Chiến Tranh và Hồi Ức (1941–1945)

Lượt đọc: 228 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 53

❊ ❊ ❊

Slu-tơ và "Cáo" Đa-vít đang lật giở những bản cắt báo về các báo cáo sơ bộ liên quan đến tuyên bố của các quốc gia đồng minh, chuẩn bị viết bản báo cáo đầu tiên cho Bộ trưởng Ngoại giao về phản ứng trong nước. Đúng lúc đó, Slu-tơ chợt nhớ ra mình có lời mời dùng bữa tối tại nhà Hê-nri. "Tôi mang mấy thứ này theo," anh nói, vừa nhét cả xấp bài báo vào cặp táp, "Tối nay sẽ viết xong bản thảo."

"Tôi không ghen tị với anh đâu," "Cáo" nói. "Công cốc cả thôi."

"Nhưng kết quả cuối cùng vẫn chưa ngã ngũ mà."

Khi Slu-tơ đi đến góc phố định gọi taxi, anh nhìn thấy trên vỉa hè cạnh sạp báo có một chồng tuần báo "Thời Đại" chưa bóc tem. Một phóng viên của "Thời Đại" từng gọi điện phỏng vấn "Cáo" gần một giờ đồng hồ để dò hỏi về bằng chứng của các vụ thảm sát, vì vậy cả Slu-tơ và "Cáo" đều rất nóng lòng muốn xem số báo này. Anh mua một bản. Mặc dù trời đang mưa phùn, anh vẫn mượn ánh đèn đường để lật xem từ đầu đến cuối một cách sốt sắng. Trong mục tin tức không có gì; mục phóng sự đặc biệt cũng chẳng có gì; từ đầu đến cuối đều không có gì cả. Chuyện này là sao? "Thời Báo New York" tuy gây thất vọng khi chỉ đăng một cột tin, hơn nữa còn bị chìm nghỉm vì tiêu đề lớn về cuộc tháo chạy của Rôm-men ở bên phải, lại thêm hai cột tin về việc cắt giảm định mức khí đốt, nhưng ít nhất nó cũng được đăng ở trang nhất. Hầu hết các tờ báo lớn khác đều đẩy nó vào các trang trong, như tờ "Thời Báo Washington" đăng ở trang mười, nhưng ít nhất họ cũng cho nó một chút không gian. Làm sao tạp chí "Thời Đại" có thể không nhắc đến một chữ nào về chuyện này được chứ? Anh lật tạp chí xem lại lần nữa.

Một chữ cũng không.

Trong mục nhân vật, anh chợt nhìn thấy bức ảnh của Pa-mi-la và cha cô mà anh từng thấy trên tờ "Công Báo Montreal".

Pa-mi-la Tát-xơ-bơ-li, vị hôn thê của Thiếu tướng Không quân, Huân tước Đân-cần Bơn-a-uốc (xem số tạp chí ngày 16 tháng 2), tháng tới sẽ rời Luân Đôn đến Washington để tiếp tục công việc phóng viên tờ "Quan Sát Viên" Luân Đôn mà người cha quá cố của cô từng đảm nhiệm. Trước khi một quả mìn tại A-la-man chấm dứt sự nghiệp phóng viên của Ê-rít Tát-xơ-bơ-li (ngày 16 tháng 11), vị phu nhân tương lai của Huân tước Bơn-a-uốc đã từng được đơn vị phụ nữ Không quân Hoàng gia cho nghỉ phép để tháp tùng người cha béo tốt, hoạt ngôn của mình đi khắp thế giới, giúp ông viết nhiều bài tường thuật từ tiền tuyến, và suýt bị người Nhật bắt giữ tại Singapore và Gia-va.

Anh nghĩ điều này có lẽ sẽ khiến Đại tá Hê-nri thấy hứng thú. Một chút cảm giác hả hê làm dịu đi nỗi thất vọng của anh. Slu-tơ không thích Hê-nri. Trong mắt anh, quân nhân nói chung chỉ là những hướng đạo sinh lớn tuổi; hạng xoàng thì chỉ là lũ bợm nhậu hồ đồ, hạng khá cũng chỉ là đám tay sai thạo việc, không ngoại lệ ai cũng là những kẻ tầm thường, thiển cận và bảo thủ. Đại tá Hê-nri làm Slu-tơ phải bận tâm vì ông không hoàn toàn khớp với cái khuôn mẫu đó. Tư duy của ông quá sắc bén và nhạy bén. Đêm ở điện Crem-lin vẫn còn khó quên, Hê-nri đối đáp với Stalin đáng sợ một cách đúng mực, chuyến đi tiền tuyến ngoại ô Mát-xcơ-va của ông cũng là một thành tựu lớn. Nhưng người này ít nói, và luôn khiến anh nhớ lại những thất bại đau lòng của chính mình với Na-ta-li và Pa-mi-la. Sở dĩ Slu-tơ nhận lời mời đến ăn tối hoàn toàn là vì lương tâm thôi thúc, anh cho rằng mình nên thông báo tình hình mà anh nắm được cho gia đình của Bai-rơn.

Khi Hê-nri đón Slu-tơ tại cửa nhà trên đường Phố Cáo, gương mặt ông hầu như không có lấy một nụ cười. Ông mặc bộ đồ màu nâu, thắt nơ bướm đỏ, trông già hơn nhiều, dáng người cũng co lại một cách kỳ lạ.

"Đã xem cái này chưa?" Slu-tơ lấy tạp chí ra khỏi túi áo khoác, đúng trang có tấm ảnh đang mở ra.

Hê-nri liếc nhìn tạp chí trong lúc Slu-tơ treo chiếc áo khoác đang ướt sũng lên. "Chưa. Tát-xơ-bơ-li thật bất hạnh, phải không? Mời vào. Anh chắc là biết Rô-đa rồi, đây là con gái chúng tôi, Mê-đê-lin."

Phòng khách rộng đến bất ngờ. Cả căn nhà này trông không giống nơi mà một sĩ quan hải quân có thể chi trả nổi. Hai mẹ con đang ngồi trên ghế sô pha gần cây thông Noel đã được cắt tỉa, nhâm nhi cocktail. Đại tá Hê-nri đưa tạp chí cho Rô-đa. "Em vẫn luôn đoán xem Pa-mi-la sẽ làm gì tiếp theo đấy thôi."

"Trời đất! Anh nhìn xem này! Đính hôn với Bơn-a-uốc rồi!" Bà Hê-nri liếc chồng một cái, đưa tạp chí cho Mê-đê-lin. "Con bé đó biết cách sắp xếp cho bản thân thật đấy."

"Lạy Chúa, cô ta trông vừa già vừa tầm thường," Mê-đê-lin nói. "Con nhớ lúc gặp cô ta, cô ta mặc đúng cái váy tím nhạt có dây treo này" — nó khua một bàn tay trắng trẻo trước ngực mình — "trông xấu không chịu nổi. Bơn-a-uốc cũng có mặt ở đó, phải không? Gã đàn ông tóc vàng đẹp trai, giọng nói nghe êm tai?"

"Ông ấy đúng là một người đàn ông đẹp trai," Rô-đa nói. "Đó là trong bữa tiệc tôi tổ chức cho buổi hòa nhạc 'Gửi bưu kiện cho nước Anh'."

"Bơn-a-uốc là một người đàn ông tuyệt vời," Pắc nói.

Slu-tơ không nghe ra bất kỳ ẩn ý nào trong câu nói đó, nhưng anh vẫn chắc chắn rằng khi ở Mát-xcơ-va, Pa-mi-la Tát-xơ-bơ-li và vị quân tử này từng rất mặn nồng. Thực tế, chính vì thấy Pa-mi-la thích Hê-nri mà anh sinh lòng ghen tức, nên mới bất chấp sự thận trọng nghề nghiệp mà tiết lộ tài liệu về vụ thảm sát Min-xcơ cho một phóng viên của "Thời Báo New York". Kể từ đó, anh trượt dài xuống dốc, cho đến tận bước đường hôm nay. Phản ứng của Pa-mi-la khi nghe tin về Hê-nri ở Luân Đôn cho thấy mối tình này vẫn chưa kết thúc. Trừ khi Vích-to Hê-nri thực sự là một pho tượng gỗ vô hồn, nếu không ông chắc chắn phải tinh thông cách tán tỉnh.

"A, vị Huân tước này thật khiến người ta nhìn một lần là nhớ mãi," Mê-đê-lin phấn khích kêu lên. "Bộ quân phục Không quân Hoàng gia màu xanh, trên ngực đầy huy chương, dáng người cao ráo thẳng tắp, tóc vàng óng! Nghiêm túc cứ như Lét-li Hô-uốt vậy. Nhưng mà, cặp đôi này sao xứng được nhỉ? Ông ta ít nhất cũng bằng tuổi bố. Còn cô ta thì chắc bằng tuổi con."

"Ồ, hơn thế nhiều," Rô-đa nói.

"Tôi đã gặp cô ấy vội vàng ở Luân Đôn," Slu-tơ nói. "Cô ấy bị cú sốc tinh thần nặng nề vì cha qua đời."

"Có tin tức gì về Na-ta-li không?" Pắc đột ngột hỏi.

"Họ vẫn ở Lộ-đơ, vẫn bình an. Đó là tình hình chung. Nhưng kể chi tiết thì dài dòng lắm."

"Mê-đê-lin, cưng à, chúng ta ăn tối thôi." Rô-đa cầm ly rượu đứng dậy. "Chúng ta sẽ nói chuyện trên bàn ăn."

Trong phòng ăn dưới ánh nến, trên tường treo vài bức tranh vẽ cảnh biển rất đẹp, củi trong lò sưởi cháy bập bùng. Hai mẹ con dọn món ăn lên. Món bò nướng thịnh soạn như muốn khoe khoang rằng chủ nhà vừa giàu có, vừa chẳng màng đến phiếu phân phối, bát đĩa cũng xa hoa mỹ lệ, vượt xa dự liệu của Slu-tơ. Trong bữa tiệc, anh thuật lại chuyến đi đầy nguy hiểm của Na-ta-li, bao gồm những lá thư cô gửi cho anh trước đó, các báo cáo từ Thụy Sĩ, những lời đồn thổi của những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái ở Giơ-ne-vơ và những gì Bai-rơn đã kể với anh, tóm lại là một câu chuyện chắp vá, trong đó còn pha lẫn nhiều suy đoán của riêng anh. Slu-tơ hoàn toàn không biết gì về việc Véc-nơ Béc-cơ gây áp lực buộc Giét-trô phải đọc một bài diễn văn trên đài phát thanh. Theo lời anh, một nhà ngoại giao Đức từng tỏ ra thân thiện với Na-ta-li và chú của cô, nên họ mới có thể an cư ở Xi-ê-na. Nhưng đến tháng Bảy, họ đột ngột lẩn trốn bất hợp pháp, cùng một vài người tị nạn Do Thái chạy trốn, vài tháng sau lại xuất hiện ở Mác-xây — Bai-rơn chính là người đã gặp họ ở đó và ở lại với họ vài giờ. Họ vốn định cùng anh đi Li-xbon, nhưng quân Đồng minh tấn công vào Bắc Phi khiến người Đức tiến vào Mác-xây, nên họ đã không thể rời đi. Hiện họ đang ở Lộ-đơ, tất cả các nhà ngoại giao và phóng viên Mỹ bị kẹt lại ở miền Nam nước Đức cũng đều ở đó. Anh cố tình không nhắc đến việc Na-ta-li từ chối rời đi cùng chồng, anh cảm thấy tốt hơn hết là để Bai-rơn tự kể cho gia đình nghe.

"Tại sao lại ở Lộ-đơ?" Đại tá Hê-nri hỏi. "Tại sao lại giam họ ở đó?"

"Tôi thực sự cũng không rõ. Nhưng có thể khẳng định, chính chính phủ Vi-si đã đưa họ đến đó theo ý muốn của người Đức."

Mê-đê-lin nói: "Vậy nếu người Đức vui, họ sẽ lại đưa cô ấy cùng chú và con cái đi, đến trại tập trung nào đó? Có khi còn nấu họ thành mỡ làm xà phòng?"

"Mê-đê-lin, vì Chúa!" Rô-đa kêu lên.

"Mẹ, khắp nơi đều đồn đại những chuyện đáng sợ kiểu này mà. Mẹ cũng đâu phải chưa nghe qua." Mê-đê-lin quay sang Slu-tơ nói tiếp: "Những chuyện này rốt cuộc là thế nào? Sếp con nói đều là chuyện bịp bợm, là tài liệu tuyên truyền mà người Anh đã dùng từ thời Thế chiến thứ nhất. Con thực sự không biết nên tin vào kiểu nói nào. Còn các bác thì sao?"

Ánh mắt nặng nề của Slu-tơ lướt qua những món ăn đang dùng dở trên bàn và chậu hoa trạng nguyên đỏ rực ở giữa bàn, đánh giá cô gái thông minh xinh đẹp này. Rõ ràng, đối với Mê-đê-lin, đây đều là những chuyện xảy ra ở cõi ma quỷ nào đó. "Sếp của cháu có đọc 'Thời Báo New York' không? Có lẽ là trên tờ 'Thời Báo New York' hôm kia có một bản tin trang nhất về chuyện này. Mười một chính phủ Đồng minh tuyên bố đây là sự thật: nước Đức đang tiêu diệt người Do Thái ở châu Âu."

"'Thời Báo New York'? Bác chắc chứ?" Mê-đê-lin hỏi. "Cháu luôn đọc từ đầu đến cuối. Cháu không thấy đoạn tin này."

"Vậy chắc cháu đã bỏ sót rồi."

"Cháu cũng thường đọc 'Thời Báo New York', nhưng cháu cũng không thấy đoạn tin đó," Vích-to Hê-nri nói. "'Thời Báo Washington' cũng không có."

"Cả hai tờ báo đều đăng."

Slu-tơ cảm thấy tuyệt vọng trong lòng, ngay cả người như Vích-to Hê-nri mà cũng làm ngơ không thấy đoạn tin này, mắt lướt qua những tiêu đề lớn khó chịu đó mà chẳng hề mảy may để ý.

"Vậy thì, như thế này thì ngày tháng của họ sẽ khó khăn lắm đây. Theo tình hình bác nói thì báo chí của họ đang bốc phét rồi," Mê-đê-lin có chút bướng bỉnh nói. "Nói thật, liệu người Pháp có phát lòng từ bi mà tha cho họ không?"

"Họ vẫn đang nằm dưới sự giám sát của chính quyền Pháp, Mê-đê-lin, tình cảnh của họ khác với những người Do Thái khác. Cháu xem, họ bị 'giam giữ', chứ không phải 'bị bắt giữ'."

"Cháu không hiểu ý bác," Mê-đê-lin nhăn khuôn mặt xinh đẹp nói.

"Tôi cũng không hiểu," Rô-đa nói.

"Xin lỗi nhé. Khi ở Béc-nơ, việc phân biệt ý nghĩa của hai từ này đã trở thành bản năng thứ hai của chúng tôi. Nếu bà bị mắc kẹt tại một quốc gia thù địch vì chiến tranh bùng nổ, bà Hê-nri, thì bà là người 'bị giam giữ'. Bà xem, bà không làm gì sai cả, bà chỉ tình cờ gặp đúng lúc đó nên trở thành nạn nhân. Người bị giam giữ có thể được trao đổi, ví dụ như phóng viên, nhà ngoại giao kiểu như vậy. Chúng tôi hy vọng những người Mỹ đang ở Lộ-đơ lúc này có thể được giải quyết như thế, chúng tôi hy vọng Na-ta-li và chú của cô ấy cũng có thể như vậy. Nhưng nếu lúc chiến tranh bùng nổ mà bà bị 'bắt giữ', nghĩa là bà bị bắt — lý do thì vô vàn, nhỏ thì vượt đèn đỏ, lớn thì nghi ngờ làm gián điệp — thì tệ lắm. Lúc đó bà mất hết quyền lợi, Hội Chữ thập đỏ cũng không thể giúp bà. Người Do Thái ở châu Âu thuộc trường hợp này. Hội Chữ thập đỏ không thể liên lạc với họ vì người Đức tuyên bố họ đang ở trong tình trạng 'bảo vệ giam cầm'. Đây là bắt giữ, chứ không phải giam giữ."

"Lạy Chúa, sinh tử của bao nhiêu người lại phụ thuộc vào hai từ chết tiệt này!" Mê-đê-lin kêu lên. "Thật kinh tởm!"

Slu-tơ thầm nghĩ, cái đầu óc ngây ngô của cô gái này cuối cùng cũng hiểu được chi tiết kỹ thuật liên quan đến mạng người này. "À, từ ngữ quan trọng lắm đấy, nhưng nhìn chung thì bác vẫn đồng ý với cháu."

"Vậy khi nào cô ấy có thể trở về?" Rô-đa hỏi với vẻ u sầu.

"Khó nói lắm. Đàm phán trao đổi nhân sự đã tiến hành từ lâu, nhưng mà..."

Chuông cửa reo. Mê-đê-lin nhảy dựng lên, mỉm cười quyến rũ với Slu-tơ. "Chuyện này thật thú vị, nhưng cháu phải đến Nhà hát Quốc gia ngay đây, bạn cháu đến gọi rồi. Xin lỗi bác nhé."

"Không có gì."

Sau khi cánh cửa bên ngoài mở ra rồi đóng lại, một luồng gió lạnh tràn vào phòng. Rô-đa bắt đầu dọn dẹp bát đĩa, Pắc dẫn Slu-tơ vào phòng làm việc. Họ cầm ly rượu brandy, ngồi đối diện nhau trên ghế bành. "Con gái tôi là một đứa ngốc," Pắc nói.

"Ngược lại thì có," Slu-tơ giơ một tay lên tỏ ý không đồng ý, "nó rất thông minh. Không thể trách nó vì nó không cảm thấy bất an trước những gì người Do Thái phải chịu đựng như Tổng thống được."

Vích-to Hê-nri nhíu mày. "Tổng thống thực sự có bất an."

"Ông ấy có mất ngủ mấy đêm không?"

"Ông ấy không chịu nổi việc mất ngủ đâu."

Slu-tơ vuốt tóc. "Nhưng bằng chứng mà Bộ Ngoại giao nắm được thì kinh hoàng lắm. Tất nhiên, tôi không biết những tài liệu gửi lên Tổng thống chính xác là gì, tôi cũng không thể làm rõ được. Nó giống như việc cố gắng dùng đôi bàn tay đầy dầu mỡ để bắt một con chạch cũng đầy dầu trong bóng tối vậy."

"Tuần tới tôi sẽ lại đến Nhà Trắng báo cáo. Tôi có thể làm gì cho Na-ta-li không?"

Slu-tơ ngồi thẳng người dậy. "Đến Nhà Trắng? Anh vẫn giữ liên lạc với Ha-li Hóp-kin-xơ chứ?"

"Ừ, ông ấy vẫn gọi tôi là Pắc."

"Vậy thì được. Tôi vốn không muốn anh phải lo lắng sợ hãi." Slu-tơ ngồi rướn người về phía trước, hai tay siết chặt chiếc ly đựng rượu brandy, Pắc rất lo anh sẽ bóp nát cái ly. "Đại tá Hê-nri, họ sẽ không tiếp tục ở lại Lộ-đơ đâu."

"Tại sao?"

"Người Pháp không làm chủ được. Chúng ta thực tế là đang làm việc với người Đức, họ lại bắt được thêm vài kiều dân Mỹ. Họ đang cố tận dụng điều kiện thuận lợi này để tống tiền chúng ta. Họ muốn nhân cơ hội này đổi lấy một nhóm lớn gián điệp bị bắt ở Nam Mỹ và Bắc Phi. Chúng ta đã nhận được những ám hiệu rõ ràng từ phía người Thụy Sĩ rằng, những người bị giam giữ ở Lộ-đơ sắp tới sẽ bị đưa sang Đức để gây áp lực với chúng ta trong cuộc đàm phán. Như vậy sẽ làm tăng nguy hiểm cho Na-ta-li lên rất nhiều."

"Điều này là hiển nhiên, nhưng Nhà Trắng có thể làm gì chứ?"

"Đưa Na-ta-li và Ê-len ra khỏi Lộ-đơ trước khi họ chuyển đi. Thông qua người của chúng ta ở Tây Ban Nha, điều này hoàn toàn có thể làm được. Lộ-đơ cách biên giới Tây Ban Nha chưa đầy bốn mươi dặm. Chỉ cần làm âm thầm kín đáo, đôi khi thậm chí có thể gián tiếp đạt được thỏa thuận với cảnh sát mật Đức. Phran-xơ Ve-phen hay những người như Xti-phen Xvai-gơ đều được đưa lén qua biên giới theo cách đó. Tôi không nói là chắc chắn thành công, tôi chỉ nói anh nên thử xem sao."

"Nhưng thử thế nào?"

"Tôi cũng có thể thăm dò. Trong Bộ Ngoại giao tôi biết phải tìm ai để nói chuyện. Tôi biết điện báo phải gửi đi đâu. Chỉ cần Hóp-kin-xơ gọi một cuộc điện thoại, tôi có thể bắt tay thực hiện ngay. Mối quan hệ của anh với ông ấy có đủ không?"

Vích-to Hê-nri nâng ly uống rượu, không trả lời.

Giọng Slu-tơ trở nên cứng rắn. "Tôi không muốn nói lời gây sốc, nhưng tôi thúc giục anh thử cách này. Nếu cuộc chiến này kéo dài thêm hai năm nữa, người Do Thái ở châu Âu sẽ chết sạch. Na-ta-li không phải phóng viên, giấy tờ của cô ấy là giả. Một khi họ kiểm tra ra, cô ấy xong đời, con cô ấy cũng xong đời."

"Bản tuyên bố đăng trên 'Thời Báo New York' có nói chính phủ Đức chuẩn bị giết sạch tất cả những người Do Thái mà họ bắt được không?"

"Ồ, văn bản thì không nói thẳng, nhưng bao hàm ý đó."

"Một bản tuyên bố như vậy tại sao không gây ra phản ứng lớn hơn?"

Lét-li Slu-tơ nhếch miệng, nở một nụ cười gần như có chút đắc ý điên cuồng, rồi nói: "Anh tự trả lời xem, Đại tá Hê-nri."

Hê-nri một tay chống cằm, dùng sức xoa xoa, nhìn Slu-tơ hồi lâu với vẻ khó đoán. "Giáo hoàng có phản ứng gì không? Nếu chuyện như vậy xảy ra, chắc chắn ông ấy phải biết."

"Giáo hoàng! Vị Giáo hoàng này cả đời là một chính trị gia phản động, tôi từng nói chuyện với một giáo sĩ Đức đàng hoàng ở Béc-nơ, ông ấy bảo mỗi tối đều cầu nguyện cho Giáo hoàng sớm bệnh nặng mà chết. Tôi là một người theo chủ nghĩa nhân văn, tôi chưa bao giờ đặt hy vọng vào Giáo hoàng. Nhưng vị Giáo hoàng này đang hủy hoại sạch sành sanh chút tinh thần Cơ Đốc giáo còn sót lại kể từ thời Ga-li-lê — tôi biết anh không thích nghe những lời này. Xin lỗi. Tôi chỉ muốn làm cho anh hiểu rằng, nếu Nhà Trắng còn chút tin tưởng vào anh, thì anh nên tận dụng cơ hội này ngay lập tức. Cố gắng đưa Na-ta-li ra khỏi Lộ-đơ."

"Tôi phải cân nhắc một chút, rồi sẽ gọi điện cho anh."

Slu-tơ đứng dậy với tâm trạng bất an. "Được. Nếu tôi có biểu hiện quá khích, xin anh lượng thứ. Tôi đi ngay đây, bà Hê-nri có thấy tôi thất lễ không? Tối nay tôi còn nhiều việc phải làm."

"Tôi sẽ thay anh xin lỗi bà ấy." Pắc đứng dậy. "Tiện hỏi một chút, Slu-tơ, Pa-mi-la định bao giờ kết hôn? Cô ấy có nói với anh không?"

Slu-tơ cố nén để không cười, tâm trạng anh lúc này giống như một thợ săn nhìn thấy con cáo chui ra khỏi chỗ ẩn nấp. Sự quá khích của anh, trong mắt anh, nhờ vậy mà được giải tỏa một cách hài hước. "Ừ, anh biết đấy, Đại tá, phụ nữ hay thay lòng đổi dạ! Pa-mi-la có lần than phiền với tôi rằng vị Huân tước này là một gã quản nô, một kẻ hợm hĩnh, một gã đáng ghét. Biết đâu họ chẳng kết hôn được với nhau đâu."

Pắc tiễn anh ra cửa trước. Ông có thể nghe thấy tiếng Rô-đa rửa bát đĩa trong bếp. Trên bàn cà phê ở phòng khách có tờ tuần báo "Thời Đại". Pắc mở tạp chí, cúi người ngồi xem.

Tấm ảnh chụp nhanh Pa-mi-la khi tàu "Northampton" chìm ông đã làm mất, nhưng hình ảnh của cô lúc đó đã in sâu vào trí nhớ ông, tựa như một di ảnh của mối tình này. Bản tin về hôn sự của cô là một đòn giáng nặng nề đối với ông. Giả vờ như không có chuyện gì xảy ra thực sự là một việc khổ sở. Tấm ảnh chụp bất ngờ này trông không đẹp chút nào: phần đầu hơi cúi, mũi trông rất dài, đôi môi mỏng quá đỗi gượng gạo, ánh mặt trời trên sa mạc chiếu thẳng từ đỉnh đầu xuống, để lại những bóng đen quanh hốc mắt cô. Tuy nhiên, một tấm ảnh nhỏ, không đẹp chút nào của một người phụ nữ cách xa bốn nghìn dặm, lại có thể làm dấy lên một cơn bão trong lòng ông; cùng lúc đó, mặc dù người vợ xinh đẹp của ông đang ở ngay căn phòng bên cạnh, ông lại hoàn toàn dửng dưng. Đây là sự tương phản rõ rệt biết bao! Ông lê bước nặng nề trở lại phòng làm việc. Khi ngồi đó vừa uống brandy, vừa xem tờ tuần báo "Thời Đại", Mê-đê-lin và Xi-m An-đơ-xơn phấn khởi từ nhà hát trở về. "Cái gã quái vật của Bộ Ngoại giao đi rồi à? Tạ ơn trời đất!" cô nói.

"Vở kịch hay không? Có đáng để bố đưa mẹ đi xem không?"

"À, tất nhiên là đáng, nên để bà cụ đi vui vẻ một chút, bố ạ. Bố cũng sẽ thích thôi, bốn cô gái trẻ, sống chung một căn hộ ở Washington, mặc quần soóc chạy ra chạy vào từ phòng tắm —"

An-đơ-xơn gượng cười nói: "Chẳng có gì đáng xem đâu, thưa ông."

"Kìa, đừng có giả vờ nữa, Xi-m, chính cậu cười như một thằng ngốc ấy, mắt cậu trợn ngược lên kìa." Mê-đê-lin đột nhiên nhìn thấy cuốn album ảnh của Hoa-lân, thái độ lập tức trầm tĩnh lại. "Đây là gì?"

"Cháu chưa xem sao? Là mẹ cháu dán thành một cuốn đấy."

"Chưa xem." Mê-đê-lin nói. "Lại đây, Xi-m."

Họ kề đầu vào nhau, cùng lật xem album, ban đầu còn yên lặng, một lúc sau cô đã reo lên. Một tấm huy chương vàng khiến cô nhớ lại Hoa-lân từng giành giải vô địch nhảy cao trong một cuộc thi điền kinh, bạn học khiêng cậu trên vai diễu hành quanh sân vận động. "Ôi, trời đất ơi, đây là tiệc sinh nhật cậu ấy ở San Francisco! Anh nhìn em này, mắt lác, còn đội cái mũ giấy! Đây là thằng nhóc đáng ghét kia, trốn dưới gầm bàn, nhìn trộm lên váy các cô gái. Hoa-lân lôi nó ra, suýt nữa đánh chết nó. Thật sự, chuyện này gợi lại bao nhiêu kỷ niệm!"

"Mẹ cháu làm một việc rất tốt," An-đơ-xơn nói.

"À, mẹ ạ, mẹ luôn ngăn nắp, đó là bản tính của mẹ rồi. Lạy Chúa, lạy Chúa, cậu ấy đẹp trai quá! Anh nhìn tấm ảnh tốt nghiệp này xem, anh thấy có đẹp không, Xi-m? Anh nhìn những gã khác mà xem, bằng tuổi cậu ấy mà vẫn ngốc nghếch thế nào ấy."

Cha cô đứng bên cạnh quan sát và lắng nghe, thần thái bình tĩnh, điềm đạm. Madeleine lật từng trang, không còn nghe thấy cô buông lời bình phẩm nữa. Đôi tay cô khựng lại, đôi môi bắt đầu run rẩy, cô đột ngột khép cuốn album ảnh lại, vùi đầu vào cánh tay rồi bật khóc. Anderson lúng túng vòng tay ôm lấy cô, ngượng ngùng liếc nhìn Pug. Một lát sau, Madeleine lau khô nước mắt, nói: "Xin lỗi, Sim. Anh về trước đi." Cô tiễn Sim ra ngoài, rồi lập tức quay lại ngồi xuống. Cô gác đôi chân có đường nét tuyệt đẹp lên, vẻ mặt đã hoàn toàn trở lại bình thường. Pug nhìn cô châm một điếu thuốc với động tác thuần thục tự nhiên như một thủy thủ, trong lòng không khỏi dấy lên một nỗi ác cảm. "Cha, nắng vùng Caribbean hẳn là rất tốt cho Sim Anderson nhỉ? Cha nên nói chuyện với anh ấy. Anh ấy kể chuyện truy đuổi tàu ngầm Đức cứ như đang ở ngay tại đó vậy."

"Cha vẫn luôn quý mến Sim."

"Nhưng trước đây anh ấy cứ khiến con liên tưởng đến món bánh sữa trứng. Cha biết không? Một thứ gì đó mềm nhũn, trắng pha vàng, nhìn thì được mà ăn thì chẳng ra sao. Bây giờ anh ấy đã trưởng thành hơn, và... thôi, không nói nữa, đừng để bụng mấy lời ngớ ngẩn vừa rồi của con. Con rất vui khi Giáng sinh này anh ấy đến ăn tối cùng chúng ta." Cô rít một hơi thuốc thật sâu, xấu hổ liếc nhìn cha mình. "Kể cha nghe chuyện này. Chương trình "Giờ Vui Vẻ" hiện giờ khiến con cảm thấy hơi xấu hổ. Chúng con đi từ trại này sang trại khác, diễn mấy trò hề trẻ con nhàm chán, trêu đùa mấy chàng trai mặc quân phục, chúng con kiếm tiền nhờ vào mấy thứ đó. Những kẻ viết kịch bản thông minh làm việc cùng con thì âm thầm đắc ý, nhưng thực ra, đám thủy thủ và binh lính bị họ chế giễu còn tốt hơn họ vạn lần. Con sắp phát điên lên đây."

"Vậy sao con không từ chức đi, Madeleine?"

"Còn việc gì khác để làm đâu ạ?"

"Con có thể tìm việc ở Washington. Con là một cô gái giỏi giang. Ở đây lại có một ngôi nhà tốt như vậy, gần như trống không, chỉ có mỗi mẹ con lủi thủi một mình."

Vẻ mặt cô u sầu, rụt rè, lại pha chút tinh nghịch bất cần, nét biểu cảm này khiến ông thấy bất an. Năm cô mười bốn tuổi, lúc mang bảng điểm tệ hại về nhà cho ông xem, cô cũng mang vẻ mặt như thế. "Nói thật, tối nay trong đầu con cũng thoáng qua ý nghĩ đó. Nhưng vấn đề là, con đã lún quá sâu rồi, khó mà rút chân ra được."

"Họ sẽ tìm người khác để làm cái trò vô bổ đó thôi."

"Ồ, con thích công việc của mình. Con cũng thích thu nhập này. Nhìn những con số trong cuốn sổ tiết kiệm nhỏ màu nâu của mình cứ nhảy vọt lên, lòng con thấy vui lắm."

"Con có cảm thấy hạnh phúc không?"

"Cái này... con chỉ thấy khá ổn thôi, cha ạ. Chẳng có việc gì mà con không xoay xở được cả."

Victor Henry lần này về nhà gặp cô, đã một năm rưỡi kể từ lần cuối hai người gặp nhau. Ông từng nhận được một bức thư ở Trân Châu Cảng, cảnh báo rằng có một vụ kiện ly hôn có thể liên quan đến cô, nhưng từ khi về nhà ông vẫn chưa nhắc đến việc này. Tuy nhiên, ông quá hiểu Madeleine, ông hoàn toàn nhìn ra những dấu hiệu lo âu, bứt rứt mà cô bộc lộ.

"Có lẽ, cha nên nói chuyện với tên Cleveland kia một chút."

"Nói về chuyện gì ạ?"

"Về con."

Cô cười rất gượng gạo. "Thật thú vị, anh ấy cũng muốn nói chuyện với cha đấy. Trước đây con cứ hơi ngại không dám nói." Cô phủi tàn thuốc trên váy. "Nói con nghe, việc gọi nhập ngũ thế nào rồi ạ? Cha có biết không? Cảm giác thật kỳ lạ. Con quen nhiều chàng trai trẻ, họ chưa kết hôn, thân hình vạm vỡ như ngựa, thế mà đến giờ vẫn chưa nhận được giấy gọi, nhưng Hugh Cleveland lại nhận được."

"Thật sao? Vậy thì tốt," Pug nói. "Thế thì chúng ta thắng chắc cuộc chiến này rồi."

"Đừng có hả hê như thế. Trưởng ban tuyển quân nơi anh ấy thuộc về cũng là một kẻ tiểu nhân đáng ghét, chuyên thích gây khó dễ cho những người có chút danh tiếng. Hugh thấy tốt nhất là anh ấy nên mặc quân phục, tình nguyện nhập ngũ, cha hiểu ý con chứ? Tiếp tục làm công việc kiểu như "Giờ Vui Vẻ" của anh ấy. Trong bộ phận quan hệ công chúng của Hải quân, cha có quen ai không?"

Victor Henry chậm rãi lắc đầu, không nói một lời.

"Vậy là được rồi." Giọng Madeleine như trút được gánh nặng. "Con đã làm tròn trách nhiệm, đã hỏi cha rồi. Con hứa với anh ấy là sẽ hỏi cha, tất nhiên, đó là chuyện của anh ấy. Nhưng, vụng về như anh ấy thì đúng là không phải loại người để cầm súng bắn pháo, anh ấy chẳng những không đánh được kẻ địch mà còn gây cản trở cho phe mình nữa."

"Chẳng phải anh ta có rất nhiều mối quan hệ trong giới quân sự sao?"

"Cha không tưởng tượng nổi đâu, họ vừa biết tin anh ấy nhận được giấy gọi nhập ngũ là mỗi người một nơi, trốn biệt tăm."

"Thế mới làm cha vui đấy. Tốt nhất con cũng nên tránh xa anh ta ra. Anh ta chỉ mang lại rắc rối cho con thôi."

"Giữa con và ông Cleveland chẳng có rắc rối gì cả." Madeleine đứng dậy, hất tóc, cử chỉ y hệt như lúc cô mới năm tuổi. Sau đó cô hôn cha mình và nói: "Nếu có rắc rối, thì đó cũng là chuyện của người khác. Chúc ngủ ngon, cha."

Sau khi cô rời đi, Pug nghĩ, nếu đổi lại là một người phụ nữ thực sự trưởng thành, có lẽ sẽ biết nói dối sao cho giống thật hơn. Tình cảnh của cô chắc chắn là rất tệ. Nhưng cô còn trẻ, nên được phép sai lầm; hơn nữa, ông cũng hoàn toàn bất lực. Tốt nhất là không nên nghĩ đến thì hơn!

Ông lại cầm tờ tạp chí "Time" lên, nhìn bức ảnh nhỏ của Pamela và người cha quá cố của cô. "Tương lai của phu nhân Lord Bena-Walker" sắp đến Washington. Lại là một chuyện không nên nghĩ đến; đồng thời, đây cũng là lý do tốt nhất để trốn tránh công việc đóng tàu đổ bộ và quay lại Thái Bình Dương. Dưới ánh đèn vàng, trên bàn đặt cuốn album ảnh mà Madeleine vừa đột ngột khép lại, đây là sự sắp đặt khéo léo của Rhoda, nhằm tạo ra một nền tảng đáng tin cậy để cứu vãn cuộc hôn nhân của họ. Họ không chỉ bị quá khứ ràng buộc, mà còn bị cái chết của Warren gắn kết. Ít nhất ông không nên làm tăng thêm nỗi đau của bà. Có thể ông sẽ không sống đến ngày chiến tranh kết thúc, dù có thể, thì lúc đó họ cũng đã già. Họ còn năm đến mười năm nữa để có thể sống cùng nhau, lặng lẽ trải qua những năm tháng xế chiều. Giờ đây bà đang hối hận khôn nguôi, thật đáng thương, chắc chắn bà sẽ không vấp ngã lần nữa; hơn nữa, đối với những chuyện đã xảy ra, bà cũng không thể cứu vãn. Hãy cứ để thời gian bù đắp tất cả vậy. Ông kìm nén một ý nghĩ hoang đường, không xé bức ảnh ra mà vứt tờ tạp chí vào thùng rác bằng da, rồi bước vào phòng thay đồ của mình.

Trong phòng thay đồ của mình, bà cũng đang trầm tư suy nghĩ. Công việc bếp núc đã khiến bà cảm thấy vô cùng mệt mỏi, lúc này bà rất muốn chìm vào giấc ngủ ngay. Nhưng, bà có nên nói với ông về cuộc trò chuyện giữa mình và Pamela không? Đây là vấn đề cũ trong đời sống hôn nhân: là nói toạc ra mọi chuyện, hay cứ để nó trôi qua? Theo kinh nghiệm trước đây, Rhoda thấy bớt nói vẫn tốt hơn. Nhưng lần này, tình hình có lẽ là ngoại lệ, bà đã chán ngấy việc tự trách mình. Những bức thư nặc danh bỉ ổi đó liệu có còn khiến ông canh cánh trong lòng? Tuy nhiên, bản thân ông cũng chẳng phải là thánh nhân. Nếu bà phơi bày sự thật với ông, có lẽ không khí sẽ trở nên sáng sủa hơn chăng. Tin tức Pamela đính hôn lại là một chủ đề hay. Cũng có khả năng sẽ xảy ra một cuộc cãi vã lớn. Có thể nhắc đến Fred Kirby, có thể nhắc đến những lá thư kia. Tuy nhiên, bà cũng nghĩ, dù có như vậy, có lẽ vẫn tốt hơn sự im lặng kéo dài của Pug và bầu không khí u ám tạo ra từ đó. Cuộc hôn nhân của họ đang dần tàn lụi, giống như những gì nhìn thấy trong thí nghiệm ở trường trung học: ngọn nến trong bình thủy tinh dần tắt lịm vì thiếu không khí. Ngay cả chuyện chăn gối ban đêm cũng chẳng giúp ích được gì. Bà có một cảm giác đáng sợ: chồng bà khi ở trên giường cũng chỉ cố gắng tỏ ra lịch sự với bà mà thôi. Rhoda mặc một chiếc váy ngủ lụa đen viền ren, bà không kẹp tóc trước khi ngủ như mọi khi mà chải chuốt cẩn thận hơn, rồi bước ra khỏi phòng thay đồ, chuẩn bị cho việc làm hòa hoặc tranh cãi. Ông đang tựa vào đầu giường, tay cầm cuốn "Toàn tập Shakespeare" bìa màu tím sẫm đã sờn rách đặt bên giường.

"Chào anh, cưng," bà nói.

Ông đặt cuốn sách lên tủ đầu giường. "Này, Rhoda, tên Slote kia có một ý tưởng để giải cứu Natalie."

"Ồ?" Sau khi lên giường, bà tựa vào thành giường, nhíu mày lắng nghe ông nói.

Pug chân thành thảo luận với bà, muốn mượn chuyện này để khôi phục lại tình cảm trước đây. Bà thỉnh thoảng gật đầu, nghe ông nói hết, không hề chen ngang. "Tại sao không làm như vậy đi, Pug? Còn có thể tệ hơn được nữa sao?"

"Rắc rối ở Nhà Trắng đã đủ nhiều rồi, anh không muốn làm tăng thêm phiền phức cho họ nữa."

"Em thấy chắc không đến nỗi nào. Harry Hopkins có thể vì lý do riêng của ông ấy mà từ chối anh. Những yêu cầu nhờ vả kiểu này chắc chắn chất thành đống. Nhưng dù sao họ cũng là người nhà của anh, và lại đang ở trong tình thế nguy hiểm. Theo em, vấn đề thực sự nằm ở chỗ, dù ông ấy có chịu giúp, thì có thể làm được gì? Anh thực sự tin lời Slote đến thế sao?"

"Tại sao không? Đây thuộc phạm vi công việc của cậu ấy."

"Nhưng con người cậu ta, em không nói rõ được, cứ như bị mê hoặc vậy. Pug, điều em lo là nếu không khéo lại thành ra hỏng việc. Anh ở xa thế này, không thể hiểu được tình hình tiến triển thế nào. Chỉ riêng việc chọn họ ra — ý em là Nhà Trắng chỉ chọn riêng họ ra — thật sự, làm vậy liệu có khiến họ trở thành tâm điểm chú ý không? Cách an toàn hơn là để họ hòa lẫn với toàn bộ người Mỹ ở đó, đừng tỏ ra đặc biệt, cho đến khi trao đổi tù binh. Hơn nữa, Natalie là một phụ nữ xinh đẹp, lại còn có con nhỏ. Ác quỷ trên đời này thấy cô ấy cũng phải nhường vài phần. Hành động hấp tấp có khi lại thành ra hỏng việc, không được việc gì."

Ông nắm lấy tay bà, bóp chặt: "Vẫn là em suy nghĩ chu đáo."

"Ồ, em cũng không dám nói mình chắc chắn đúng, chỉ là thận trọng vẫn hơn thôi."

"Rhoda, Madeleine bắt đầu thích Sim Anderson rồi. Con bé có nói gì với em không? Ở New York con bé có gây ra rắc rối gì không?"

Rhoda nhất thời không thể nói ra những nghi ngờ trong lòng mình với Pug; hơn nữa, hành vi không đúng mực lại là một chủ đề nhạy cảm như dây điện cao thế không thể chạm vào. "Madeleine là một cô gái tỉnh táo, Pug ạ. Những người ở đài phát thanh thực sự không cùng đường với con bé. Nếu con bé chọn Sim, thì điều đó đối với nó cũng khá tốt."

"Nó nói vở kịch đó rất tục tĩu. Anh định đi kiếm mấy tấm vé hàng đầu."

"À, vậy thì tốt quá." Rhoda cười do dự. "Anh là một lão già háo sắc, em biết thừa từ lâu rồi." Về chuyện của Pamela, theo cách nói của bà, thì cứ để nó trôi qua vậy.

Ngày hôm sau, khi đổ thùng rác, bà không kìm được lại lật tờ tạp chí "Time" đến trang có bức ảnh của Pamela Tudsbury. Bức ảnh đương nhiên vẫn còn đó. Bà cảm thấy mình thật ngốc nghếch. Người phụ nữ này dù sao cũng chẳng có gì quá cuốn hút, già đi nhanh chóng, lại càng ngày càng xấu xí; hơn nữa, cô ta đã đính hôn với Bena-Walker rồi. Cứ để nó trôi qua vậy, bà nghĩ. Cứ để nó trôi qua vậy.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »