da bôi tận xương quai xanh. Bà trần như nhộng bước vào bồn tắm đang bốc hơi nghi ngút. Do mấy tháng nay kiên trì ăn kiêng, cơ thể bà trông gầy gò, gần như nổi cả gân xanh. Xương sườn hiện rõ đến mức mất đi mọi vẻ quyến rũ; may thay, bụng vẫn phẳng, hông không bị sồ sề, bộ ngực tuy không lớn nhưng trông vẫn ổn. Còn về khuôn mặt, chà, nét thanh xuân thiếu nữ đã chẳng còn sót lại chút gì. Nhưng bà tin rằng, Đại tá Harrison Peters vẫn sẽ thấy bà đầy sức hút.

Trong mắt Roda, dù thế nào đi nữa, dục vọng phần lớn phụ thuộc vào tâm tư của đàn ông, còn phụ nữ chỉ đóng vai trò thúc đẩy những nhu cầu đó, miễn là bà nhận ra được nhu cầu ấy và nó hợp với khẩu vị của bà. Pag thích bà gầy hơn, vì vậy để chuẩn bị cho cuộc đoàn tụ này, bà đã ép mình gầy đi trông thấy. Roda hiểu rõ tình thế của mình không mấy sáng sủa, nhưng bà không lo lắng về sức quyến rũ của bản thân đối với chồng. Nếu Pag vẫn giữ lòng chung thủy, thì đó chính là nền tảng vững chắc cho cuộc hôn nhân của họ.

Ngâm mình trong làn nước ấm, bà cảm thấy dễ chịu và thoải mái. Mặc dù bề ngoài luôn tỏ ra bình tĩnh, nhưng suốt cả buổi tối, bà cứ như một con mèo bị hoảng sợ, lòng đầy căng thẳng. Sự dè dặt, lịch thiệp, không một lời trách móc, cung cách khiêm nhường và sự lạnh nhạt về tình cảm của Pag đã nói lên tất cả. Sự im lặng của ông còn đáng sợ hơn cả ngôn từ của người khác. Không còn nghi ngờ gì nữa, ông đã tha thứ cho bà (dù điều đó có nghĩa là gì đi chăng nữa). Thế nhưng, ông thậm chí còn chưa bắt đầu quên đi chuyện đó, dù có vẻ như ông không định nhắc đến những lá thư nặc danh kia. Dẫu vậy, ngày đầu tiên của bà vẫn trôi qua tương đối suôn sẻ. Mọi chuyện cuối cùng cũng đã qua, họ tránh được tình cảnh căng thẳng cực độ và đang ở mức độ có thể chấp nhận được lẫn nhau. Bà đã luôn sợ hãi sự tiếp xúc trên giường vào đêm đầu tiên, vì rất dễ xảy ra chuyện không hay. Chỉ vài phút lúng túng cũng đủ làm tăng thêm khoảng cách. Còn chuyện chăn gối như một trò tiêu khiển, giờ đây bà chẳng hề bận tâm. Bà còn những mối lo khác.

Roda là người phụ nữ có tổ chức, quen làm việc theo kế hoạch, hoặc viết ra hoặc tính toán sẵn trong đầu. Thời gian tắm chính là lúc bà nhìn nhận và suy ngẫm. Việc đầu tiên cần cân nhắc tối nay chính là cuộc hôn nhân của bà. Mặc dù những lá thư của Pag rất tử tế; mặc dù sau khi Warren hy sinh, tình cảm hòa giải đã trỗi dậy – giờ họ đã gặp nhau, liệu mọi thứ có thể cứu vãn được không? Nhìn chung, bà cho là có thể. Cuộc gặp gỡ của họ đã mang lại hiệu quả trực tiếp.

Đại tá Harrison Peters đã mê mẩn Roda đến mức điên đảo. Cứ mỗi Chủ nhật, ông ta lại đến nhà thờ St. John chỉ để gặp bà. Ban đầu, bà không hiểu ông ta nhìn trúng điều gì ở mình, vì (theo những gì bà nghe được) Washington không thiếu những cô nàng phóng túng mà ông ta có thể dễ dàng có được nếu muốn. Giờ thì bà đã biết, vì chính ông ta đã nói với bà. Bà chính là kiểu vợ quân nhân mà ông ta hằng mơ ước: xinh đẹp, chung thủy, đoan trang, sùng đạo, thanh lịch và dũng cảm. Ông ta khâm phục cách bà thể hiện nỗi đau mất con. Khi hai người gặp nhau – bà đã rút kinh nghiệm từ chuyện với Kirby nên số lần gặp gỡ luôn ít ỏi, và nếu có gặp cũng chỉ ở nơi công cộng – ông ta cố tình dẫn dắt bà nói về Warren, đôi khi chính ông ta cũng phải lau nước mắt. Người đàn ông mạnh mẽ này có bản tính bướng bỉnh, giữ chức vụ cao, làm những công việc tuyệt mật trong quân đội; nhưng trong đời thường, ông ta chỉ là một gã độc thân cô độc ngoài năm mươi, đã chán ngấy những trò chơi bời phóng túng, tuổi tác đã quá lớn để lập gia đình, nhưng lại khao khát một chốn dừng chân. Một người đàn ông như vậy, chỉ cần bà muốn là có thể nắm trong tay.

Thế nhưng, chỉ cần giữ chặt được Pag, bà đã mãn nguyện rồi. Pag chính là cuộc sống của bà. Chuyện của bà với Pam Darby hoàn toàn xuất phát từ những ham muốn lãng mạn. Ly hôn rồi tái hôn, ngay cả trong trường hợp tốt nhất, cũng khó tránh khỏi ồn ào khắp thành phố. Thân phận, danh dự và lòng tự trọng của bà đều phụ thuộc vào việc giữ vững vai trò là bà Victor Henry. Chuyển đến Hawaii sinh sống thực sự quá khó khăn và phiền phức; có lẽ đây lại là điều tốt, trước khi đoàn tụ với Henry lần này, một khoảng thời gian đã trôi qua và những vết thương mới nhất cũng đã dần khép miệng. Pag không phải là kẻ tầm thường. Victor Henry không dễ dàng gục ngã. Chẳng phải Nhà Trắng lại đang triệu tập ông sao! Số phận của ông đã đủ tồi tệ rồi, trong đó bao gồm cả sự bất chính của chính bà; nếu có ai có thể chịu đựng được những con sóng gió này, thì đó chính là Pag. Roda tôn trọng Pag theo cách riêng của mình, thậm chí là yêu Pag. Cái chết của Warren đã mở rộng lòng yêu thương vốn hạn hẹp của bà. Một trái tim tan vỡ nếu được hàn gắn, đôi khi lại trở nên bao dung hơn.

Roda ngâm mình trong bồn tắm, lòng cân nhắc tình hình hiện tại. Theo đánh giá của bà, dường như sau cuộc hòa giải nhẹ nhàng, họ sẽ quay lại như xưa. Dù sao thì vẫn còn chuyện của Pamela Tudsbury. Pag cũng có những điều cần phải tha thứ, mặc dù bà không biết chính xác đó là chuyện gì. Trên bàn ăn tối, khi họ nhắc đến cái chết của Tudsbury, bà đã quan sát kỹ biểu cảm trên khuôn mặt Pag. "Em cứ canh cánh trong lòng không biết Pamela sau này sẽ ra sao," bà lấy hết can đảm nói, "Anh biết đấy, em đã gặp họ khi họ đi ngang qua Hollywood. Anh có nhận được lá thư em gửi không? Người đàn ông bất hạnh đó đã có một bài diễn thuyết xuất sắc tại hội trường ngoài trời ở Hollywood."

"Anh biết, em đã gửi bản thảo bài diễn thuyết cho anh rồi."

"Pag, thực ra chính cô ấy là người viết, cô ấy đã đích thân nói với em như vậy."

"Phải, những năm cuối đời, Pam luôn nhờ cô ấy chấp bút, viết không ít bài. Nhưng ý tưởng đều là của ông ấy." Không biết vì mệt mỏi hay lý do gì khác, con cáo già này không hề tỏ ra hoảng hốt, giọng điệu nghe rất bình thản.

Chuyện này cũng chẳng quan trọng. Roda đã phân tích kỹ lưỡng lời bộc bạch kinh ngạc của Pamela Tudsbury ở Hollywood, đại khái là: Nếu một mỹ nhân trẻ tuổi đa tình như cô ta – chỉ nhìn vẻ ngoài cũng biết cô ta hiểu đàn ông đến mức nào – mà không thể quyến rũ được Pag ngay khi Warren vừa qua đời, thì xem ra cuộc hôn nhân của họ vẫn rất vững chắc, huống hồ lúc đó Pag lại ở xa gia đình, có sơ hở, lại vì chuyện Kirby mà vợ chồng bất hòa, chắc chắn mỗi tối đều phải uống rượu say. Nếu có thể giữ được Pag, bà có thể gạt gã Đại tá Harrison Peters cao sáu feet ba inch, bảnh bao kia sang một bên. Sự ngưỡng mộ của Harrison đối với bà giống như một tờ bảo hiểm tai nạn. Cầm trong tay, bà thấy vui, nhưng bà hy vọng không bao giờ phải nhờ đến nó.

Dưới ánh đèn mờ trong phòng ngủ, những đường nét nghiêm nghị trên khuôn mặt Pag khi đang ngủ say lại trở nên dịu dàng. Trong lòng Roda trỗi dậy một thôi thúc khó cưỡng – có nên lặng lẽ bò sang giường ông không? Những năm qua, bà hiếm khi làm vậy; tất cả đều là chuyện từ rất lâu rồi, không phải vì uống quá chén vào buổi tối thì cũng là sau khi tán tỉnh chồng người khác. Sự chủ động hiếm hoi của bà từng khiến Pag cảm thấy được cưng chiều, trông rất đẹp đẽ và đáng yêu. Những lần rạn nứt giữa họ trong quá khứ, chỉ cần một phen ân ái mặn nồng là đều tan thành mây khói.

Thế nhưng bà lại chần chừ. Một người vợ an phận thủ thường nũng nịu với người chồng trở về từ chiến trận để an ủi nỗi khát khao, đó là một chuyện; nhưng đối với bà – người vẫn đang phải chịu sự kiểm chứng, vẫn phải tìm kiếm sự tha thứ – làm vậy chẳng phải là chuyện khác sao? Chẳng phải sẽ trở thành lấy thân xác làm mồi nhử, mang tiếng là dục vọng thấp hèn sao? Tất nhiên, những điều này không nằm trong tính toán của Roda. Những ý nghĩ đó lướt nhanh trong đầu bà theo một thứ logic biểu tượng nữ tính. Cuối cùng, bà vẫn lên giường mình.

Pag giật mình tỉnh giấc, cơn say đã tan, cả người khó chịu khiến lòng ông đầy hoảng sợ. Roda đội một chiếc mũ ngủ đầy những nếp gấp, đang ngủ say sưa. Trằn trọc mãi vẫn không được. Ông cần uống chút rượu hoặc uống một viên thuốc ngủ. Ông tìm thấy chiếc áo choàng tắm ấm nhất trong phòng vệ sinh rồi đi vào thư phòng, nơi có chiếc tủ rượu. Trên chiếc bàn làm việc cổ kính, đặt một cuốn sổ lưu niệm bọc da lớn, ảnh của Warren được lồng cẩn thận trên bìa, bên dưới ảnh là dòng chữ mạ vàng: Đại úy Hải quân Hoa Kỳ Warren Henry. Ông pha một ly rượu whisky mạnh, vừa nhìn chằm chằm vào cuốn album ảnh như nhìn thấy bóng ma. Ông bước ra khỏi phòng, tắt đèn; rồi lại quay lại, mò mẫm đến bên bàn làm việc, bật đèn bàn. Một tay cầm rượu, ông đứng đó, lật từng trang album. Ở trang trong của bìa là một tấm ảnh Warren hồi nhỏ, xung quanh viền đen; ở trang trong bìa sau là cáo phó về ông trên tờ "Washington Post", cùng một tấm ảnh mờ nhạt; ở trang đối diện là bằng khen truy tặng Huân chương Chữ thập Hải quân do Bộ trưởng Hải quân ký bằng mực đen chữ đậm.

Trong cuốn album này, Roda đã sắp xếp ảnh để ghi lại cuộc đời ngắn ngủi của cậu con trai đầu lòng: lần đầu tiên tập viết bằng bút chì màu đỏ xanh trên tờ giấy nhám ở trường mẫu giáo – Chúc mừng Giáng sinh; phiếu điểm học kỳ một năm lớp một ở Norfolk – học tập xuất sắc, thủ công xuất sắc, hạnh phúc trung bình; ảnh tiệc sinh nhật của lũ trẻ, ảnh trại hè, bằng khen danh dự, giải thưởng vận động viên, chương trình biểu diễn ở trường, ảnh hội thao, ảnh tốt nghiệp, những lá thư mẫu phản ánh sự tiến bộ dần dần về chữ viết và ngôn ngữ; các loại giấy tờ và ảnh ở Học viện Hải quân, lệnh bổ nhiệm, lệnh thăng chức và lệnh điều chuyển, xen kẽ là những bức ảnh chụp nhanh của cậu trong buồng lái máy bay, trên chiến hạm. Những bức ảnh và kỷ vật đính hôn, kết hôn của cậu với Janice Laguardia dán kín sáu trang (có một tấm ảnh Natalie Jastrow mặc đồ đen, đứng dưới nắng bên cạnh cặp đôi tân hôn trong bộ lễ phục trắng toàn thân, điều này khiến Pag cảm thấy nhói lòng); vài trang cuối dán đầy những kỷ vật của cuộc chiến này – phi đội của cậu xếp hàng trên boong tàu "Enterprise", ảnh Warren ngồi trong buồng lái máy bay đỗ trên boong và đang bay trên không, một bức tranh biếm họa trên tờ báo nhỏ của chiến hạm về bài diễn thuyết của cậu về việc xâm lược nước Nga. Hai trang cuối cũng viền đen, ở giữa là lá thư cuối cùng Warren gửi cho mẹ, được đánh máy trên giấy tiêu đề của tàu "Enterprise", đề ngày tháng Ba, ba tháng trước khi cậu hy sinh.

Nhìn thấy những dòng chữ sống động do người con trai đã khuất của mình viết, Pag không khỏi kinh ngạc, đọc ngấu nghiến như thể muốn nuốt chửng chúng. Warren vốn ghét nhất là viết thư. Ở trang đầu, cậu mô tả chi tiết Vic nói chuyện thông minh thế nào, cử chỉ đáng yêu ra sao, và những vấn đề việc nhà ở Hawaii; ở trang thứ hai, cậu tỏ ra xúc động: Mẹ, con sắp đi làm nhiệm vụ tuần tra lúc bình minh, nên tốt nhất là con nên dừng bút. Con không thường xuyên viết thư cho mẹ, lòng cảm thấy rất có lỗi. Khi chúng con neo đậu ở cảng, con luôn cố gắng đến thăm bố. Con nghĩ bố thường xuyên viết thư cho mẹ để kể về tình hình của chúng con. Về công việc của con, con cũng không thể viết nhiều.

Nhưng con muốn nói với mẹ rằng, mỗi khi con cất cánh lướt qua mặt biển, mỗi khi con quay về hạ cánh trên boong tàu, con luôn cảm thấy may mắn, may mắn vì con đã học lái máy bay rất tốt ở Pensacola. Trong cuộc chiến này, phi công hải quân không có nhiều. Khi Vic lớn lên, khi cậu bé đọc được tất cả những điều này, nhìn thấy ông già tóc bạc trắng là bố mình đây, con nghĩ, cậu bé sẽ không cảm thấy xấu hổ vì những gì con đã làm.

Tất nhiên, con hy vọng khi Vic trưởng thành, thế giới này sẽ thoát khỏi chiến tranh. Con không biết, đối với người chiến thắng, kiểu tập luyện này có luôn là niềm vui hay là một sự nghiệp có lợi nhuận hay không. Nhưng thế hệ của con là thế hệ cuối cùng có thể tìm thấy niềm vui từ chiến đấu, mẹ ạ, chiến tranh đã trở nên quá vô nhân đạo, quá phức tạp, quá tốn kém, chết chóc quá nhiều. Mọi người phải tìm ra một phương pháp quản lý hành tinh này sáng suốt hơn. Những tên cướp có vũ trang như Đức, Nhật, chuyên gây ra xung đột, nhưng từ nay về sau, phải bóp chết chúng trước khi chúng kịp ra tay.

Vì vậy, con hầu như không muốn thừa nhận đánh trận thú vị đến mức nào. Con hy vọng con trai con sẽ không bao giờ biết được cảm giác sợ hãi xen lẫn lòng tự hào khi lái máy bay lao xuống đối mặt với hỏa lực phòng không. Chiến tranh thực sự là một cách kiếm sống ngu xuẩn đến cùng cực. Thế nhưng, con hiện giờ lại đang làm cái chuyện ngu xuẩn này. Nhưng con phải nói với mẹ rằng, dù có cho con toàn bộ trà của Trung Quốc, con cũng quyết không bỏ lỡ cơ hội này. Con hy vọng Vic sau này có thể trở thành một chính trị gia, làm việc để chỉnh đốn thế giới này. Khi tất cả những điều này kết thúc, thậm chí chính con cũng sẽ thử một lần, mở ra một con đường cho cậu bé. Đến giờ tuần tra lúc bình minh rồi.

Yêu mẹ, Warren. Pag gấp cuốn album lại, uống cạn ly rượu thứ hai. Ông vuốt ve bìa da thô ráp, như đang vuốt ve khuôn mặt của đứa con. Ông tắt đèn, bước đi lảo đảo quay lại phòng ngủ trên lầu. Mẹ của Warren vẫn đang ngủ say, bà nằm ngửa, bóng dáng vốn đẹp đẽ giờ bị chiếc mũ ngủ kỳ quái làm cho biến dạng. Pag nhìn chằm chằm vào bà, như thể bà là người lạ. Khi thu thập những bức ảnh này thành tập, bà đã vượt qua nỗi đau như thế nào? Việc này, cũng như nhiều việc bà đã làm, cũng là một việc phi thường. Đến giờ ông vẫn chưa dám thốt lên tên con trai, mà bà đã làm được tất cả những điều này, tìm kiếm những kỷ vật đó, nhìn chúng bằng đôi mắt mình, và sắp xếp trang trí một cách có trình tự.

Pag lên giường, vùi mặt vào gối, để rượu whisky làm đầu óc mình quay cuồng, để bản thân có thể quên đi tất cả trong vài giờ nữa.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »