Chiến Tranh và Hồi Ức (1941–1945)

Lượt đọc: 228 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 82

❊ ❊ ❊

Sự diệt vong của nước Đức (Trích từ cuốn "Cuộc thảm sát thế giới" của Armin von Roon)

Lời người dịch tiếng Anh: Roon coi cuộc đổ bộ ở Normandy vào tháng Sáu và cuộc tấn công của quân đội Liên Xô là một chiến dịch quân sự phối hợp. Xét về ý nghĩa khái quát, điều này là chính xác. Tại Tehran, các nước trong Đại Liên minh quả thực đã đồng ý kẹp chặt nước Đức từ hai phía Đông và Tây. Tuy nhiên, người Nga không hề biết về kế hoạch tác chiến của chúng ta, và chúng ta cũng chẳng biết gì về kế hoạch của họ. Một khi chúng ta đã đổ bộ, việc liệu Stalin có giữ đúng lời hứa phát động tấn công sau hai tuần hay không vẫn là một điều vô cùng khó đoán.

Chương này tập hợp các luận văn chiến lược của Roon cùng những chương cuối trong hồi ký của Hitler.

Tháng Sáu năm 1944, gọng kìm sắt được rèn tại Tehran bắt đầu khép lại. Theo kế hoạch gọng kìm hai phía do chủ nghĩa đế quốc tư bản và chủ nghĩa cộng sản Slav âm mưu dàn dựng từ lâu, dân tộc Đức, thành trì cuối cùng của văn hóa và lễ nghi Cơ Đốc giáo tại Trung Âu, đã bị tấn công từ cả hai phía Đông và Tây.

Trong các tác phẩm ở phương Tây, cuộc đổ bộ Normandy và cuộc tấn công của Nga vẫn được coi là một thành tựu vĩ đại của "nhân loại". Thế nhưng, các sử gia nghiêm túc đã bắt đầu nhìn thấu bức màn khói của tuyên truyền thời chiến. Tại Tehran, Franklin D. Roosevelt đã giao Đông Âu vào móng vuốt của ác quỷ đỏ. Động cơ của ông ta là gì? Là muốn tiêu diệt nước Đức, đối thủ mạnh nhất của tư bản độc quyền Mỹ trên thế giới. Do kiệt sức và nỗ lực quá mức trong cuộc chiến này, lại thêm việc Roosevelt xảo quyệt chống lại chủ nghĩa thực dân, nước Anh - theo cách nói sống động của Hitler - đã bị lột da như một con thỏ. Nước Nhật dũng cảm đang dần kiệt quệ trong cuộc chiến không cân sức với hạm đội ngày càng lớn mạnh của Nimitz. Chỉ còn nước Đức là vẫn cản đường tiến tới bá quyền thế giới của đồng đô la.

Có người cho rằng Roosevelt sau đó tại Hội nghị Yalta đã "bị lừa", nhượng bộ Stalin quá nhiều, đó là một kiểu bàn luận nông cạn. Thực tế, ông ta đã nhượng bộ tất cả ngay từ Tehran. Khi đảm bảo sẽ phát động tấn công vào Pháp, ông ta đã khiến cho người châu Á đỏ tiến thẳng vào trái tim châu Âu là điều không thể tránh khỏi. Để đảm bảo điều này, ông ta còn gửi lượng lớn vật tư theo chương trình Cho thuê - Cho mượn (Lend-Lease) sang Liên Xô, con số lớn đến mức vẫn khiến người ta khó lòng tưởng tượng: khoảng 400.000 xe cơ giới, 2.000 đầu máy xe lửa, 11.000 toa tàu, 7.000 xe tăng, hơn 6.000 pháo tự hành và xe bán xích, cùng 2,7 triệu tấn dầu mỏ và các sản phẩm khác cần thiết để vận hành quân đội Slav nguyên thủy, chưa kể 15.000 máy bay, hàng triệu tấn lương thực cùng vô số nguyên liệu, nhà máy, quân nhu và thiết bị kỹ thuật.

Bức tranh Roosevelt như một nhà nhân đạo chất phác, bị lừa dối khi đi đàm phán với Stalin chính là trò lừa bịp tuyên truyền lớn nhất của ông ta. Hai tên đồ tể lòng dạ lạnh lùng này hiểu nhau rất rõ; họ chỉ vì sự quan sát của nhân dân nước mình, vì lịch sử, mới giả vờ tỏ ra các thái độ khác nhau. Trong hai người này, Roosevelt luôn chiếm thế thượng phong, bởi nước Nga Xô Viết bị tàn phá một nửa, đang trong tình thế nguy nan, còn nước Mỹ thì quốc phú dân cường, bình an vô sự. Stalin không còn cách nào khác, chỉ đành hy sinh mạng sống của hàng triệu người Nga để dọn đường cho tư bản độc quyền Mỹ thống trị thế giới. Thông qua những cuộc đàm phán tuyệt mật mà lúc đó chúng ta ở Bộ tư lệnh đều không hề hay biết, ông ta quả thực từng thăm dò khả năng ký kết hòa ước với chúng ta theo các điều kiện hợp lý, nhưng lúc này, "Đạo luật Cho thuê - Cho mượn" hào phóng của Roosevelt đã làm thất bại chúng ta. Tất nhiên, Hitler không sẵn sàng từ bỏ tất cả lợi ích mà chúng ta đã giành được. Sau khi nhận được tất cả số vật tư đó, Stalin quyết định tiếp tục chiến đấu, hy sinh một lượng lớn máu của người Đức và người Nga, như vậy thì có lợi hơn.

Những quốc gia nghèo nàn và hay cãi vã ở Đông Âu là miếng mồi mà Roosevelt quăng ra cho Stalin để đổi lấy sự hy sinh khủng khiếp của nước ông ta. Chính sách của Roosevelt là: cứ để chúng rơi vào tay người Nga đi. Tất nhiên, những kẻ Balkan hay thay đổi là những vật tế thần đáng ngờ. Người Liên Xô sau khi nuốt chửng những dân tộc không chịu khuất phục đó thì đã bị chứng khó tiêu và đang ợ hơi. Tầm quan trọng chiến lược của bán đảo đầy biến động đó không còn như vài thế kỷ trước, hay thậm chí như đối với chúng ta vào năm 1944, là một kênh dẫn để có được crom của Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, dù vậy, việc mời gọi chủ nghĩa cộng sản Slav tiến quân đến sông Elbe và sông Danube vẫn là tội ác tày trời. Churchill khao khát đưa đòn tấn công chính của quân Đồng minh vào các nước Balkan, điều này ít nhất cho thấy một sự nhạy bén chính trị nhất định, cũng như trách nhiệm nào đó đối với nền văn minh Cơ Đốc giáo và Trung Âu. Máu của ông ta không lạnh như Roosevelt. Roosevelt hoàn toàn không quan tâm đến các quốc gia Balkan hay Ba Lan, chỉ là trong một khoảnh khắc vô cùng thẳng thắn, ông ta đã nói với Stalin tại Tehran rằng, do phải đối mặt với số lượng lớn phiếu bầu của cử tri gốc Ba Lan tại Mỹ trong kỳ bầu cử, ông ta buộc phải lo lắng hão huyền về tương lai của Ba Lan.

Xung đột của các quân phiệt: Franklin Roosevelt đã mạo hiểm rất lớn trong cuộc đổ bộ Normandy. Điều này ít người biết đến. Khi chúng ta cân nhắc lực lượng đối chọi, các yếu tố về thời gian và không gian, cũng như vấn đề vận chuyển đường biển và đường bộ, chúng ta thấy rằng việc Churchill trì hoãn hành động là có lý có tình. Cuộc đổ bộ cực kỳ nguy hiểm, kết quả có thể là một thảm họa lớn. Chính sự xui xẻo và những sai lầm nối tiếp nhau của chúng ta mới khiến Roosevelt thành công trong một chiến dịch quân sự táo bạo.

Bản thân Eisenhower biết rõ sự nguy hiểm của Chiến dịch Overlord. Thậm chí khi 5.000 con tàu của ông ta tiến về bờ biển Normandy trong đêm mưa gió đó, ông ta đã soạn thảo một bản thông cáo tuyên bố chiến dịch quân sự này thất bại, bản thảo này tình cờ được lưu giữ lại: "Cuộc đổ bộ của chúng ta tại khu vực Cherbourg - Le Havre đã không giành được vị trí đứng chân thỏa đáng, tôi đã rút quân đội ra. Quyết định phát động tấn công vào lúc này tại nơi này là dựa trên những tin tình báo đáng tin cậy nhất hiện có. Lực lượng lục quân, không quân và hải quân đều chiến đấu dũng cảm, hoàn thành chức trách. Nếu chiến dịch này có bất kỳ sai sót hay bất ổn nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm."

Tài liệu này không trở thành thông cáo chính thức của quân Đồng minh là do một vài yếu tố, chủ yếu là: 1. Cơ quan tình báo đáng ghét của chúng ta, 2. Trong những thời khắc quyết định ban đầu, phản ứng của chúng ta đối với cuộc tấn công này là hỗn loạn và chậm chạp, 3. Quyết định ngu ngốc khó tin của Adolf Hitler, 4. Không quân Đức không thể đối phó với ưu thế trên không của quân Đồng minh.

Việc tập kết hạm đội xâm lược quả thực là một thành tựu kỹ thuật xuất sắc, và việc sản xuất đội máy bay khổng lồ cũng như trang bị nhân sự cho chúng cũng vậy. Tướng Marshall đã thể hiện ông là một Scharnhorst của nước Mỹ trong việc tuyển mộ, trang bị và huấn luyện lực lượng lục quân đổ bộ vào Normandy. Bộ binh Mỹ tuy cần sự hỗ trợ hậu cần quá xa xỉ, nhưng đã chiến đấu ngoan cường tại Pháp; họ tinh thần phấn chấn, được nuôi dưỡng đầy đủ, một hơi tiến lên. Những người lính Anh dưới quyền chỉ huy của Montgomery, mặc dù tiến triển chậm chạp như thường lệ, nhưng đã thể hiện sự dũng cảm của loài chó bull. Tuy nhiên, bản chất những gì xảy ra ở Normandy là Franklin Roosevelt, giống như Wellington đánh bại Napoleon tại Waterloo, đã đánh bại Adolf Hitler một cách chắc chắn không thể nghi ngờ. Tại Normandy, hai người này cuối cùng đã chạm trán trong cuộc xung đột vũ trang trực diện. Sai lầm của Hitler đã khiến Roosevelt giành thắng lợi. Cũng giống như trên chiến trường Waterloo, không hẳn là Wellington đánh thắng, mà là Napoleon đã thất bại.

Franklin Roosevelt có một thiên tài quân sự tàn độc, tinh túy nằm ở những quy tắc đơn giản này: chọn lựa kỹ lưỡng các tướng lĩnh lục hải quân; giao toàn bộ chiến lược và chiến thuật cho họ, bản thân chỉ chăm lo các vấn đề chính trị của cuộc chiến; tuyệt đối không can thiệp vào hành động quân sự; tuyệt đối không cách chức các nhà lãnh đạo quân sự bị thất bại vinh quang; để các nhà lãnh đạo giành chiến thắng nhận được tất cả vinh dự. Sau khi Roosevelt qua đời, Bộ tư lệnh tối cao trên chiến trường thực tế vẫn là bộ sậu cũ. Sự ổn định này tạo ra lợi ích. Việc cải tổ Bộ tư lệnh quân sự sẽ gây ra không ít tổn thất về đà tiến, động lực và sức chiến đấu. Thảm họa của chúng ta chính là việc Hitler liên tục thay đổi tướng lĩnh.

Quốc trưởng tự ý nắm lấy quyền chỉ huy tác chiến tối cao. Chúng ta đang phải chịu những thất bại nghiêm trọng. Ông ta tuyệt đối không thể thừa nhận mình phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ thất bại nào. Do đó, các thủ lĩnh quân sự buộc phải thay đổi thường xuyên. Các tướng lĩnh mới nổi đầy tham vọng xuất hiện khắp nơi, họ nóng lòng muốn thăng tiến khi cấp trên của họ bị cách chức vì sự bất tài của Hitler. Tôi dõi theo những vị tướng được Quốc trưởng sủng ái nhất thời này đến rồi đi, họ tràn đầy nhiệt huyết tiếp quản binh quyền, kết quả lại bị sự can thiệp của Hitler làm cho mệt mỏi rã rời, cuối cùng bị cách chức vì hành động tồi tệ của ông ta, thậm chí có thể tự sát hoặc qua đời vì bệnh tim. Đây là một sự việc đáng buồn, là phương pháp tác chiến hoang đường.

Ba việc chi phối vấn đề xâm lược tại Normandy, và vận mệnh quốc gia chúng ta được quyết định bởi vấn đề này: 1. Họ sẽ đổ bộ ở đâu? 2. Họ sẽ đổ bộ khi nào? 3. Chúng ta sẽ chiến đấu với họ ở đâu?

Theo toàn bộ logic quân sự, địa điểm đổ bộ của Anh - Mỹ đáng lẽ phải là khu vực eo biển Pas-de-Calais đối diện Dover. Điều này cung cấp con đường ngắn nhất đến trái tim công nghiệp Ruhr của nước ta. Eo biển ở đó hẹp nhất. Quân đội ở trên mặt nước là không có cách nào xoay xở, lẽ thường đòi hỏi phải đưa họ lên bờ bằng cách nhanh nhất. Thời gian luân chuyển của tàu thuyền và hỗ trợ trên không ở trục Dover - Calais cũng là ngắn nhất. Khu vực bờ biển Normandy nơi kẻ địch phát động tấn công có hành trình đường biển và đường không xa hơn nhiều.

Do chúng ta dốc lòng chuẩn bị đánh chặn quân xâm lược ở khu vực eo biển Calais, chúng ta đã tập trung sự chú ý vào một vị trí, tạo cơ hội cho kẻ địch phát động tập kích bất ngờ. Hitler không biết làm sao lại đoán được địa điểm có khả năng là Normandy. Trong một cuộc họp tham mưu, ông ta quả thực đã dùng một ngón tay chỉ vào bản đồ, với cái mà chúng ta thường gọi là tầm nhìn quân sự không thể phủ nhận của ông ta mà nói: "Họ sẽ đổ bộ ở đây." Nhưng ông ta từng có nhiều phỏng đoán kiểu này trong chiến tranh, thường là cực kỳ hoang đường. Tất nhiên, ông ta chỉ nhớ những phỏng đoán được chứng minh là đúng, rồi thổi phồng chúng lên. Rommel, người được lệnh đánh bại cuộc xâm lược, cũng cảm thấy lo ngại về Normandy. Vì vậy, phải đến rất muộn, chúng ta mới tăng cường phòng thủ các bãi biển đó, tăng cường lực lượng vũ trang triển khai ở đó. Mặc dù cuộc xâm lược này nằm ngoài dự tính, nếu không phải vì kiểu chỉ huy tồi tệ đến mức không thể nói nên lời đó, làm chậm trễ hoàn toàn ngày đầu tiên, chúng ta vốn dĩ đã có thể đánh bại cuộc đổ bộ này.

Người lập kế hoạch chính về phía Anh trong cuộc đổ bộ này là Tướng Morgan từng viết: "Chúng tôi hy vọng và lên kế hoạch chiến đấu càng sâu vào nội địa càng tốt, vì nếu trận chiến tấn công diễn ra trên bãi biển, thì chúng tôi đã thất bại rồi." Tôi thừa nhận các tham mưu của Bộ tư lệnh tối cao chúng ta đã phạm sai lầm ở điểm này. Chúng ta đồng ý với ý kiến của Rundstedt, cho rằng lực lượng dự bị cơ động nên chờ đợi sâu trong nội địa để tránh các cuộc tấn công của hải quân và không quân tầm gần; đợi khi Eisenhower đổ bộ rồi tiến quân mạnh vào nội địa, chúng ta mới phát động tấn công, tiêu diệt toàn bộ quân xâm lược, giống như chúng ta đã nhiều lần tiêu diệt sạch quân đội Nga. Đây là một tâm lý "mặt trận phía Đông". Rommel biết rõ hơn. Ông ta từng cố gắng đánh một trận vận động chiến khi đối mặt với một kẻ địch nắm quyền kiểm soát trên không ở Bắc Phi. Khi đó, chúng ta rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Cơ hội duy nhất để ngăn chặn cuộc xâm lược Normandy là khoảnh khắc kẻ địch loạng choạng đổ bộ lên bãi biển dưới hỏa lực pháo binh của chúng ta. Rommel đã tăng cường cái gọi là Bức tường Đại Tây Dương, và vạch ra toàn bộ kế hoạch của mình theo nguyên tắc này. Nếu ngày bắt đầu xâm lược chúng ta tác chiến theo kế hoạch của ông ta, thì có lẽ chúng ta đã có thể giành thắng lợi và xoay chuyển cục diện chiến tranh.

Lời người dịch tiếng Anh: Roon không hề khen ngợi chiến thuật lừa bịp tuyệt vời mà chủ yếu người Anh đã áp dụng. Chiến thuật này đã củng cố những "phỏng đoán" đầy hy vọng của người Đức về việc chúng ta sẽ đổ bộ ở đâu. Chúng ta đã nỗ lực rất lớn: các cuộc không kích và bắn phá bằng hải quân vào khu vực eo biển Calais vượt xa Normandy, không quân ném bom các tuyến đường sắt và đường bộ dẫn đến khu vực eo biển Calais, dàn dựng nhiều tàu đổ bộ giả và doanh trại quân đội tạm thời giả gần Deauville, cùng nhiều thủ đoạn tình báo vẫn còn được giữ bí mật. Người Đức không phải là những người giàu trí tưởng tượng. Họ đã tin vào tất cả những ám thị chứng minh sự thông minh trong phán đoán của họ, tưởng rằng chúng ta muốn lao vào khu vực eo biển Calais.

Nơi nào đã sai sót - Công tác chuẩn bị: Chúng ta, các tướng lĩnh Đức, thường bị chỉ trích là đổ lỗi cho chính trị gia đã chết Hitler vì đã thua cuộc chiến mà đáng lẽ chúng ta phải thắng. Tuy nhiên, sự bại trận ở Pháp chính là do Hitler gây ra. Ông ta đã bỏ lỡ một cơ hội nhỏ nhoi mà chúng ta có được. Sự thật này trong một phân tích thuần túy quân sự là không thể phủ nhận.

Đánh giá cơ bản của ông ta không quá tệ. Ngay từ tháng 11 năm trước, ông ta đã ban hành huấn lệnh số 51 nổi tiếng, chuyển lực lượng sang mặt trận phía Tây. Ông ta chỉ ra rất đúng rằng, ở phía Đông chúng ta "có thể dùng không gian để đổi lấy thời gian, còn kẻ địch giành được một vị trí đứng chân ở Pháp sẽ có ý nghĩa trực tiếp - một điều khó lòng đối phó"; kho quân nhu Ruhr nơi chúng ta tiến hành chiến tranh sẽ rơi vào phạm vi tấn công của kẻ địch. Huấn lệnh này là đúng, đại cương của nó là thực tế. Giá như ông ta có thể kiên trì thực hiện thì tốt biết mấy! Thế nhưng từ tháng 1 đến tháng 6, ông ta căng thẳng hoảng loạn, nói năng lung tung, thực tế đã tiêu hao toàn bộ lực lượng ở mặt trận phía Tây vào ba chiến trường khác: chiếm đóng Hungary, mặt trận phía Đông và mặt trận quân Đồng minh ở phía Nam Rome. Ngoài ra, ông ta còn đóng băng một lượng lớn quân đội ở Na Uy, các nước Balkan, Đan Mạch và miền Nam nước Pháp để ngăn chặn khả năng đổ bộ, thay vì tập trung tất cả lực lượng đó dọc theo bờ biển eo biển.

Quả thực, ông ta đã chịu áp lực rất lớn. Đường bờ biển dài 3.000 dặm của châu Âu hoàn toàn phơi bày trước sự tấn công của kẻ địch. Ở phía Đông, theo lời Hitler, người Nga như "loài vật trong đầm lầy" đang tiếp tục chiến đấu; họ giải tỏa vòng vây Leningrad, chiếm lại Crimea, khiến toàn bộ cánh nam của chúng ta hoàn toàn bị đe dọa. Hoạt động du kích khiến cả châu Âu bất ổn. Các chính trị gia của các nước vệ tinh đều đang dao động. Ở Ý, kẻ địch không ngừng tiến lên dọc theo chiếc ủng đó. Sự ném bom man rợ của quân Đồng minh có quy mô và độ chính xác ngày càng tăng. Mặc dù Goering huênh hoang khoác lác, nhưng không quân bị đánh bại của ông ta lại bị kìm hãm ở phía Đông và trên bầu trời các thành phố công nghiệp của chúng ta. Giống như nước Anh năm 1940, quân đội, vũ khí và nguồn lực của chúng ta ngày càng giảm sút, trong khi chiến tuyến kéo dài quá mức của chúng ta lại trở nên quá yếu ớt. Tình thế đã thay đổi. Ở nước ngoài, không có đồng minh nào không bị tổn hại để thay chúng ta lấy hạt dẻ trong lửa nữa.

Vào thời điểm này, một nhà lãnh đạo vĩ đại nên cung cấp vai trò ổn định. Nếu huấn lệnh số 51 là đúng, thì phương châm của Hitler rất rõ ràng: 1. Dùng thắng lợi để ổn định sự do dự về chính trị, thay vì chiếm đóng vũ trang tiêu hao lãng phí như ở Hungary và Ý. 2. Ở Ý, rút lui về tuyến dãy Alps và dãy Apennine dễ phòng thủ, điều các sư đoàn dư thừa sang Pháp. 3. Dùng chiến thuật quấy rối linh hoạt thay cho sự kháng cự cứng nhắc, tốn kém để giữ danh tiếng, từ đó trì hoãn sự tiến công của kẻ địch ở phía Đông. 4. Ở những khu vực kẻ địch ít có khả năng xâm lược, để lại một số lực lượng cơ bản, tập trung toàn bộ binh lực vào khu vực eo biển.

Đó là cách Nimitz và Spruance giành thắng lợi trong trận Midway khi quân số ít hơn địch. Họ đã mạo hiểm rất lớn, tập trung binh lực vào các cứ điểm quyết định. Nguyên tắc tác chiến này là không thay đổi. Nhưng sự căng thẳng bất an của Hitler đã cản trở chúng ta kiên trì nguyên tắc. Ông ta tuy cứng đầu nhưng lại không kiên định.

Cái gọi là "Bức tường Đại Tây Dương" mà ông ta huênh hoang xây dựng dọc eo biển rất vụng về. Trong sự tự cho là thông minh, ông ta khẳng định quân xâm lược sẽ tấn công một cảng lớn. Thế là xung quanh các cảng biển chính của Pháp, lô cốt và trận địa pháo hạng nặng san sát, đây là điều do chính vị thiên tài tối cao này thiết kế: 1,5 triệu tấn bê tông và vô số giờ công lao động đều đổ vào đây. Rommel có tầm nhìn xa, ra lệnh phòng thủ cả trên các bãi biển mở: triển khai vài lớp bãi mìn trên vùng đất dưới đáy biển, thiết lập các chướng ngại vật dưới nước có thể chọc thủng và phá hủy tàu bè tiến gần tới, lắp đặt các cọc nhọn ở khu vực phía sau bãi biển để tiêu diệt lực lượng đổ bộ đường không, còn xây dựng thêm rất nhiều lô cốt và trận địa pháo dọc bờ biển.

Thế nhưng sự thiếu hụt nhân lực đã cản trở nỗ lực mới này, vì nhiều người phải đi đào hầm trú ẩn "hùng vĩ" cho các nhà máy máy bay, còn phải sửa chữa những hư hại do bom gây ra trong các thành phố của chúng ta. So với cuộc xâm lược, những việc này thì có gì quan trọng? Tuy nhiên, Hitler không ủng hộ các lệnh bổ sung của Rommel về Bức tường Đại Tây Dương, nên "Bức tường" phần lớn vẫn là một ảo ảnh trong tuyên truyền. Chỉ cần nêu một ví dụ là đủ hiểu. Rommel ra lệnh rải 50 triệu quả mìn ở khu vực phía sau bãi biển nơi quân đổ bộ đường không có thể hạ cánh. Nếu nghe theo ý kiến của ông ta, cuộc đổ bộ của quân đổ bộ đường không sẽ thất bại, nhưng ngay cả 10% số mìn cũng không được chôn, nên cuộc xâm lược của họ đã thành công.

Trên danh nghĩa, chúng ta có khoảng 60 sư đoàn để bảo vệ nước Pháp, nhưng các sư đoàn cố định dàn hàng dọc bờ biển chủ yếu được ghép lại từ những lực lượng dưới tiêu chuẩn bình thường. Một số sư đoàn bộ binh tác chiến bị phân tán ở khắp nơi, nhưng hy vọng của chúng ta nằm ở 10 sư đoàn thiết giáp cơ động. Có 5 sư đoàn đóng quân không xa bờ biển eo biển, có thể xuất kích về phía eo biển Calais, cũng có thể về phía Normandy. Rommel dự định tiêu diệt đợt quân địch đầu tiên đến bằng tàu đổ bộ ngay trên bãi biển. Thực tế sau đó chứng minh, tổng cộng chỉ có 5 sư đoàn. Vì vậy, ông ta yêu cầu giành quyền chỉ huy tác chiến đối với các sư đoàn thiết giáp này.

Điều này là vô ích. Tổng tư lệnh mặt trận phía Tây Rundstedt chủ trương đợi quân xâm lược đứng chân vững chắc rồi mới tấn công họ. Hitler do dự không quyết giữa hai khái niệm chiến thuật này, không khiển trách bên nào. Ông ta ban lệnh phân chia các sư đoàn thiết giáp cho ba bộ chỉ huy khác nhau, còn bản thân ông ta ở Berchtesgaden cách đó 600 dặm, lại giữ quyền chỉ huy tác chiến đối với 4 sư đoàn thiết giáp đóng quân gần bãi biển Normandy nhất. Đây là một quyết định đau lòng. Khi mọi thứ phụ thuộc vào một cú đánh nhanh, táo bạo, thì quyết định này đã trói buộc đôi tay của Rommel. Tuy nhiên, cuộc xâm lược này đã phát hiện Bộ tư lệnh quân đội Đức đang ở trong trạng thái hỗn loạn bất thường, vì vậy rất khó nói là sơ suất nào, sai lầm nào, việc ngu xuẩn nào đã thúc đẩy sự diệt vong của nước Đức. Ngày cuộc xâm lược bắt đầu, phía chúng ta xuất hiện một loạt sơ suất, sai lầm và việc ngu xuẩn như dòng thác đổ.

Nơi nào đã sai sót - Ngày bắt đầu xâm lược: Thất bại quyết định chính là sai lầm phạm phải ở phía eo biển Calais. Chúng ta thiếu nhân viên tình báo. Không thể dò thám được một "bí mật" liên quan đến 2 triệu người ở nước Anh, các biện pháp lừa dối đã khiến chúng ta mắc bẫy, mà trinh sát của chúng ta lại không thể xác định được hướng tấn công được tổ chức ở nơi có thể nhìn thấy rõ ràng cách đó vài chục dặm, thật đau lòng và không thể tin nổi!

Chúng ta đã không nhận ra họ sẽ đổ bộ khi thủy triều xuống thấp. Pháo binh của chúng ta đều nhắm vào đường thủy triều cao; suy nghĩ của chúng ta là, tại sao họ lại chọn lội bộ thêm 800 thước bãi cát mềm nhũn dưới hỏa lực? Họ lại làm thế. Khi đội đặc nhiệm của Eisenhower đến, các chướng ngại vật dưới nước không thể coi thường của chúng ta đều lộ ra, có thể bị công binh nhanh chóng dọn sạch, và quân đội của ông ta đã vượt qua bãi cát đó.

Chúng ta cũng phán đoán sai lầm một cách thê thảm về câu hỏi "Khi nào?". Khi hạm đội của kẻ địch vượt eo biển, Erwin Rommel đang trở về Đức thăm vợ! Ngày 5 tháng 6, một cơn gió khá lớn nổi lên, dự báo sẽ kéo dài ba ngày. Thời tiết xấu này khiến Rommel và tất cả mọi người đều rất yên tâm. Eisenhower đã nhận được dự báo thời tiết cho thấy thời tiết có khả năng chuyển tốt. Ông ta mạo hiểm phê chuẩn xuất phát. Cuộc đổ bộ đường không diễn ra lác đác vào lúc 1, 2 giờ sáng không khiến chúng ta hoảng sợ lắm. Mãi cho đến khi những người lính của chúng ta trong lô cốt Normandy tận mắt nhìn thấy những bóng ma khổng lồ của "Overlord" - hàng ngàn con tàu tiến lại gần trong buổi bình minh sương mù - chúng ta mới chuẩn bị chiến đấu.

Thực tế, chúng ta có một tin tình báo đã bị giải mã nhưng bị bỏ qua. Người chỉ điểm của chúng ta trong phong trào kháng chiến Pháp đã nhận được tín hiệu từ đài BBC, kêu gọi tiến hành phá hoại vào ngày đổ bộ. Tất cả các bộ chỉ huy tác chiến đều đã được cảnh báo. Tại Bộ tư lệnh tối cao, báo cáo này đã được gửi đến Jodl, ông ta hoàn toàn không để tâm. Sau đó, tôi nghe nói Rundstedt cười nhạo sự hoảng loạn này, còn nói: "Cứ như thể Eisenhower sẽ tuyên bố xâm lược trên đài BBC vậy!" Đây chính là thái độ chung.

Chuyến đi tiền tuyến của tôi (Trích từ "Nhà lãnh đạo quân sự Hitler")

...Xem ra vào buổi sáng hôm đó, dường như Hitler không thể nào tỉnh dậy được. Tôi liên tục gọi điện cho Jodl để đánh thức ông ta, bởi vì Rundstedt yêu cầu phải điều động các sư đoàn thiết giáp ra mặt trận. Rõ ràng, tình thế cuộc tấn công tại Normandy lần này vô cùng nghiêm trọng! Jodl phớt lờ yêu cầu của Rundstedt, quyết định này của Jodl đến nay vẫn bị các nhà sử học kịch liệt lên án. Thế nhưng, khi Hitler nhàn nhã dùng xong bữa sáng một mình, rồi tiếp kiến Jodl vào khoảng mười giờ, ông ta hoàn toàn tán thành việc khước từ yêu cầu điên rồ của Rundstedt.

Tình hình chỉ huy tại Berchtesgaden thật nực cười. Hitler ở trong cái hang ổ trên núi của mình, Jodl ở tại "Tiểu Phủ Thủ tướng", còn bộ chỉ huy tác chiến lại nằm trong một doanh trại ở đầu kia thành phố. Chúng tôi không rời khỏi điện thoại nửa bước. Rommel mất liên lạc, đang vội vã quay về tiền tuyến; Rundstedt ở Paris, tham mưu trưởng Speidel của Rommel ở vùng duyên hải, còn vị tướng chỉ huy sư đoàn thiết giáp Geyr, tất cả họ đều hối hả liên lạc với Berchtesgaden qua điện thoại và máy điện báo. Để tỏ lòng kính trọng với một số quốc khách Hungary, cuộc họp báo cáo tình hình chiến sự vào buổi trưa được dự kiến tổ chức tại cung điện Klessheim. Đây là một địa điểm phong cảnh hữu tình, cách nội thành khoảng một giờ di chuyển. Hitler chưa từng nghĩ đến việc hủy bỏ cuộc họp này. Không hề, các nhân viên tham mưu buộc phải đi ô tô đến đó, gặp ông ta trong một căn phòng bản đồ nhỏ, nơi ông ta diễn cái "vở kịch" báo cáo tình hình chiến sự đã được dàn dựng sẵn cho các vị khách xem. Sau đó, chúng tôi buộc phải đứng bên cạnh chờ đợi báo cáo chiến sự, trong khi quân đội của chúng ta lúc này đang hy sinh dưới bom đạn và pháo kích hải quân của quân Đồng minh, vùng chiếm đóng của địch đang không ngừng mở rộng.

Hôm nay, tôi vẫn có thể nhìn thấy cảnh tượng vị Nguyên thủ nhảy vào căn phòng bản đồ đó vào khoảng trưa, khuôn mặt sưng húp, tái xanh tràn đầy nụ cười, vừa chào hỏi các nhân viên tham mưu, vừa nói: "Chúng ta bắt đầu rồi, phải không? Bây giờ, chúng ta đang giáng cho chúng những đòn mạnh tại nơi có thể đánh chúng! Trước đây trốn ở Anh quốc, chúng quả thực rất an toàn," và những lời đại loại như vậy. Ông ta không hề biểu lộ chút quan tâm nào đến các báo cáo về tình hình nghiêm trọng. Cuộc đổ bộ này hoàn toàn là một trò lừa bịp mà chúng ta đã sớm lường trước. Chúng ta không hề bị mắc lừa! Chúng ta đang nghiêm trận đợi địch ở khu vực eo biển Calais. Cuộc nghi binh này sẽ trở thành một thất bại đẫm máu khác của chúng giống như tại Dieppe. Tuyệt vời!

Trong căn phòng báo cáo tình hình lớn đặt những chiếc ghế bành mềm mại và bản đồ tác chiến trang trọng, ông ta cũng hùng hồn tuyên bố như vậy. Ông ta nói với người Hungary hết vấn đề này đến vấn đề khác, khoe khoang một cách buồn nôn về "binh lực" của chúng ta tại Pháp, về sự tinh nhuệ trong trang bị của chúng ta, về những "vũ khí kỳ diệu" sắp được phóng ra, sự thiếu kinh nghiệm chiến đấu của Lục quân Hoa Kỳ, vân vân và vân vân. Ông ta không hề coi trọng việc Rome thất thủ hai ngày trước đó, thậm chí còn kể một câu đùa thô bỉ, nói rằng bản thân cảm thấy rất nhẹ nhõm khi giao toàn bộ một triệu rưỡi người Ý, những con điếm mắc bệnh giang mai... cho người Mỹ nuôi dưỡng. Không ai biết người Hungary nghĩ gì về tất cả những điều này. Theo tôi thấy, Hitler chỉ đang nói lớn những ảo tưởng của chính mình để tự thuyết phục bản thân. Sau khi vở kịch giả tạo có thể nhìn thấu trong nháy mắt này kết thúc, tôi lập tức yêu cầu phê chuẩn cho phép tôi đến Normandy. Vị Nguyên thủ khó dò đó không những đồng ý, mà còn từ bỏ quy định phản đối các sĩ quan cao cấp đi lại bằng máy bay. Tôi có thể bay đến tận Paris để tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra.

Vài giờ sau, khi chiếc máy bay tôi ngồi lượn vòng trên lá cờ chữ Vạn đang tung bay trên tháp Eiffel ở Paris, tôi không khỏi nghĩ rằng, lá cờ này còn bay ở đây được bao lâu nữa? Trong phòng tình hình của Rundstedt, mọi thứ đều lộn xộn không chịu nổi. Lúc này, Hitler đã điều ra một sư đoàn thiết giáp, các tham mưu đang tranh luận kịch liệt xem nên sử dụng sư đoàn này ở đâu. Các sĩ quan cấp thấp chạy ngược chạy xuôi trong tiếng ồn ào do máy điện báo và tiếng la hét tạo thành. Trên bản đồ tác chiến, những ký hiệu nhỏ đại diện cho tàu thuyền và lính dù nằm rải rác khắp nơi. Những nhãn đỏ đại diện cho bộ binh cho thấy một chiến tuyến dài năm mươi dặm đã tiến sâu đến mức kinh ngạc, chỉ có một nơi duy nhất chúng ta còn vây hãm được người Mỹ trên bãi biển.

Rundstedt tỏ ra rất bình tĩnh, và vẫn chỉn chu như thường lệ, nhưng mệt mỏi, gầy gò và bi quan. Cử chỉ của ông ta không hề giống một vị thống soái mặt trận phía Tây, mà giống một ông già vô quyền đầy rẫy ưu tư hơn. Ông ta cố gắng tranh luận rằng tôi không nên mạo hiểm bị lính dù bắt giữ, nhưng ông ta cũng chỉ nói nửa vời về chuyện này. Ông ta vẫn tin rằng đây là cuộc nghi binh quy mô lớn. Nhưng đánh quân xâm lược xuống biển sẽ khích lệ tinh thần tổ quốc, và ngăn địch tiến lên, cho nên trận đánh này nhất định phải đánh.

Sáng hôm sau, phong cảnh nước Pháp đa dạng, cùng những con bò sữa béo tốt và những người nông dân làm việc chăm chỉ, trông yên tĩnh một cách lạ thường. Người sĩ quan tùy tùng trẻ tuổi của Rundstedt đi cùng xe với tôi buộc phải ra lệnh cho tài xế vòng qua những cây cầu bị đánh sập, liên tục đổi đường mà đi. Thiệt hại do các đợt không kích có tổ chức của quân Đồng minh trong vài tuần qua có thể thấy ở khắp mọi nơi: các ga tàu bị phá hủy, cầu cạn đổ sụp, xe lửa và nhà ga bị thiêu rụi, đầu máy xe lửa lật nhào, đúng nghĩa là "sa mạc đường sắt" mà Churchill từng nói. Nhìn từ góc độ chiến thuật, mặt đất đã trở thành những hòn đảo lốm đốm, chứ không phải là một dải đất phù hợp để tiếp tế qua đường bộ. Điều này chẳng có gì lạ; chỉ riêng ngày xâm lược, kẻ địch đã thực hiện mười lăm ngàn lượt xuất kích không quân, thực tế là không gặp phải sự kháng cự nào! Hồ sơ sau chiến tranh cho thấy đúng là như vậy.

Khi đi qua Saint-Lô, tôi bắt gặp chiếc xe quân sự chở lính dù của chúng ta đang đi về phía Carentan. Tôi cho vị thiếu tá đó đi nhờ xe. Anh ta nói, những kẻ phá hoại người Pháp đã cắt đứt đường dây điện thoại của anh ta, nên vào ngày xâm lược anh ta đã mất liên lạc, nhưng đến đêm muộn lại kết nối được với tư lệnh của mình. Bây giờ, nhiệm vụ của anh ta là phản công lại đầu cầu mỏng yếu của quân Mỹ ở phía đông Varreville.

Khi chúng tôi tiến gần đến vùng duyên hải, sự yên tĩnh kỳ lạ của cuộc sống điền viên đó vẫn tiếp tục. Vị thiếu tá và tôi leo lên tháp chuông của một nhà thờ nông thôn để quan sát xung quanh. Một cảnh tượng kinh ngạc đập vào mắt chúng tôi: Eo biển ken đặc tàu thuyền của địch từ chân trời này sang chân trời kia, còn những con tàu nhỏ thì đông đúc như hàng triệu con côn trùng dưới nước di chuyển giữa bờ biển và tàu lớn. Qua ống nhòm, có thể thấy rõ một hoạt động quy mô lớn và vô cùng bình thản trên bãi biển: các tàu đổ bộ nối đuôi nhau, xếp hàng dài đến tận tầm mắt, trên tàu đang dỡ xuống binh sĩ, quân nhu và trang bị. Trên bãi biển, đen đặc hàng dặm toàn là giỏ liễu, thùng đạn, túi da. Xe cơ giới và binh sĩ đang dỡ hàng, cùng một hàng dài xe tải đang bò vào nội địa.

Cuộc "Chiến dịch nước Pháp" quả thực đã bắt đầu! Những đơn vị này đang chuẩn bị đánh bại nước Đức; trông họ cứ như những người đi dã ngoại vậy. Tôi không nghe thấy tiếng pháo, chỉ nghe thấy vài tiếng súng lẻ tẻ. Vị Nguyên thủ tại cung điện Klessheim đã huênh hoang thổi phồng rằng: "Sẽ nghiền nát quân xâm lược trên bãi cát," "Sẽ đón tiếp chúng bằng một bức tường lửa và thép," sự thật và những lời khoác lác của ông ta khác biệt biết bao!

Chúng tôi lái xe về phía đông, tiếng pháo chiến quy mô nhỏ không ngừng vang lên ầm ầm; các ngôi làng bốc cháy trong sự yên tĩnh kéo dài đó. Tôi cố gắng hết sức hỏi các sĩ quan xung quanh và biết được nguồn gốc của sự yên tĩnh kỳ lạ này. Một đợt tấn công kết hợp hải quân và không quân trên diện rộng vào lúc rạng sáng đã trút xuống các công trình phòng thủ của chúng ta một trận bom và pháo dữ dội. Tôi tìm những người lính bị thương để trò chuyện, khuôn mặt họ đều kinh hoàng bất an. Có một người trung sĩ bị gãy một cánh tay nói với tôi rằng, anh ta từng tham gia trận Verdun, chưa bao giờ trải qua một trận chiến như thế này. Ở bất cứ nơi nào tôi đến, tôi đều bắt gặp những lời lẽ định mệnh luận, tâm trạng thờ ơ, tình trạng mất liên lạc, các đơn vị bị đánh tan tác cùng sự hỗn loạn do mệnh lệnh gây ra. Hạm đội hải quân khổng lồ, những phi đội không quân gầm rú trên đầu, cùng những đợt pháo kích như sóng thần đã gieo rắc một cảm giác bại trận.

Tôi không còn nghi ngờ gì nữa, một cuộc khủng hoảng có khả năng hủy diệt đã cận kề. Tôi liền vội vã quay về Paris, nói với Jodl qua điện thoại rằng đây là cuộc tấn công chính, chúng ta phải tập trung binh lực để đối phó, hành quân ban đêm để tránh sự ngăn chặn từ trên không, và sửa chữa hiệu quả các tuyến vận chuyển trên cơ sở khẩn cấp. Câu trả lời của Jodl là: "Được, hãy mau quay lại đây, nhưng tôi khuyên anh, đối với những gì anh nói phải hết sức cẩn thận." Đó là lời khuyên thừa thãi. Tôi không bao giờ có được cơ hội diện kiến nữa, các cuộc họp báo cáo tình hình chiến sự sau đó tôi đều không được triệu tập. Hitler rõ ràng đã tránh ánh mắt của tôi. Tình hình Normandy nhanh chóng xấu đi; thông tin tình báo của tôi chẳng mấy chốc đã mất đi hiệu lực.

Trong tháng Sáu phong cảnh hữu tình đó, thế giới Đức của chúng ta đang sụp đổ, còn Hitler lại đang uống trà, ăn bánh ngọt và tham gia các hoạt động xã hội tại Berchtesgaden, điều này để lại cho tôi hai ấn tượng. Ngày 19 tháng Sáu, một trận bão dữ dội nổi lên ở vùng duyên hải Normandy, hoành hành suốt bốn ngày. Nó cản trở bước tiến của quân xâm lược hiệu quả hơn nhiều so với quân đội của chúng ta. Nó thổi bay các cảng nhân tạo, suýt chút nữa đã hất văng một ngàn con tàu lên bãi biển. Ảnh trinh sát cho thấy một thảm họa lớn, vì vậy tôi nhen nhóm tia hy vọng cuối cùng. Hitler hân hoan, thao thao bất tuyệt đưa ra những bình luận nông cạn về hạm đội Vô địch của Tây Ban Nha. Sau khi thời tiết quang đãng trở lại, kẻ địch khôi phục các cuộc tấn công trên bộ, trên biển và trên không, như thể một trận mưa rào mùa hè vừa tạnh. Vật lực của chúng, nguồn cung dồi dào không bao giờ cạn từ chiếc sừng dê phong phú mang tên nước Mỹ, quả thực rất đáng kinh ngạc. Sau đó chúng ta không còn nghe thấy gì về hạm đội Vô địch Tây Ban Nha nữa.

Điều còn đọng lại sâu sắc trong ký ức tôi, là cuộc họp báo cáo tình hình chiến sự được tổ chức khi Cherbourg sắp thất thủ. Hitler đeo cặp kính dày đứng trước bản đồ, tay cầm la bàn và thước kẻ, hăng hái chỉ cho chúng tôi thấy, so với những khu vực chúng ta vẫn còn chiếm đóng, quân địch xâm lược chỉ chiếm một phần rất nhỏ của nước Pháp. Điều này ông ta nói với các tướng lĩnh cao cấp, những người biết rõ, và đã cảnh báo ông ta suốt nhiều tuần rằng, sau khi các công trình phòng thủ vòng ngoài ở vùng duyên hải bị đánh tan, và một cảng biển chính thất thủ, phần còn lại của nước Pháp là một vùng bình nguyên, có thể cho quân địch mặc sức tung hoành, phía Đức ngoài tuyến phòng thủ phía Tây ở biên giới và sông Rhine ra, không còn vị trí nào để phòng thủ. Đó là một khoảnh khắc đau lòng biết bao; đôi mắt tôi chợt nhìn rõ, tôi hoàn toàn hiểu ra rằng, vị Nguyên thủ đắc thắng đó đã tha hóa thành một con quái vật bệnh hoạn, đang run rẩy vì mạng sống của chính mình đằng sau một chiếc mặt nạ khoe khoang.

...Nếu Hitler chấp nhận đề nghị của Rommel và Rundstedt vào cuối tháng Sáu để kết thúc chiến tranh, chúng ta chỉ cần khuất phục trước một hòa ước nghiêm khắc. Cuối cùng chúng ta có thể sẽ bị chia cắt như hiện tại, cũng có thể không, nhưng người dân của chúng ta chắc chắn có thể tránh khỏi một năm ném bom dã man, bao gồm sự kiện kinh hoàng tại Dresden và cuộc hành quân thảm khốc của Eisenhower tới sông Elbe. Ở phương Đông, chúng ta có thể tránh được hành vi khủng bố hiếp dâm cướp bóc toàn diện của những kẻ Bolshevik, thế giới đứng xem những hành vi khủng bố đó với nụ cười mỉa mai, không hề để tâm, trong khi hàng triệu thường dân của chúng ta buộc phải rời bỏ quê hương chạy trốn về phía Tây, từ đó không thể quay về.

Năm 1918, khi chúng ta vẫn còn chiếm đóng đất đai nước ngoài, Ludendorff và Hindenburg cũng từng chủ trương đầu hàng trước khi các quốc gia khác có thể giáng sự hủy diệt của chiến tranh lên lãnh thổ nước Đức. Nhưng năm 1918 có một quyền lực chính trị và một bộ phận quân sự; thông qua việc thoái vị của Hoàng đế, các chính trị gia có thể kịp thời đầu hàng kẻ địch. Bây giờ, không có quyền lực chính trị, không có bộ phận quân sự; tất cả đều tập trung vào một mình Hitler. Về mặt chính trị, làm sao ông ta có thể đầu hàng và đưa cổ ra cho đao phủ? Ông ta đành phải chiến đấu tiếp.

Tốt thôi, vậy chiến lược chiến đấu tiếp của ông ta như thế nào: tốt hay xấu? Chiến lược của ông ta cứng nhắc, tự mãn và vụng về. Ông ta đã đánh mất Normandy. Lực lượng đổ bộ chỉ có năm sư đoàn! Nếu các sư đoàn thiết giáp được điều ra, tập trung lại với nhau, thì bất chấp mọi điều kiện bất lợi — thông tin tình báo không thông suốt, ưu thế trên không của kẻ địch, pháo kích của hải quân, v.v. — tham mưu trưởng tài năng Speidel của Rommel sẽ đưa các sư đoàn thiết giáp ra trận, đối phó với những binh sĩ Mỹ và Anh đang vật lộn tiến lên. Kết quả sẽ là một cuộc tàn sát đẫm máu mang tính lịch sử. Tại bãi biển Omaha, sư đoàn bộ binh 352 tình cờ tác chiến ở đó, chỉ một sư đoàn của họ đã suýt chút nữa đẩy lính Mỹ xuống biển. Trong những khoảnh khắc ban đầu đó, nếu phát động một cuộc phản công có kế hoạch, tập trung binh lực, thì chuyện gì không thể làm được?

Nếu chúng ta đánh bại năm sư đoàn đó, đó rất có thể là bước ngoặt. Người Anh và người Mỹ không phải là người Nga; về mặt chính trị và quân sự, họ đều không chịu nổi sự đổ máu như vậy. Nếu tất cả những công tác chuẩn bị viển vông đó, tất cả sự tập trung lớn lao về kỹ thuật và tài phú đó đều không thể ngăn cản quân đổ bộ của họ bị tàn sát trong ngày quyết định đầu tiên đó, tôi tin rằng Eisenhower, Roosevelt và Churchill sẽ sợ hãi, tuyên bố một cuộc "rút quân" để giữ thể diện. Kết quả về mặt chính trị sẽ rất kinh ngạc: Churchill sẽ sụp đổ, Roosevelt sẽ thất bại trong cuộc bầu cử, Stalin sẽ cáo buộc họ bội tín; thậm chí có thể ký kết một loại hòa ước lâu dài riêng lẻ ở phương Đông, ai mà biết được? Nhưng Adolf Hitler lại cứ khăng khăng chỉ huy mấy sư đoàn thiết giáp đó từ Berchtesgaden.

Khi sự hủy diệt cận kề, Hitler vẫn ôm chặt, và lải nhải không ngừng về ba ảo tưởng tự an ủi: 1. Chia rẽ liên minh chống lại chúng ta. 2. Làm thay đổi cục diện chiến tranh bằng vũ khí mới kỳ diệu. 3. Sản xuất hàng loạt máy bay phản lực kiểu mới từ các nhà máy trong hang động, quét sạch kẻ địch khỏi bầu trời. Trong bảy tuần lễ sống còn, ông ta khăng khăng giữ quân đoàn 15 đóng tại khu vực eo biển Calais đứng yên chờ đợi "cuộc xâm lược chính", bởi vì các bệ phóng tên lửa V-1 và V-2 quý giá của ông ta ở đó. Nhưng cuối cùng, khi tên lửa được phóng đi, chúng chỉ là vũ khí khủng bố thứ yếu, gây ra một số cái chết và thiệt hại bừa bãi ở London, không có giá trị quân sự. Loại máy bay chiến đấu đó mãi đến năm 1945 mới được sản xuất chậm chạp từ các nhà máy trong hang động, nhưng đã quá muộn. Còn về vũ khí duy nhất có ý nghĩa quan trọng là bom nguyên tử, Hitler đã không ủng hộ kế hoạch này, từ đó lãng phí vô ích vị thế dẫn đầu về khoa học mà chúng ta đạt được trong việc phân tách nguyên tử, hơn nữa ông ta còn trục xuất những nhà khoa học Do Thái sau này sản xuất bom nguyên tử cho kẻ thù của chúng ta.

Quả thực, chia rẽ liên minh của kẻ địch là cánh cửa thoát hiểm duy nhất của chúng ta, nhưng thủ đoạn chính trị cao tay của Franklin Roosevelt tại Tehran đã đóng sầm cánh cửa đó lại, phong tỏa hoàn toàn. Vì vậy, ngày 22 tháng Sáu, đúng vào ngày chúng ta tấn công Liên Xô ba năm sau đó, thất bại thảm hại nhất từ trước đến nay, nhiệm vụ được Tehran chỉ định cho Stalin, tức chiến dịch Belarus, đột nhiên giáng xuống đầu chúng ta từ phương Đông.

Tôi xin dừng bút tại đây để thuật lại sự kiện tàn khốc không chút khoan nhượng này.

Lời người dịch tiếng Anh: Trong tập hợp các quan điểm của Rommel đã bị lược bỏ nhiều này, tôi đã cố gắng hết sức để làm nổi bật cái nhìn của người Đức về cuộc đổ bộ Normandy, lược bỏ nhiều chi tiết tác chiến quân sự mà mọi người đã quen thuộc từ các sách sử và phim ảnh thông thường. Bức điện Stalin gửi Churchill đến nay vẫn là một trong những tóm lược thích đáng nhất về những chiến công vĩ đại của chiến dịch Overlord: "Nhìn từ quy mô hùng vĩ, khái niệm bao quát cũng như việc dụng binh điêu luyện, trong lịch sử chiến tranh tuyệt nhiên không có chiến công nào tương tự."

Sự khiển trách đối với Hitler có lẽ hơi quá đà. Ngay cả khi điều động sư đoàn thiết giáp giao cho Rommel, quân đội của chúng ta có lẽ cũng sẽ lường trước được. Tình báo của chúng ta — từ trinh sát trên không, phong trào kháng chiến Pháp cũng như giải mã mật mã, v.v. — là vô cùng xuất sắc. Chúng ta có thể đã tiêu diệt họ từ trên không trước khi các sư đoàn thiết giáp đó tham chiến. Điều này không có nghĩa là cuộc đổ bộ này không ngàn cân treo sợi tóc. Đó là một hành động được tính toán cực kỳ chu đáo, bất chấp nguy hiểm to lớn. Kết quả là nó đã thành công.

Còn về việc Hitler "tha hóa" thành một con quái vật bệnh hoạn, ông ta vốn dĩ chưa bao giờ là người khác biệt, mặc dù ông ta từng diễn trò rất nhiều trong sự ngang ngược kiểu thổ phỉ lúc ban đầu. Những lời lẽ kích động của ông ta tại sao lại có thể thúc đẩy người Đức đi đến chiến tranh và tội ác, điều này vẫn là một câu hỏi khó hiểu.

Đôi mắt của Rommel không tự nhiên nhìn rõ. Những khiếm khuyết về thị giác đó phải do người khác phẫu thuật cho ông ta.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »