Lời tựa của người dịch tiếng Anh (kèm theo chú giải về bài viết "Biên bản Hội nghị Wannsee"): Đối với một sĩ quan hải quân đã giải ngũ, thời gian thường là thứ rất khó giết. Tuy nhiên, những năm gần đây, tôi luôn chuyên tâm vùi đầu vào việc dịch tác phẩm "Đế quốc thế giới đã mất" của Tướng Armin von Roon và phần tiếp theo của nó là "Đại thảm sát thế giới".
Những bản tóm tắt chiến lược này đều được rút ra từ hai tập phân tích tác chiến dày cộp về Chiến tranh thế giới thứ hai mà Roon đã viết trong thời gian thụ án tù với tư cách là tội phạm chiến tranh. Nếu lược bỏ đi phần phân tích chiến dịch vốn là bằng chứng xác thực cho những bản tóm tắt này, quan điểm của Roon có vẻ sẽ quá phiến diện. Thế nhưng, toàn bộ tác phẩm của ông được viết dành cho các chuyên gia quân sự, những người đều có thể trực tiếp đọc bằng tiếng Đức. Một nhà xuất bản người Đức đã biên soạn nó thành bộ sách lịch sử chiến tranh phổ thông gồm hai tập, còn những người khác chỉ có thể hiểu quan điểm của Roon thông qua bản lược dịch này.
Mặc dù hai tập sách này mang đậm màu sắc dân tộc chủ nghĩa của tác giả, nhưng những quan điểm chiến lược tổng quát trong sách vẫn xứng đáng thu hút sự quan tâm của độc giả, những người đang cần một tác phẩm đáng đọc, thuật lại chi tiết quan điểm "phản diện" về toàn bộ quá trình đại chiến. Phân tích thấu đáo của Roon về các trận hải chiến ở Thái Bình Dương đã cho thấy đỉnh cao chuyên môn quân sự của Đức, nên nhớ rằng Thái Bình Dương là một chiến trường cách xa chính quốc của họ. Bất cứ chỗ nào tôi cảm thấy không thể đồng tình với quan điểm của Roon, chú giải của tôi đều được in bằng phông chữ Tống để đánh dấu.
Tôi đã thêm vào phần đầu cuốn sách một bài viết mà Roon viết cho một tạp chí quân sự không lâu trước khi qua đời, lấy tiêu đề là "Biên bản Hội nghị Wannsee". Tôi cho rằng bài viết này nên được liệt vào danh sách tài liệu bắt buộc phải đọc đối với sinh viên năm nhất của tất cả các học viện quân sự.
Kể từ khi "Đế quốc thế giới đã mất" được xuất bản, tôi đã nhận được rất nhiều thư từ, có những lá thư đến từ bạn cũ và chiến hữu (trong đó có một vị tướng Liên Xô), họ bày tỏ sự ngạc nhiên trước việc tôi cam tâm tuyên truyền quan điểm của một tội phạm chiến tranh người Đức đã bị kết án. Tôi không hề biện hộ cho người Đức. Họ đã phát động cuộc chiến tội lỗi nhất trong lịch sử nhân loại, suýt chút nữa đã giành được thắng lợi, và dưới cái cớ bảo mật thời chiến đã phạm phải những tội ác chưa từng có tiền lệ. Tôi cho rằng chúng ta phải nghiên cứu trạng thái tâm lý của người Đức, trạng thái tâm lý dẫn đến những cuộc tấn công quy mô lớn (xét từ góc độ quân sự là xuất sắc), cũng như sự trung thành mù quáng của họ đối với một bạo chúa điên cuồng. Nếu không có những kẻ như Armin von Roon đi theo Hitler, chiến đấu đến cùng vì hắn, thì cuộc đời Adolf Hitler cũng chỉ làm được một kẻ khoác lác cuồng tín vô dụng, tuyệt đối không thể trở thành tên ác ma hùng mạnh nhất trong lịch sử, suýt chút nữa đã hủy diệt thế giới văn minh. Đây chính là lý do tại sao tôi dịch tác phẩm của Armin von Roon, cũng là lý do tại sao tôi cho rằng "Biên bản Hội nghị Wannsee" nên trở thành tài liệu bắt buộc đối với quân nhân.
Victor Henry, tại Oakton, Virginia, ngày 12 tháng 9 năm 1970.
Chú giải bản in lần thứ ba: Độc giả vẫn tiếp tục gửi thư, tranh luận với tôi như thể tôi và Armin von Roon cùng giữ chung quan điểm; thực ra, tôi dịch tác phẩm của ông ta chính vì quan điểm của ông ta khiến tôi vô cùng chấn động.
Với tư cách là một nhà phân tích quân sự chuyên nghiệp, Roon thường có những kiến giải sâu sắc, đôi khi rất cao minh. Những sự kiện ông dẫn chứng rất khó tìm ra sai sót. Nếu có sai sót, tôi đều chỉ ra trong phần chú giải. Tuy nhiên, cách ông giải thích những sự kiện này thường bị bóp méo bởi chủ nghĩa dân tộc Đức, thứ chủ nghĩa dân tộc chính là nguồn gốc sản sinh ra Hitler; nhưng nếu tôi đưa tất cả những ý kiến bất đồng của mình vào phần chú giải, thì dung lượng cuốn sách này sẽ phải tăng lên gấp đôi. Do đó, trong những trang sách này, bạn đang nhìn thấy một kiến giải đầy trí tuệ nhưng không hề bình thường. Nếu độc giả vô tình đồng tình với quan điểm của Armin von Roon, thì tốt nhất hãy tự kiểm điểm bản thân và tư tưởng của mình thật nghiêm túc; những độc giả không đồng tình với quan điểm của ông ta e rằng đều thuộc cùng phe với tôi.
Victor Henry, tại Oakton, Virginia, ngày 17 tháng 10 năm 1973.
"Biên bản Hội nghị Wannsee" - Tác giả: Tướng Armin von Roon. Các nhà văn quân sự thường né tránh mệnh đề của bài viết này, tuy nhiên vấn đề Do Thái có ảnh hưởng đến quá trình và hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ hai. Vấn đề này không thể mãi mãi không quan tâm tới. Người ta cũng không cần phải sợ hãi khi thực hiện một cuộc thảo luận thẳng thắn về vấn đề này, bởi vì nó chẳng hề tổn hại đến danh dự của quân nhân Đức.
Từ rất lâu trước đại chiến, chính sách dân tộc Do Thái của Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa đã gây ra sự hỗn loạn về quân sự. Mười một triệu cư dân tản cư khắp châu Âu từ lâu đã bị gọi là kẻ thù huyết thống của quốc gia chúng ta. Tại Đức, "Luật Nuremberg" đã sớm tước đoạt tư cách công dân và tư cách tham gia hoạt động thương mại cũng như các công việc chuyên môn của họ. Một khi Đế chế thứ ba tiến hành hành động quân sự để bình thường hóa châu Âu, chắc chắn ngay từ đầu phải đối phó nghiêm túc với đoàn thể kiều dân gắn kết chặt chẽ này trên khắp lục địa châu Âu, những người Do Thái có các mối quan hệ xã hội thông thiên và nguồn lực hùng hậu ở nước ngoài. Quân đội không thể truy cứu nguồn gốc của vấn đề này. Họ chỉ có thể xử lý vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia này tùy theo sự việc.
Chúng ta không thể không liệt người Do Thái vào nhóm tổ chức ngầm có tiềm lực, dù là về mặt nhân số, trí tuệ hay phương tiện vật chất, đều rất khó đối phó. Kẻ thù đáng sợ nhất thường là những kẻ liều lĩnh, họ chẳng còn gì để mất. Du kích của các dân tộc khác có thể thay đổi đối tượng trung thành, đứng về phía chúng ta. Người Do Thái thì không có lựa chọn này. Quân đội không có lựa chọn nào khác ngoài việc hợp tác với các biện pháp đặc biệt của chính quyền đối với người Do Thái.
Bản chất của những biện pháp này ra sao, không thuộc phạm vi chức trách của quân đội. Cùng thực thi nhiệm vụ này có các cơ quan cảnh sát liên bang khác nhau, như Cục An ninh Trung ương Đức, Gestapo, Cục An ninh SS, SS chính quy, v.v., đủ loại, mỗi bên đại diện cho các quý tộc phát xít tranh giành quyền lực. Tất cả các cơ quan này hội tụ thành một công cụ mạnh mẽ duy nhất để thực thi ý chí của Adolf Hitler, bởi vì chính sách liên quan đến người Do Thái là do một mình Adolf Hitler đưa ra. Bản chất của chính sách này chính là tiêu diệt dân tộc Do Thái ở châu Âu. Cần chỉ ra rằng chính sách này đã thất bại. Mặc dù chính quyền Hitler thống trị lục địa châu Âu gần bốn năm, khoảng một nửa số người Do Thái ở châu Âu vẫn thoát chết. Việc thực thi chính sách này từ đầu đến cuối đều bị phá hỏng bởi chủ nghĩa quan liêu, hoàn toàn không liên quan đến quân đội.
Thực tế, cho đến khi đại chiến kết thúc, quân đội các nước chiến thắng vạch trần bí mật của cái gọi là trại tử thần, thì quân đội Đức, từ cấp bộ binh thấp nhất cho đến những tướng lĩnh cao cấp nhất trong Bộ tư lệnh tối cao, mới nghe phong phanh về mục đích thực sự của Hitler.
Về tài liệu của chính sách bí mật này, những thứ còn sót lại sau kiếp nạn tất nhiên không nhiều. Bởi vì việc thực thi chính sách này vô cùng cẩn trọng. Các mệnh lệnh then chốt đều được truyền đạt bằng miệng, "chỉ anh biết tôi biết". Những tài liệu giấy trắng mực đen quả thực rất hiếm, đến mức một số nhân vật có thẩm quyền sau khi suy nghĩ điềm tĩnh đều kiên quyết cho rằng, cái gọi là "diệt chủng" kia, căn bản hoàn toàn là hư cấu. Theo luận điệu này, ngoài mấy trăm nghìn người Do Thái ra, tất cả những người Do Thái khác thực tế đều đã trốn sang Liên Xô, trốn sang phương Tây, hoặc trốn sang Palestine; cái gọi là trại tử thần chẳng qua chỉ là trại tập trung giam giữ những kẻ phạm pháp mà thôi, điều kiện ở đó khắc nghiệt là chuyện đương nhiên; còn lò hỏa táng chẳng qua chỉ là một thiết bị vệ sinh thông thường chuyên để hỏa táng những người chết vì bệnh truyền nhiễm mà thôi.
Đáng tiếc là, những ghi chép bằng văn bản này tuy ít ỏi, nhưng lại đưa ra tình huống ngược lại. Ví dụ, danh sách tử tù còn sót lại hiện nay đánh dấu số người bị xử tử rất ít; mà hàng nghìn tù nhân thường chết cùng một ngày vì "suy tim". Rõ ràng tình trạng suy tim hàng loạt cùng lúc như vậy nhất định phải có nguyên nhân gây ra. Cố tình tách biệt những người chết như vậy với những người bị kết án tử hình, không khác gì việc phân tích quá kỹ lưỡng để truy cứu trách nhiệm pháp lý.
Hơn nữa, còn có các tài liệu của SS thảo luận về hiệu quả gây tử vong không đau đớn của khí độc "Zyklon B", đem nó so sánh với việc bắn súng và làm ngạt bằng khí carbon monoxide, v.v., v.v., và còn có thư từ qua lại chi tiết giữa các nhà sản xuất công nghiệp Đức với các sĩ quan SS về việc thiết kế và xây dựng các lò hỏa táng quy mô cực lớn, v.v., v.v. Tất cả những tài liệu xác thực không thể nghi ngờ này đều cho thấy, có một kế hoạch có tổ chức về việc sản xuất và xử lý hàng loạt xác chết con người. Do đó, người ta không thể không thừa nhận quả thực đã có cách làm tiêu hủy xác chết.
Trong những tài liệu Đức còn sót lại này, không có văn bản nào nói rõ vấn đề hơn "Biên bản Hội nghị Wannsee ngày 20 tháng 1 năm 1942".
"Biên bản Hội nghị Wannsee" nhờ vào việc các mặt trận của chúng ta sụp đổ đột ngột, bản biên bản hội nghị này mới có cơ hội nhìn thấy ánh mặt trời. Nhiều tài liệu tuyệt mật nặng hàng tấn của nước ta, theo thông lệ bảo mật tiêu chuẩn lẽ ra nên bị tiêu hủy, nay đều rơi vào tay ba nước Mỹ, Anh, Xô mà vẫn còn nguyên vẹn. "Biên bản Hội nghị Wannsee" chính là một trong số đó.
Giả sử Moscow đột ngột rơi vào tay Tập đoàn quân trung tâm của chúng ta vào tháng 12 năm 1941, thì những tài liệu tổn hại danh dự tương tự cũng sẽ rơi vào tay chúng ta. Stalin là một nhân vật tàn nhẫn không kém gì Hitler. Ông ta ra lệnh tiến hành nhiều cuộc thảm sát bí mật quy mô lớn đối với chính người dân Nga của mình, và tay sai của ông ta đều ngoan ngoãn làm theo. Ước tính số người bị giết lên tới sáu mươi triệu! Thế nhưng cho đến nay cũng không có một hồ sơ chính thức nào vạch trần chuyện này để làm chấn động thế giới. Do đó, cũng không có ai vu khống người dân Nga là dân tộc hung thủ giết người.
Hơn nữa, giả sử chúng ta thực hiện theo phương án mà tôi đã ra sức cổ xúy một cách vô ích vào tháng 6 năm 1940, vượt eo biển Manche thực hiện cuộc tấn công chớp nhoáng vào nước Anh, chiếm đóng London thì sao? Như vậy, có hồ sơ nào đáng xấu hổ ở Whitehall có thể thoát khỏi sự vạch trần của chúng ta? Ở Ấn Độ, ở Ai Cập, ở Malaya, ở Nam Phi, thực tế bất cứ nơi nào chủ nghĩa đế quốc Anh cắm cờ, bất cứ nơi nào người dân địa phương vùng lên phản kháng, không muốn bị vắt kiệt mồ hôi nước mắt để nuôi béo người Anglo-Saxon, vì thế mà bị quân đội Anh đàn áp dã man, những sự kiện kinh hoàng này vốn dĩ đều có hồ sơ để tra cứu. Nhưng ngày nay những chuyện này vẫn là một bí mật bị che đậy.
Chỉ có Đức mới phải chịu nỗi nhục bị vạch trần hồ sơ nước mình. Chỉ có Đức mới bị phơi bày dưới ánh sáng ban ngày. Ngay cả nước bại trận Nhật Bản cũng được phép giữ lại Thiên hoàng và bộ máy chính quyền của họ, nhờ vậy họ có thể che giấu các tài liệu liên quan đến sự kiện thảm sát Nam Kinh và cuộc hành quân tử thần ở Bataan.
Thực ra những tài liệu kiểu "Biên bản Hội nghị Wannsee" đều tồn tại trong hồ sơ bí mật của mỗi quốc gia. Nhân tính thiên hạ ở đâu cũng như nhau. Hãy để nước Mỹ công khai hồ sơ về việc chính mình diệt chủng người da đỏ, công khai hồ sơ về việc chính mình cướp Texas từ tay Mexico, công khai hồ sơ về việc chính mình bức hại người Mỹ gốc Nhật sau sự kiện Trân Châu Cảng đi. Sau đó hãy để chúng ta xem những sự thật này so với sự thật mà "Biên bản Hội nghị Wannsee" vạch trần rốt cuộc như thế nào.
Biên bản hội nghị Wannsee này là tài liệu mật in ronéo dài tổng cộng 15 trang, do các điều tra viên Mỹ phát hiện khi xem xét số lượng lớn hồ sơ của Bộ Ngoại giao nước ta bị thu giữ. Có một chú thích ghi rằng ban đầu in 30 bản. Ngày nay chỉ còn lại bản số 16 của Bộ Ngoại giao mà thôi. Các học giả lịch sử thế giới muốn hiểu sâu về chính sách Do Thái của Hitler đều dựa vào manh mối nhỏ bé như sợi chỉ này. Bí mật suýt chút nữa đã được giữ kín!
Tài liệu ghi lại một cuộc họp được tổ chức vào ngày 20 tháng 1 năm 1942, không lâu sau khi Mỹ tham chiến, tại tòa nhà trụ sở Tổ chức Cảnh sát Quốc tế ở khu Wannsee, Berlin. Chủ tịch hội nghị là Heydrich, một sĩ quan hải quân từng bị cách chức vì bê bối, trong thời đại Đức Quốc xã hỗn loạn đã trở thành thủ lĩnh cảnh sát an ninh và người đứng đầu Cục An ninh Trung ương Đức. Tên Heydrich này đứng dưới Himmler không được lòng người trong SS, là nhân vật số hai. Ngay từ đầu năm 1942, SS đã nắm giữ quyền hành của các bộ phận an ninh và cảnh sát nước ta. Vì vậy khi Heydrich triệu tập cuộc họp này, các thứ trưởng các bộ đều vội vã đến. Họ đã gặp gỡ bảy nhân viên SS trong khoảng một tiếng rưỡi, một trong số đó là Trung tá Adolf Eichmann làm thư ký hội nghị. Biên bản hội nghị này được Heydrich duyệt lại, trở thành "Biên bản Hội nghị Wannsee".
Tám vị quan chức cấp cao này đến từ Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ các vấn đề vùng lãnh thổ chiếm đóng phía Đông, Tổng đốc Ba Lan, Phủ Thủ tướng Đức và Văn phòng đại diện toàn quyền Kế hoạch bốn năm, v.v. - thực tế, ngoại trừ Lực lượng Vũ trang, mỗi bộ phận chính phủ quan trọng đều có người tham gia. Không có bằng chứng nào chứng minh bất kỳ nhân viên nào của Lực lượng Vũ trang biết về việc tổ chức cuộc họp này.
Đây là sự thật nghiệt ngã mà "Biên bản Hội nghị Wannsee" vạch trần. Danh dự của quốc gia Đức được ủy thác cho Lực lượng Vũ trang chúng ta, mà Lực lượng Vũ trang chúng ta lại hoàn toàn không biết gì. Đây là một cuộc họp liên tịch giữa cảnh sát mật và bộ máy quan liêu liên bang. Tài liệu Eichmann-Heydrich đã chứng minh điều này.
Lời người dịch tiếng Anh: Tướng von Roon trong tác phẩm của mình thường không dựa vào việc bịa đặt sự thật để thoái thác trách nhiệm. Tuy nhiên, ở đây ông không đóng vai trò là một nhà sử học quân sự, mà là một luật sư biện hộ đặc biệt. Thực tế, mặc dù không có đại diện của Lực lượng Vũ trang Đức tham dự hội nghị Wannsee, quân đội Đức quả thực đã từng tham gia thực thi chính sách đối với người Do Thái, tài liệu lịch sử này là xác thực và đáng buồn. — V. Henry.
Heydrich triệu tập cuộc họp này dường như là để lấy lòng cấp trên của mình. Sáu tháng trước, vào ngày 31 tháng 7 năm 1941, khi chúng ta tiến hành cuộc tấn công lớn vào Liên Xô, Thống chế Đức Hermann Göring đã ra lệnh trong một bức thư tuyệt mật rằng ông ta phải tổ chức sắp xếp vấn đề đối phó với người Do Thái; khi cần thiết thì hấp thụ các bộ phận khác của chính phủ tham gia; và "càng sớm càng tốt" nộp một bản dự thảo cho Göring, ghi rõ đã thực hiện hành động gì, và các kế hoạch tiếp theo là gì. Mặc dù theo thông lệ của SS, những việc kiểu này không được viết ra giấy, sự ra đời của "Biên bản Hội nghị Wannsee" rõ ràng là vì muốn Göring có ấn tượng sâu sắc với sự nịnh bợ của Heydrich.
Göring đã sử dụng cụm từ "Giải pháp triệt để cho vấn đề Do Thái" trong thư từ. Kể từ khi biên bản hội nghị được vạch trần: cụm từ "Giải pháp triệt để" đã mang hàm ý khó chịu trong các tác phẩm phản Đức. Heydrich thường sử dụng một thuật ngữ chính xác hơn: "Giải pháp khu vực". Bài viết này sử dụng thuật ngữ này.
Giải pháp khu vực: Những năm đó, trong các bài phân tích chính sách khác nhau, đã xuất hiện ba cách giải quyết vấn đề Do Thái: giải pháp di cư, giải pháp trục xuất và giải pháp khu vực.
Ban đầu, những kẻ phát xít cho rằng một khi chúng nắm được quyền lực, hầu hết người Do Thái sẽ di cư ra nước ngoài. Thế nhưng kết quả là, người Do Thái ở Đức lại không muốn từ bỏ quê hương và sự nghiệp của mình, cũng như mộ phần tổ tiên, ngay cả khi luật Nuremberg của Hitler đã hạ thấp họ thành những kẻ hạ đẳng. Họ hy vọng chính quyền phát xít chỉ là một cơn bão đi qua trong chớp mắt. Người Do Thái ở những nơi khác của châu Âu xem ra cũng chẳng có ai nghĩ rằng sẽ xảy ra đại chiến, cũng chẳng có ai nghĩ rằng một khi chiến tranh nổ ra, Đức sẽ giành chiến thắng. Do đó, số người Do Thái ở lại Đức nhiều hơn rất nhiều so với số người rời khỏi Đức. Bên ngoài biên giới Đức, sự di cư của người Do Thái là không đáng kể.
Tuy nhiên, ngay cả đối với thiểu số người Do Thái muốn rời đi, giải pháp di cư cũng đi vào ngõ cụt. Nếu Đức không còn hoan nghênh người Do Thái, thì xem ra những nơi khác cũng không mấy hoan nghênh. Sau khi Hitler lên nắm quyền, các nước Tây Âu hạn chế việc nhập cảnh của người Do Thái ngày càng nghiêm ngặt. Những quốc gia dân cư thưa thớt, lãnh thổ rộng lớn ở Thế giới mới, dưới sự dẫn đầu của Mỹ - "nơi trú ẩn của nhân loại bị áp bức", đã lần lượt đóng sầm những cánh cửa sắt trước mặt người Do Thái. Đây là một chương đen tối trong lịch sử đối xử vô nhân đạo giữa người với người.
Đến khi chính quyền Hitler hiểu rằng người Do Thái không muốn di cư ra nước ngoài, và phát hiện ra rằng dù sao cũng khó có thể tìm cách tiến vào nước khác, lúc này giải pháp trục xuất mới được đưa ra, tức là cưỡng bức họ di cư. Vấn đề nan giải là: đi đến đâu?
Trong tất cả các kế hoạch trục xuất, tài liệu còn sót lại hiện nay nổi bật nhất là kế hoạch Madagascar. Vấn đề cưỡng bức người Do Thái ở châu Âu định cư trên hòn đảo thuộc Pháp bên bờ biển Nam Phi này đã từng được xem xét khá kỹ lưỡng. Nhưng do muôn vàn khó khăn - thiếu tàu thuyền để vận chuyển 11 triệu người này, kẻ thù kiểm soát mặt biển, chi phí khổng lồ, lại sợ đắc tội với chính phủ Vichy của Pháp mà nước ta đang tìm cách hợp tác toàn lực, và hòn đảo nhiệt đới chưa được khai phá này không thích hợp cho người châu Âu sinh tồn - nên rất khó nói rõ vấn đề mà quy hoạch này gây ra nghiêm trọng đến mức nào. Phía hải quân sau đó đã chỉ ra với Hitler rằng, có một ngày Anh sẽ đổ bộ lên Madagascar để bảo vệ tuyến đường biển của họ ở Ấn Độ Dương, lúc này mọi cuộc bàn tán về việc sắp xếp người Do Thái trên đảo mới chấm dứt. Quốc trưởng tuyên bố, Anh chỉ "gieo rắc những vi khuẩn gây hại này trở lại toàn thế giới".
Sự việc cứ thế phát triển đến mức chỉ có thể giải quyết tại chỗ trên mảnh đất châu Âu. Thế là nảy sinh giải pháp khu vực. Heydrich đã vén bức màn che phủ bí mật này tại Wannsee, để các quan chức liên bang có thể hiểu rõ một lần cho mãi mãi bản chất công việc mà họ phải làm.
Phương án: Lẽ ra trong thế kỷ hai mươi không nên cho phép sự tồn tại của phương án tàn khốc này. Thật đáng tiếc! Cologne, Dresden, Katyn và Hiroshima cho thấy tình trạng suy đồi đạo đức trong thời chiến này quả thực không chỉ giới hạn ở Đức. Giải pháp khu vực cho vấn đề Do Thái là một phương án thiếu suy nghĩ, là do đám quan chức ngồi văn phòng ở Berlin không có trách nhiệm và không có năng lực nghĩ ra. Từ góc độ hành chính, phương án này từ đầu đến cuối đều làm hỏng bét. Giống như hầu hết các kế hoạch mà người ta ngồi trong những căn phòng tiện nghi ở tòa nhà chính phủ nghĩ ra, nhìn thì có vẻ hợp tình hợp lý, trật tự đâu ra đấy, nhưng vừa đến hiện trường là đâm đầu vào tường. Trong quá trình thực thi, quả thực có rất nhiều người Do Thái mất mạng, nhưng nhìn chung, đây là một thất bại đáng xấu hổ chưa từng có.
Chìa khóa của giải pháp khu vực nằm ở việc chúng ta chiếm đóng được những vùng đất rộng lớn vào năm 1941. Cuối cùng cũng đã tìm được vùng lãnh thổ chiếm đóng phía Đông là nơi có thể đưa người Do Thái đến. Bởi vì nơi này không cần phải thương lượng với chính phủ nào, không cần phải xoa dịu người dân địa phương. Đây là nửa lục địa châu Âu nằm dưới họng súng của Đức, dân cư thưa thớt.
Heydrich đã đưa ra một kế hoạch đơn giản hợp tình hợp lý nhất. Phải "dọn dẹp" người Do Thái ở châu Âu từ phía Tây sang phía Đông, tạm thời tập trung tại khu cách ly người Do Thái quá cảnh, sau đó chia thành các đội lao động khổng lồ theo giới tính, vận chuyển đến vùng lãnh thổ chiếm đóng phía Đông. Đến đó bắt họ làm đường, vì mục đích quân sự, khu vực lạc hậu này rất cần đường cao tốc. Trong quá trình thực hiện hành động này, "đa số người Do Thái chắc chắn sẽ chịu sự đào thải của các yếu tố tự nhiên", như do điều kiện sống tồi tệ và lao động làm suy yếu thể lực, v.v. Còn về thiểu số những người đã qua thử thách, thoát chết, Heydrich nói thẳng thắn, chỉ đành phải "xử lý tương ứng" với họ, bởi vì đào thải tự nhiên kết quả chứng minh họ là những kẻ ngoan cố, không xử lý họ, họ sẽ tạo thành mầm mống cho sự hồi sinh của dân tộc Do Thái. Đây chính là tư tưởng tàn nhẫn không chút tình người của chính quyền lúc bấy giờ.
Phản ứng nhất trí của các quan chức nội các là sự nhiệt tình cao độ, lần lượt đưa ra đề nghị để cải thiện hoặc đẩy nhanh việc thực thi kế hoạch. Hội nghị kết thúc trong bầu không khí đồng thuận tốt đẹp, sau hội nghị còn tổ chức tiệc rượu ngon món lạ theo thông lệ của quan trường cấp trên.
Tuy nhiên, phương án này hầu như ngay từ đầu đã không thực hiện được. Các đội lao động căn bản không được thành lập. Đường cao tốc cũng không được xây dựng. Từ năm 1943, trong quá trình quân đội ta rút lui vội vã khỏi Nga, quân đội cảm nhận sâu sắc nỗi khổ khi phương án đó không thể thực hiện. Quả thực, người Do Thái trên khắp châu Âu đều bị tập trung lại, đóng gói vận chuyển đến phía Đông, vận chuyển đến khu cách ly người Do Thái quá cảnh ở Ba Lan. Thế nhưng họ cứ ở đó - số lượng người tị nạn bị giam giữ này khổng lồ, gây ra một gánh nặng cực lớn về nhân lực vật lực cho Đức, về mặt vệ sinh và trị an cũng tạo thành một mối đe dọa ngày càng nghiêm trọng cho hậu phương.
Những biên bản hội nghị SS sau đó hiện nay không còn một bản nào, không thể giải thích tại sao lại từ bỏ kế hoạch của Heydrich. Giải pháp khu vực bị thay đổi diện mạo một cách hỗn loạn, biến thành việc xây dựng các nhà máy lớn gần khu cách ly người Do Thái quá cảnh ngày càng mở rộng, và sử dụng lao động cưỡng bức của người Do Thái tại chỗ. Họ cố gắng thực hiện sự suy giảm nhân số tự nhiên đã dự tính thông qua các biện pháp như cắt giảm dinh dưỡng, tăng cường tiến độ lao động, v.v. Thế nhưng muốn nhổ tận gốc, sắp xếp lại 11 triệu dân cư, rốt cuộc là một công việc hành chính không thể tưởng tượng nổi, hoàn toàn không phải là thứ mà đám người ngu ngốc ở Berlin phụ trách quy hoạch này có thể giải quyết được, kết quả đúng như đã nói ở trên, một nửa số người Do Thái đã thoát khỏi kiếp nạn này. Số người tử nạn vì quy hoạch này không quá 5,5 triệu, mức ước tính cao nhất là 6 triệu.
Xử tử giảm nhẹ đau đớn: Chúng ta cho đến nay vẫn chưa rõ rốt cuộc là khi nào chuyển sang sử dụng phòng hơi độc để gây tử vong không đau đớn (xử tử giảm nhẹ đau đớn), cũng không rõ là làm thế nào để làm như vậy. Người ta tồn tại sự hiểu lầm và diễn giải sai lệch phổ biến đối với vấn đề không rõ ràng này.
Kế hoạch này của Heydrich do một đám quan liêu sống trong nhung lụa bày ra, họ không phải chịu đựng khổ sở, không nếm trải đắng cay, cũng chẳng bao nhiêu lần vào sinh ra tử như những người lính. Kết quả là, kế hoạch này trở thành một tấn trò đời lố bịch và hoang đường đến tột cùng. Khả năng thích nghi của tinh thần và thể xác con người thật sự kinh ngạc. Tù binh đã nhẫn nhịn chịu đựng điều kiện sống tồi tệ suốt nhiều năm trời. Họ gần như học được cách dùng bất cứ thứ gì để ăn uống. Dưới sự thúc đẩy của bản năng sinh tồn, nhu cầu của thân xác vốn đã cạn kiệt sức lực của họ gần như giảm xuống bằng không. Tất cả những hiện tượng này đều xảy ra tại các khu cách ly Do Thái. Tốc độ đào thải tự nhiên diễn ra chậm chạp, gây ra bao phiền toái. Đột nhiên dịch bệnh lan tràn, mầm bệnh vốn chẳng phân biệt kẻ bắt tù binh hay người bị bắt. Do đó, những người Do Thái ốm yếu trở thành mối đe dọa thường trực đối với cư dân địa phương và lực lượng vũ trang của chúng ta.
Những diễn biến này rõ ràng đã nảy sinh suy nghĩ: dù sao những người này cũng đã bị tuyên án tử hình, vậy tại sao không dùng một phương pháp gây tử vong nhanh chóng, không đau đớn để họ đỡ phải chịu khổ sở lâu dài? Đồng thời, chẳng phải cũng có thể trút bỏ được một gánh nặng lớn cho quân đội chúng ta hay sao? Gánh nặng này nặng nề đến mức lúc đầu chúng ta không hề lường trước được.
Thực tế, lý do sử dụng phòng hơi ngạt hoàn toàn dựa trên tinh thần nhân đạo chủ nghĩa này. Cứu mạng người Do Thái là điều căn bản không thể làm được. Adolf Hitler đích thân hạ lệnh tiêu diệt họ, ý chí của ông ta chính là luật pháp. Người ta chỉ có thể thực thi bằng cách chính đáng, thực dụng và văn minh nhất. Sự thật không thể chối cãi về việc một triệu trẻ em đã bị đầu độc chết theo cách đó từ lâu đã bị tuyên truyền rầm rộ, nghĩ lại chuyện này thật đáng tiếc. Thế nhưng, chết đói dần mòn đối với trẻ em sẽ là một cái chết chậm đau đớn hơn nhiều, và cha mẹ chúng cũng phải chịu đựng nỗi đau khi tận mắt nhìn con mình gầy mòn mà chết.
Về phần cướp bóc những người Do Thái mới đến, thậm chí cướp bóc cả thi thể những người xấu số, hành vi này quả thực không thể tha thứ. Lực lượng SS đã tích lũy được khối tài sản khổng lồ trị giá hàng chục tỷ Mark bằng cách này, nhưng liệu điều đó có lợi gì cho công cuộc tác chiến của Đức hay không vẫn là một dấu hỏi, bởi cơ quan đặc vụ của Himmler - Heydrich vốn lộng hành, tham ô hủ bại. Còn về truyền thuyết dùng thi thể người để làm xà phòng, đó tất nhiên là chuyện nhảm nhí mà phía Anh lại nhai lại từ thời Thế chiến thứ nhất.
Ảnh hưởng quân sự: (Một) Nhân lực. Đây không phải là vấn đề hậu phương không có ảnh hưởng quân sự. "Giải pháp khu vực" đã gây tổn hại trực tiếp đến các hoạt động quân sự của chúng ta.
Tổn thất lớn nhất nằm ở phương diện nhân lực. Một số lượng lớn đàn ông Đức khỏe mạnh đã bị rút khỏi các nhiệm vụ chiến đấu để quản lý người Do Thái. Các đội lùng bắt, cai ngục trại tập trung, v.v., đều được tuyển mộ từ cư dân địa phương. Mặc dù vậy, vẫn có đến vài sư đoàn người Đức không ra trận mà chỉ bận rộn với các công việc liên quan đến người Do Thái trong các cơ quan chính phủ và trại tập trung.
Vấn đề thiếu hụt nhân lực cũng thường xuyên xảy ra trong các nhà máy của chúng ta. Tù binh và lao động cưỡng bức từ các vùng bị chiếm đóng chỉ làm việc với thái độ nửa vời, hơn nữa dù có bắn chết bao nhiêu người đi chăng nữa, họ vẫn kiên trì thực hiện các hành vi phá hoại. Ngược lại, người Do Thái lại là nguồn nhân lực dồi dào, có thợ lành nghề, có chuyên gia, nam nữ đều học rất nhanh các công việc kỹ thuật. Thực tế, trước khi các đội lùng bắt tàn nhẫn đến đưa họ đi, họ đã được sử dụng như vậy. Họ ít thực hiện các hành vi phá hoại. Trái lại, họ làm việc rất xuất sắc, điều này cho thấy họ đang cố gắng hết sức để giữ lấy mạng sống của mình và người thân. Chúng ta cứ thế mà đánh mất hàng triệu nguồn lao động vô cùng đáng tin cậy, động cơ cao thượng và năng suất cao.
Điểm cuối cùng, dưới sự cai trị của chủ nghĩa Quốc xã, coi thường năng lực chiến đấu của người Do Thái là một xu hướng phổ biến. Dưới sự quản giáo của SS, họ trông có vẻ là một đám người nhu mì, phục tùng và không thể đánh trả. Thế nhưng, tình trạng này có thể xoay chuyển 180 độ một cách kinh ngạc, điều này đã được chứng minh qua những gì xảy ra ở Palestine sau chiến tranh. Giá như lúc đó chúng ta có thể sử dụng một hai triệu chiến sĩ có tố chất như quân đội Do Thái hiện nay trên mặt trận phía Đông thì tốt biết mấy! Lúc bấy giờ, suy nghĩ này sẽ bị coi là trò đùa. Ngày nay, hối hận đã muộn, chúng ta chỉ có thể bày tỏ sự kinh ngạc mà thôi.
Ảnh hưởng quân sự: (Hai) Quân nhu và hậu cần. Gánh nặng gây ra cho vận tải đường sắt lúc bấy giờ thật không thể tưởng tượng nổi, và nó mang tính thường xuyên. Bất kể đoàn tàu có bị nhồi nhét đầy ắp thế nào – sự quá tải này là điều ai cũng biết – thì việc phần lớn toa xe bị chiếm dụng vẫn luôn là một vấn đề nghiêm trọng. Tiền tuyến luôn không đủ toa xe và đầu máy. Binh sĩ các sư đoàn tác chiến ngồi run cầm cập ở các nhà ga hậu phương, trong khi các đoàn tàu chuyên dụng để vận chuyển người Do Thái lại chất đầy ắp, bánh xe lăn bánh về phía Đông, rồi trở về trống rỗng, không dùng vào việc gì khác. Việc sử dụng phi tác chiến này có một quyền ưu tiên bí mật áp đảo, quyền ưu tiên mà ở Mỹ chỉ dành cho đơn vị chế tạo bom nguyên tử.
Ảnh hưởng quân sự: (Ba) Sĩ khí. Mặc dù ý đồ cuối cùng của chính sách này luôn được giữ bí mật, nhưng nhiều đơn vị quân đội Đức đã tận mắt chứng kiến việc thực thi. Điều này là có hồ sơ ghi chép. Đáng tiếc là, một số đơn vị cũng bị lôi kéo vào, không chỉ góp sức trong việc vận chuyển hoặc canh giữ người Do Thái, mà còn phục vụ trong cả quá trình tàn sát.
Các chỉ huy quân đội địa phương đôi khi cũng cung cấp và vận chuyển các đội hành quyết lưu động, bởi họ đang làm việc công. Những đội hành quyết SS này, gọi là "Einsatzgruppen", đi sát theo sau quân đội chúng ta tiến vào nước Nga. Để tiêu diệt hoạt động du kích ngay từ trong trứng nước, họ được lệnh có thể bắn chết các chính ủy mà không cần xét xử; đây chính là "Lệnh Chính ủy" nổi tiếng ban hành tháng 3 năm 1941. Họ còn được lệnh tiêu diệt ngay lập tức bất cứ người Do Thái nào tìm thấy vì coi đó là mối đe dọa chính đối với an ninh nước Đức. Cư dân địa phương đều vui vẻ, tự nguyện gia nhập đội hành quyết để đối phó với người Do Thái tại địa phương, kết quả là những sự việc kinh hoàng liên tiếp xảy ra, đặc biệt là ở Lithuania, Romania và Hungary. Hàng trăm nghìn người Do Thái trong phạm vi quân quản đã bị các đội hành quyết Đức tương đối có kỷ luật bắn chết một cách có kế hoạch.
Người lính Đức không thể luôn tránh được việc nhìn thấy những gì đang xảy ra. Trong một vài trường hợp, có cả những chỉ huy quân đội địa phương bị tư tưởng sai lệch dẫn dắt đã cho phép quân của mình - thậm chí ra lệnh cho quân của mình - tham gia vào cuộc tàn sát. Kết quả là sự thật rành rành, còn có cả ảnh làm chứng: những người lính mặc quân phục quân đội Đức đang bắn chết những phụ nữ Do Thái đang ôm con trong tay. Những sự kiện kiểu này chắc chắn đã gây ra tác động làm tan rã sĩ khí trong hàng ngũ chúng ta, và khiến mọi người nảy sinh nghi ngờ về mục đích chiến đấu của chúng ta. Một quân đội xuất hiện tình trạng này, tinh thần chiến đấu đã bị hủy hoại. Cũng như nhiều khía cạnh khác của "Giải pháp khu vực", tác động phá hoại sĩ khí quân đội này không thể diễn đạt bằng phần trăm hay những con số biết nói khác. Tuy nhiên, đây là một nhân tố thực tế ở mặt trận phía Đông. Giống như chủ nghĩa thất bại, việc thiếu tự tin gây ảnh hưởng đến phương diện tác chiến tuy không nhìn thấy, không chạm tới được, nhưng lại vô cùng to lớn.
Một quân nhân được huấn luyện là để giết người. Là lấy mạng mình đổi lấy mạng địch; đây là nguyên tắc làm lính chính đáng nhất. Người lính đôi khi cũng phải thực hiện những nhiệm vụ đáng tiếc, bẩn thỉu hơn. Họ phải bắn chết những điệp viên hoặc du kích bị bịt mắt, không thể tự vệ, đang đứng chờ chết. Theo lệnh, đôi khi họ phải treo cổ những chàng trai, cô gái và phụ nữ vốn có thể trở thành chiến sĩ du kích giỏi. Nhưng điều này không có nghĩa là người lính luôn chịu đựng được những công việc đó, đặc biệt là một người lính Đức, được huấn luyện vừa phải dũng mãnh thiện chiến trên chiến trường, vừa phải giữ gìn phẩm giá, biết liêm sỉ. Về điểm này, những tội lỗi mà Đức Quốc xã gây ra cho thế hệ trẻ nước Đức chúng ta là không thể quên, và cũng không thể tha thứ.
Bản chất của kẻ thù. Vậy nên chúng ta quay lại cốt lõi của toàn bộ vấn đề: "Giải pháp khu vực" này dù đầy rẫy tệ hại, rốt cuộc có phải là một biện pháp an ninh thời chiến hoàn toàn cần thiết? Chẳng lẽ người Do Thái thực sự là kẻ thù căn bản gây nguy hại cho an ninh đế quốc như Hitler giả định? Trong vấn đề này lại kéo theo một câu hỏi khác - "Đế quốc nào?"
Kể từ sau Cách mạng Pháp, chúng ta xuất hiện hai khái niệm đế quốc không thể điều hòa về mặt triết học và chính trị.
(A) Khái niệm chủ nghĩa tự do: Một đế quốc yêu chuộng hòa bình, về văn hóa chủ trương mở cửa đối ngoại, bao dung tiếp thu, trao cho người Do Thái quyền tự do, xây dựng thể chế dân chủ tư sản theo gương Pháp và Anh, khiến nước Đức rơi vào vị thế thứ yếu về quân sự.
(B) Khái niệm chủ nghĩa quốc gia: Đế quốc như một thế lực thế giới mới nổi, người thừa kế tự nhiên của Đế quốc Anh; xây dựng một nền văn hóa Đức gột rửa hết màu sắc ngoại lai; dựa theo tư tưởng "toàn dân là binh" của những người theo chủ nghĩa Bonaparte, xây dựng lực lượng vũ trang; trung thành mù quáng với nhà vua, với đất nước, với những đức tính cổ xưa của Cơ Đốc giáo.
Trên cả hai tư tưởng này, chủ nghĩa xã hội đột nhiên trỗi dậy, nó mang theo thứ hỗn hợp đầy cảm tính và độc hại của tình huynh đệ bốn phương, chủ nghĩa bình quân và xóa bỏ tư hữu. Nhưng chủ nghĩa quốc gia mới là tinh túy thực sự của nước Đức. Bất cứ khi nào đế quốc chủ nghĩa quốc gia chiếm ưu thế - như năm 1866, 1870 đến 1871, 1914, 1917 - chúng ta đều mạnh mẽ và chiến thắng. Bất cứ khi nào các phần tử tự do và xã hội chủ nghĩa lộ diện, nước Đức đều phải chịu khổ nạn.
Hoàn toàn nhờ vào thiên tài chính trị của Adolf Hitler, đã hòa quyện bí ẩn của đế quốc chủ nghĩa quốc gia cùng sức hấp dẫn cổ vũ dân thường của chủ nghĩa xã hội. Thế là chủ nghĩa xã hội quốc gia ra đời, một phong trào quần chúng dễ bùng nổ. Thứ chủ nghĩa xã hội cải lương này của Hitler sẽ không gây ra sự phản đối từ phía quân đội. Chủ nghĩa xã hội đó chính là thực hiện kiểm soát kinh tế nghiêm ngặt, áp dụng các biện pháp cơ bản về việc làm, y tế và phúc lợi cho toàn thể nhân dân ngoại trừ người Do Thái.
Tuy nhiên, người Do Thái lại là trụ cột của chủ nghĩa tự do Đức. Chủ nghĩa tự do đã trao cho họ quyền công dân và ưu đãi. Chủ nghĩa tự do để họ tự do phát huy sức lực và trí tuệ trong giới tài chính, giới nghề tự do và giới nghệ thuật. Những kẻ từng bị phân biệt đối xử này, lúc đó xuất hiện khắp nơi - hưng thịnh phát đạt, vẻ ngoài đầy màu sắc ngoại lai, giữ vị trí quan trọng, không chút kiêng dè phô trương sự giàu có mới nổi của mình. Đối với người Do Thái, chủ nghĩa tự do là vị cứu tinh của họ. Vì vậy, đối với một người hiến dâng cho chủ nghĩa quốc gia như Adolf Hitler, người Do Thái trông như kẻ thù căn bản vậy.
Nói ra thật đau lòng, mọi hành động đều xuất phát từ quan điểm này.
Sức mạnh thực sự của người Do Thái. Thế nhưng trước một sự thật lịch sử khách quan, mọi nỗ lực biện minh cho "Giải pháp khu vực" đều thất bại. Sự thật chứng minh người Do Thái không có khả năng tự cứu mình, cũng không có khả năng thúc đẩy người khác cứu họ; mà bản năng tự vệ chính là thước đo cho sức mạnh thực sự của một dân tộc.
Người Do Thái ngoài tầm tay của Hitler chỉ có thể đứng nhìn bất lực, nhìn anh em ruột thịt của mình ở châu Âu rơi vào kết cục không rõ ràng và đáng sợ. Vậy thì lập luận mà Hitler coi là tín ngưỡng, cái gọi là người Do Thái kiểm soát chặt chẽ thế giới phương Tây về mặt chính trị rốt cuộc căn cứ vào đâu? Người Do Thái vừa không thuyết phục được một quốc gia nào mở cửa cho họ, cũng không mua chuộc được quốc gia nào làm vậy, ngay cả với một nước cộng hòa nhỏ bé ở Nam Mỹ cũng không có tác dụng, vậy thì cái gọi là tài sản vô tận của họ rốt cuộc nằm ở đâu? Năm 1944, khi bí mật bắt đầu rò rỉ, họ khẩn khoản cầu xin người Anh, Mỹ ném bom Auschwitz, kết quả là phí lời, vậy thì cái gọi là ảnh hưởng len lỏi khắp nơi của họ rốt cuộc ở đâu?
Những việc này đều là điều hiển nhiên. Hitler đã thổi phồng mối đe dọa của người Do Thái, dẫn dắt nhân dân Đức vốn có ý tốt đi vào con đường tà đạo. Người Do Thái vốn có thể rất hữu ích cho chúng ta. Nếu phía chúng ta cộng thêm vai trò quan trọng của họ về nhân lực, kỹ năng và ảnh hưởng quốc tế, thay vì trừ đi phần vai trò quan trọng này, thì đã có thể được lòng người. Biết đâu đến cuối cùng, ngay cả kết cục của cuộc chiến này cũng sẽ khác!
Bởi vì ngay cả khi người Do Thái bên ngoài châu Âu không có sức mạnh để giải cứu, dư luận mà họ tạo ra vẫn rất mạnh mẽ. Những tiếng gào thét của họ khiến người ta tin vào sự xuyên tạc của Roosevelt và Churchill đối với nhân dân nước ta, mặc dù cuộc chiến chúng ta đánh là cuộc chiến của thế giới Cơ Đốc giáo chống lại bọn bạo đồ đỏ, nhưng Roosevelt và Churchill lại mô tả nhân dân nước ta như Hung Nô và quỷ dữ. Điều này dẫn đến hai chính sách sống còn đối với sự nghiệp của chúng ta - "Đức trên hết" và "Đầu hàng vô điều kiện" - chính sách này đã đẩy hai tập đoàn thống trị tài chính hùng mạnh về phía chủ nghĩa Bolshevik Âu Á một cách không thể cứu vãn.
Nếu chính quyền Quốc xã xử lý hàng triệu người Do Thái dưới quyền chúng ta một cách anh minh thỏa đáng, thì tuyệt đối sẽ không xảy ra những chuyện như vậy, đây chính là cục diện mâu thuẫn bi thảm về mặt quân sự mà "Giải pháp khu vực" gây ra. Người Do Thái không phải là kẻ thù hùng mạnh; nhưng họ vốn có thể trở thành những người bạn hùng mạnh. Từ đó có thể thấy, chính sách của Quốc xã đối với người Do Thái nên được coi là một nước đi sai lầm đắt giá về mặt quân sự. Tuy nhiên việc này chưa từng thảo luận với lực lượng vũ trang, không thể trách lực lượng vũ trang. Đây chính là kết luận tất yếu rút ra từ văn kiện quan trọng còn sót lại duy nhất này - "Biên bản Hội nghị Wannsee".
Lời người dịch tiếng Anh: Khi tôi lần đầu nộp bản thảo dịch của bài viết này cho Phó Đô đốc Turnbull C. "Buck" Fuller, biên tập viên của "Kỷ yếu Hội nghị Học viện Hải quân Hoa Kỳ", ông đã trả lại bản thảo gốc và viết nguệch ngoạc bằng mực đỏ những chữ to tướng: "Mục đích của việc tống thứ cứt đái tầm thường, lạnh lùng và đáng ghê tởm này vào 'Kỷ yếu Hội nghị' là gì?" Ông ấy là một thủy thủ già, cũng là một người bạn tốt của tôi. Tôi đã viết dưới lời phê của ông: "Để tự cho mình thấy chúng ta vốn dĩ có thể làm được những việc gì." Viết xong liền gửi lại bản thảo. Sáu tháng sau, bài viết được đăng trên "Kỷ yếu Hội nghị". Sau đó, tôi đã gặp Buck Fuller ở nhiều dịp, ông đều không hề nhắc đến bài viết của Armin von Roon. Đến tận bây giờ ông ấy vẫn chưa nhắc tới. - V. H.