Phòng hơi ngạt

Lượt đọc: 96 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 28

❊ ❊ ❊

Mặc dù phải mất một lúc lâu Lỵ mới đưa ra lời giải thích cho sự biến mất của mình ngày hôm qua, nhưng lời giải thích đó vẫn được coi là đáng tin. Cô nói mình đã ở bệnh viện suốt cả ngày, vừa nói vừa đi lại quanh bếp, cô đã ở cùng một đứa trẻ của Viện Auburn. Cô bé đáng thương đó mới mười ba tuổi, vừa sinh đứa con đầu lòng không lâu, và chắc chắn sau này sẽ còn sinh tiếp, đứa trẻ sinh non một tháng. Mẹ cô bé đang ở trong tù, dì thì đi bán ma túy chưa về, nó chẳng còn nơi nào để đi. Trong quá trình sinh nở vô cùng khó khăn, Lỵ đã nắm chặt tay cô bé từ đầu đến cuối. Tình trạng của cô bé tạm ổn, đứa trẻ cũng không tệ, thế là, trong khu ổ chuột ở Memphis lại có thêm một sinh linh bé nhỏ không ai cần đến.

Giọng Lỵ hơi khàn, đôi mắt đỏ hoe sưng húp. Cô nói mình phải đến tận sau một giờ sáng mới về đến nhà, vốn định gọi điện sớm hơn, nhưng họ đã làm việc suốt sáu tiếng trong phòng chờ sinh, rồi lại thêm hai tiếng nữa trong phòng sinh. Bệnh viện từ thiện Thánh Peter giống như một vườn thú, nhất là khoa sản, thật sự không còn cách nào khác, cô hoàn toàn không có thời gian để gọi điện.

A Đam mặc đồ ngủ ngồi bên bàn ăn uống cà phê, xem báo, vừa nghe cô nói. Anh không hề yêu cầu cô giải thích, nên cố gắng tỏ ra vẻ không để tâm lắm. Cô không ngừng tay làm bữa sáng: trứng rán và bánh quy đóng hộp. Vừa nói vừa làm, cô cố hết sức để mình bận rộn không dứt trong bếp, cố tránh chạm vào ánh mắt của anh.

“Đứa bé tên gì?” Anh hỏi rất nghiêm túc, như thể mình vô cùng quan tâm đến chuyện Lỵ kể.

“Ồ, Na Tháp Sa. Na Tháp Sa Perkins.”

“Nó mới mười ba tuổi thôi sao?”

“Đúng vậy, mẹ nó mới hai mươi chín tuổi. Anh có tin được không? Một bà ngoại hai mươi chín tuổi.”

A Đam lắc đầu không thể tin nổi. Anh tình cờ đang xem mục ghi chép của tờ "Báo Memphis", nơi ghi lại một số việc quan trọng của địa phương: giấy đăng ký kết hôn, đơn ly hôn, sinh, bắt giữ, tử vong. Anh tìm kiếm trong cột sinh của ngày hôm qua, làm ra vẻ như đang kiểm tra tỉ số trận đấu, nhưng không hề tìm thấy người nào mới làm mẹ tên là Na Tháp Sa Perkins.

Lỵ phải tốn rất nhiều công sức mới làm xong món bánh quy đóng hộp. Cô bày bánh quy và trứng ra một chiếc đĩa tròn, rồi ngồi xuống phía đầu kia của bàn, cách xa A Đam nhất có thể. "Chúc ngon miệng," cô gượng cười nói đùa bằng tiếng Pháp. Thực ra dáng vẻ nấu ăn của cô đã đủ buồn cười rồi.

A Đam cười như không có chuyện gì xảy ra. Lúc này họ thực sự cần sự hài hước, nhưng đầu óc của cả hai đều không nghe theo sự điều khiển của họ. "Đội Cubs lại thua rồi," anh nói sau khi ăn một miếng trứng rồi liếc nhìn tờ báo đã gấp lại.

“Đội Cubs thường xuyên thua mà, phải không?”

“Không phải thường xuyên thua. Em có xem bóng chày không?”

“Em ghét bóng chày. Phelps làm em ghét tất cả các môn thể thao mà đàn ông thích.”

A Đam cười rồi lại cúi đầu đọc báo. Hai người im lặng một hồi lâu, chỉ ăn phần cơm của mình, bầu không khí trong phòng ngày càng nặng nề. Lỵ nhấn điều khiển từ xa bật chiếc tivi trên tủ đựng bát đĩa để tạo ra chút âm thanh. Cả hai đột nhiên đều nảy sinh sự quan tâm đến thời tiết, thời tiết vẫn nóng nực và khô hanh. Cô lơ đãng đối phó với bữa sáng của mình, từng chút từng chút ăn chiếc bánh quy mới rán một mặt, vừa xoay xoay quả trứng trên đĩa. A Đam đoán lúc này cô hoàn toàn không có chút khẩu vị nào.

Anh ăn xong rất nhanh, rồi đứng dậy mang đĩa đến bồn rửa trong bếp. Sau khi quay lại, anh ngồi xuống tiếp tục đọc báo, còn mắt cô thì dán chặt vào tivi hoặc bất cứ nơi nào khác, miễn là có thể tránh việc nhìn thấy cháu trai mình.

“Hôm nay có lẽ anh sẽ đi gặp Sam,” anh nói, “đã một tuần rồi không đến thăm ông ấy.”

Ánh mắt cô dừng lại ở đâu đó giữa bàn. “Thật hy vọng chúng ta không đến Clanton vào thứ Bảy tuần trước,” cô nói.

“Anh biết.”

“Đó không phải là một ý hay.”

“Xin lỗi Lỵ, là anh khăng khăng muốn đi, quả thực không thích hợp lắm. Anh còn ép buộc nhiều chuyện, có lẽ anh làm không thỏa đáng.”

“Làm như vậy không công bằng—”

“Anh biết không công bằng. Bây giờ anh mới hiểu, đó không chỉ là đi tìm hiểu lịch sử gia tộc.”

“Điều đó không công bằng với ông ấy, A Đam. Ông ấy chỉ còn hai tuần nữa thôi, bắt ông ấy đối mặt với những chuyện này là một việc rất tàn nhẫn.”

“Em nói đúng. Để em ôn lại những chuyện đó cũng không thỏa đáng lắm.”

“Em sẽ ổn thôi,” cô nói, dường như tình trạng hiện tại của cô thực sự không ổn, nhưng sau này có lẽ sẽ ổn.

“Xin lỗi Lỵ, thật sự rất xin lỗi.”

“Không sao, anh và Sam hôm nay định làm gì?”

“Nói chuyện, chủ yếu là nói chuyện. Tòa án Liên bang khu vực hôm qua đã đưa ra phán quyết bất lợi cho chúng ta, nên sáng nay chúng ta phải tiến hành kháng cáo. Sam thích nói về các chiến lược pháp lý.”

“Nói với ông ấy là em rất nhớ ông ấy.”

“Anh sẽ nói.”

Cô đẩy đĩa ra, dùng hai tay ôm lấy cốc. “Hỏi ông ấy xem ông ấy có muốn em đến thăm ông ấy không.”

“Em thực sự muốn đi sao?” A Đam không thể che giấu sự ngạc nhiên của mình.

“Em nghĩ nên đi thăm ông ấy. Chúng ta đã nhiều năm không gặp nhau rồi.”

“Anh sẽ hỏi ông ấy.”

“Đừng nhắc đến Joe Lincoln, được không, A Đam? Em chưa bao giờ nói với bố rằng em đã chứng kiến chuyện đó.”

“Em và Sam chưa bao giờ nói chuyện về vụ giết người đó sao?”

“Chưa. Chuyện đó ai cũng biết, nó lớn lên cùng em và Eddie, giống như đeo một cái gông cùm nặng nề vậy. Nhưng thực lòng mà nói, trong mắt hàng xóm thì đó không phải là chuyện gì ghê gớm. Bố em giết một người da đen, nhưng đó là vào năm 1950, hơn nữa lại ở Mississippi. Gia đình chúng em sau đó chưa bao giờ nhắc lại chuyện đó.”

“Vậy là Sam đến chết cũng sẽ không còn ai đối chất với ông ấy về vụ án giết người này nữa sao?”

“Đối chất với ông ấy có ý nghĩa gì chứ? Đã là chuyện của bốn mươi năm trước rồi.”

“Anh không biết, có lẽ ông ấy sẽ nói một lời xin lỗi.”

“Với anh? Để ông ấy nói với anh một tiếng xin lỗi, rồi tất cả những chuyện này đều sẽ hóa giải sao? Thôi đi, A Đam, anh còn trẻ, anh không hiểu đâu, quên chuyện đó đi, đừng làm tổn thương ông lão đó nữa. Ông ấy đã sống quá thảm hại rồi, anh là niềm an ủi duy nhất trong cuộc đời ông ấy.”

“Được, được rồi.”

“Anh không có quyền dùng chuyện của Joe Lincoln để đả kích ông ấy.”

“Em nói đúng. Anh sẽ không làm thế, anh thề.”

Cô dùng đôi mắt đỏ ngầu nhìn chằm chằm vào anh, cho đến khi anh dời ánh mắt sang tivi, rồi cô lập tức nói xin lỗi rồi vội vã đi qua phòng đọc sách và biến mất. A Đam nghe thấy tiếng cửa phòng tắm đóng lại và khóa trái. Anh nhẹ nhàng bước qua tấm thảm đi vào hành lang, đứng sững lại, nghe thấy tiếng cô nôn ọe bên trong. Tiếng xả nước bồn cầu vang lên, anh vội vàng lên lầu về phòng mình để tắm rửa thay đồ.

Mười giờ sáng, A Đam đã viết xong đơn kháng cáo gửi Tòa phúc thẩm khu vực 5 tại New Orleans. Thẩm phán Slattery đã fax quyết định của chính mình cho thư ký Tòa phúc thẩm khu vực 5, A Đam vừa đến văn phòng đã nhanh chóng fax đơn kiện của mình đi. Anh đã sửa lại bản thảo vào tối hôm qua.

A Đam còn có cuộc điện thoại đầu tiên với thư ký án tử hình, đó là nhân viên chuyên trách của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, công việc duy nhất là giám sát mọi đơn kháng cáo cuối cùng của các tử tù. Khi thời hạn thi hành án tử hình đến gần, thư ký án tử hình thường trực 24/24 giờ. E. Garner Goodman đã giới thiệu sơ qua cho A Đam về những mánh khóe thường dùng của thư ký án tử hình đó và tình hình văn phòng của ông ta, A Đam khá do dự khi gọi cuộc điện thoại đầu tiên cho ông ta.

Thư ký án tử hình này tên là Richard Oland, là kiểu người rất tháo vát. Vào sáng thứ Hai này, giọng ông ta có vẻ hơi mệt mỏi. "Chúng tôi đã chờ đợi thứ này từ lâu rồi," ông ta nói với A Đam, như thể vụ kháng cáo chết tiệt này lẽ ra nên được thực hiện từ lâu rồi mới phải. Ông ta hỏi A Đam đây có phải lần đầu tiên xử lý án tử hình không.

“E là đúng vậy,” A Đam nói, “và tôi hy vọng đây là lần cuối cùng.”

“Ừm, anh không nghi ngờ gì đã chọn phải một kẻ định sẵn là thua cuộc,” ông Oland nói, sau đó ông ta không ngại phiền phức giải thích tòa án của ông ta thụ lý đơn kháng cáo cuối cùng như thế nào. Từ bây giờ cho đến khi kết thúc, mỗi đơn kháng cáo, bất kể địa điểm và nội dung kháng cáo là gì, đều phải đồng thời nộp một bản cho văn phòng của ông ta lưu hồ sơ. Ông ta nói một cách khô khan, như thể đang đọc một bài văn. Thực tế, ông ta sẽ lập tức fax một bản quy định của tòa án cho A Đam, trên đó có tất cả các quy định mà A Đam phải tuân thủ từ đầu đến cuối. Ông ta không dưới một lần nhắc lại rằng văn phòng của ông ta làm việc 24 giờ, và văn phòng của ông ta phải nhận được bản sao của tất cả các tài liệu. Nghĩa là, nếu A Đam muốn đơn kiện của thân chủ mình được tòa án xét xử công bằng, thì chỉ có cách làm theo những gì ông ta nói. Nếu A Đam không cho là vậy, thì được thôi, cứ theo quy trình thông thường mà làm, thân chủ của anh sẽ phải trả giá vì điều đó.

A Đam đảm bảo sẽ làm theo quy định. Tòa án Tối cao đối với những vụ kháng cáo án tử hình không hồi kết như vậy đã ngày càng trở nên mất kiên nhẫn, muốn lấy trước bản sao của tất cả các yêu cầu và kháng cáo để đẩy nhanh tiến độ xử lý. Đơn kiện của A Đam gửi Tòa phúc thẩm khu vực 5 e rằng trước khi được chuyển từ New Orleans lên Tòa án Tối cao đã bị các thẩm phán và cấp dưới của họ nghiên cứu kỹ rồi. Đối với vụ kháng cáo vào phút chót của anh cũng sẽ làm như vậy. Như thế tòa án có thể lập tức đồng ý giảm án, hoặc rất nhanh chóng bác bỏ.

Tuy nhiên, vị thư ký án tử hình này từng làm một việc khiến Tòa án Tối cao rất khó xử, hành động của ông ta quá hiệu quả và nhanh chóng, khiến Tòa án Tối cao bác bỏ đơn kiện trước khi nó kịp được trình lên.

Ông Oland nói văn phòng của ông ta có một bảng đối chiếu chi tiết về các đơn kháng cáo và yêu cầu vào phút chót, ông ta và những cấp dưới rất tháo vát của mình sẽ giám sát xem mỗi vụ án đã thực hiện đầy đủ mọi thủ tục kháng cáo hay chưa. Nếu luật sư nào bỏ sót một điểm tranh luận tiềm năng nào đó, họ sẽ thông báo cho luật sư đó thực thi quyền hạn mà mình đã bỏ sót. Ông ta hỏi A Đam có cần bản sao của bảng đối chiếu này không?

A Đam nói không cần, anh đã có một bản rồi. E. Garner Goodman có viết chuyên luận về việc kháng cáo thoát chết trước khi thi hành án.

Tốt lắm, ông Oland nói. Ông Cayhall còn mười sáu ngày nữa, tất nhiên, trong mười sáu ngày này sẽ xảy ra rất nhiều chuyện. Tuy nhiên, theo ý kiến thiển cận của ông ta, công việc của luật sư đại diện trước đây của ông Cayhall đã làm rất tốt, vụ án này đã không còn gì không rõ ràng nữa. Ông ta bạo gan nói, đại khái là sẽ không còn khả năng trì hoãn nào nữa.

Không cần phiền lòng, A Đam thầm nghĩ.

Ông ta giải thích rằng, thư ký và trợ lý đang theo dõi sát sao một vụ án ở Texas. Thời gian thi hành án tử hình của vụ án đó sớm hơn Sam một ngày, nhưng theo ông ta, vụ án đó ngược lại có khả năng được hoãn thi hành. Florida cũng có một vụ án tử hình, thời gian thi hành muộn hơn Sam hai ngày. Muộn hơn một tuần nữa ở Georgia còn có hai vụ, tình hình cụ thể thì không rõ lắm. Cấp dưới của ông ta luôn túc trực, còn ông ta sẽ đích thân túc trực bên điện thoại mười hai giờ trước khi hành hình.

Lúc nào cũng có thể gọi điện, ông ta nói, cuối cùng lại nói thêm vài câu đảm bảo sẽ cố hết sức cung cấp sự thuận tiện cho A Đam và thân chủ của anh rồi cúp máy.

A Đam đặt điện thoại xuống cái "cạch" rồi đi lại trong phòng. Cửa văn phòng của anh vẫn khóa như thường lệ, ngoài hành lang đầy những tiếng trò chuyện sôi nổi của sáng thứ Hai. Bản thân anh hôm qua lại lên báo, nên bây giờ không muốn bị ai nhìn thấy. Anh gọi điện đến Viện Auburn tìm Lỵ, nhưng cô không có ở đó. Anh lại gọi cho căn hộ, cũng không có người bắt máy. Anh gọi thông cho Parchman, nói với bảo vệ cổng rằng anh sẽ đến vào khoảng một giờ chiều.

Anh ngồi vào trước máy tính, tiếp tục công việc hiện tại của mình, biên soạn một bản niên đại tiến triển vụ án cho Sam.

Bồi thẩm đoàn quận Lake đã kết tội Sam vào ngày 12 tháng 2 năm 1981, và hai ngày sau đó đã trao cho ông bản án tử hình. Ông trực tiếp kháng cáo lên Tòa án cấp cao bang Mississippi, khiếu nại về sự bất công trong xét xử và tố tụng, đặc biệt đề cập đến thực tế rằng việc kết tội được đưa ra gần đúng mười bốn năm sau khi vụ đánh bom xảy ra. Luật sư của Sam là Benjamin Keyes đã tranh luận gay gắt về việc Sam bị tước đoạt quyền được xét xử kịp thời, khẳng định tòa án đã vi phạm nguyên tắc "không xét xử một vụ án hai lần", vì Sam đã bị xét xử ba lần cho một vụ án. Lập luận của Keyes rất mạnh mẽ, Tòa án cấp cao Mississippi sau khi tranh luận gay gắt về những vấn đề này mới đưa ra phán quyết gây tranh cãi về việc giữ nguyên bản án vào ngày 23 tháng 7 năm 1982. Năm thẩm phán đồng ý giữ nguyên bản án, ba người phản đối, một người bỏ phiếu trắng.

Keyes nhanh chóng yêu cầu Tòa án Tối cao Hoa Kỳ ban hành lệnh đòi hồ sơ, thực chất là yêu cầu Tòa án Tối cao xem xét lại vụ án của Sam. Vì những vụ án mà Tòa án Tối cao đồng ý với yêu cầu như vậy là cực kỳ hiếm, nên khi Tòa án Tối cao đồng ý xem xét lại bản án của Sam vào ngày 4 tháng 3 năm 1983, quả thực khiến người ta cảm thấy hơi bất ngờ.

Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đối với điểm tranh luận về việc "không xét xử một vụ án hai lần" cũng xuất hiện sự chia rẽ nghiêm trọng, nhưng kết quả cuối cùng không thay đổi. Do Clovis Brazelton gây khó dễ, hai bồi thẩm đoàn đầu tiên của Sam đã gặp phải những trở ngại không thể vượt qua mới ảnh hưởng đến tiến độ, nên điều khoản "không xét xử một vụ án hai lần" của Tu chính án thứ 5 không áp dụng với Sam. Hai bồi thẩm đoàn trước đó không tuyên ông vô tội, vì lúc đó không thể đưa ra phán quyết, nên khởi tố lại là hoàn toàn phù hợp với hiến pháp. Ngày 21 tháng 9 năm 1983, Tòa án Tối cao với tỉ lệ phiếu 6-3 đã phán quyết bản án của Sam có hiệu lực. Thế là Keyes lại lập tức yêu cầu xét xử lại, nhưng không nhận được bất kỳ kết quả nào.

Trong thời gian xét xử và kháng cáo lên Tòa án cấp cao Mississippi, Sam luôn thuê Keyes làm luật sư đại diện cho mình. Kể từ sau khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đưa ra phán quyết, công việc của Keyes không còn được trả thù lao nữa, hợp đồng đại diện tố tụng của ông đã hết hạn. Ông viết cho Sam một lá thư dài, trong thư giải thích rằng Sam đã đến lúc cần sắp xếp lại, và nhận được sự thấu hiểu của Sam.

Keyes còn viết một lá thư cho một người bạn luật sư của ông ở Liên minh Nhân quyền Hoa Kỳ tại Washington, người bạn đó lại viết thư cho bạn thân của mình là E. Garner Goodman tại Văn phòng Luật Cube ở Chicago, lá thư này đến tay Goodman đúng lúc. Sam ngày tháng không còn nhiều, đang rơi vào tình cảnh tuyệt vọng, còn Goodman lúc đó đang tìm kiếm đối tượng để hỗ trợ pháp lý miễn phí. Thế là họ bắt đầu thư từ qua lại, ngày 18 tháng 12 năm 1983, Wallace Turner thuộc bộ phận bảo vệ quyền lợi tội phạm cổ cồn trắng của Văn phòng Luật Cube đã nộp một yêu cầu giảm án sau kết tội lên Tòa án Tối cao Mississippi.

Turner đã nêu ra nhiều sai sót trong quá trình xét xử vụ án của Sam, bao gồm việc cho phép sử dụng những bức ảnh thi thể đẫm máu của Josh và John Kramer. Ông chỉ trích việc lựa chọn bồi thẩm đoàn, ông biện luận rằng việc trong bồi thẩm đoàn người da đen nhiều hơn người da trắng là sự sắp đặt có chủ ý của McAllister. Ông chỉ ra rằng do môi trường xã hội năm 1981 và năm 1967 đã có sự khác biệt rất lớn, nên việc xét xử không thể công bằng. Ông khẳng định thẩm phán chủ tọa lựa chọn địa điểm xét xử là không công bằng. Ông lại nêu ra điểm tranh luận về "không xét xử một vụ án hai lần" và xét xử kịp thời. Tóm lại, Wallace Turner và Garner Goodman trong đơn yêu cầu đã đưa ra tám điểm tranh luận khác nhau. Tuy nhiên, họ không kiên trì nêu ra việc luật sư bào chữa làm việc không hiệu quả đã gây ra ảnh hưởng xấu cho Sam, đây là khiếu nại chính mà tất cả các tử tù đều đưa ra. Vốn dĩ hai luật sư có cân nhắc về khía cạnh này, nhưng Sam kiên quyết không đồng ý. Vì yêu cầu này đã tấn công cá nhân vào luật sư Benjamin Keyes mà Sam yêu mến, nên Sam ban đầu đã từ chối ký tên.

Ngày 1 tháng 6 năm 1985, Tòa án cấp cao bang Mississippi bác bỏ mọi yêu cầu liên quan đến giảm án sau kết tội. Turner lại kháng cáo lên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, nhưng Tòa án Tối cao không đồng ý thụ lý hồ sơ để xem xét lại. Ông lập tức nộp yêu cầu cầu cứu lệnh bảo hộ thân thể và hoãn thi hành án đầu tiên của Sam lên Tòa án Liên bang Mississippi. Đương nhiên, đơn yêu cầu vô cùng dày, bao gồm tất cả các điểm tranh luận từng đưa ra trước tòa án bang.

Hai năm sau, ngày 3 tháng 5 năm 1987, Tòa án khu vực bác bỏ toàn bộ yêu cầu liên quan đến giảm án, Turner lại kháng cáo lên Tòa phúc thẩm khu vực 5 tại New Orleans, tòa án này nhanh chóng xác nhận sự bác bỏ của tòa án cấp dưới. Ngày 20 tháng 3 năm 1988, Turner nộp yêu cầu xem xét lại lên Tòa phúc thẩm khu vực 5, lại một lần nữa bị bác bỏ. Ngày 3 tháng 9 năm 1988, Turner và Goodman lại nỗ lực gian khổ, yêu cầu Tòa án Tối cao ban hành lệnh chuyển hồ sơ. Một tuần sau, Sam viết lá thư đầu tiên trong chuỗi lá thư gửi cho Goodman và Turner, đe dọa sẽ sa thải họ.

Do Tòa án Tối cao đồng ý xem xét lại một vụ án ở Florida, Turner biện luận rằng điểm tranh luận đưa ra trong vụ án đó rất gần với của Sam, hơn nữa Tòa án Tối cao đã đồng ý yêu cầu hoãn thi hành án tử hình đối với hơn mười vụ án tương tự trên cả nước. Lập luận này của ông đã thành công rực rỡ, Tòa án Tối cao tham chiếu vụ án đó vào ngày 4 tháng 5 năm 1989 đã đồng ý hoãn thi hành án tử hình lần cuối cùng đối với Sam.

Việc xét xử và tranh luận của Tòa án Tối cao đối với vụ án Florida liên tục bị trì hoãn, trong thời gian này vụ án của Sam không hề đưa ra bất kỳ kháng cáo mới nào, mà Sam lại bắt đầu nỗ lực thoát khỏi Văn phòng Luật Cube của chính mình. Ông đích thân đưa ra vài yêu cầu được thực hiện không ra hình thù gì, nhanh chóng bị bác bỏ. Tuy nhiên, ông lại thành công trong việc nhận được một tờ lệnh do Tòa phúc thẩm khu vực 5 ban hành, chấm dứt hiệu quả kế hoạch hỗ trợ pháp lý miễn phí này mà các luật sư đại diện của ông đã thực hiện. Ngày 29 tháng 6 năm 1990, Tòa phúc thẩm khu vực 5 cho phép ông tự đại diện, đồng thời Garner Goodman cũng dừng hoạt động kháng cáo mà ông thực hiện cho Sam Cayhall, nhưng thời gian dừng lại không lâu.

Ngày 9 tháng 7 năm 1990, Tòa án Tối cao hủy bỏ lệnh hoãn thi hành án tử hình đối với Sam. Ngày 10 tháng 7 cùng năm, Tòa phúc thẩm khu vực 5 cũng dừng việc hoãn thi hành án tử hình đối với Sam, cùng ngày đó, Tòa án cấp cao bang Mississippi ấn định thời gian thi hành án tử hình là ngày 8 tháng 8, tức là bốn tuần sau đó.

Cuộc chiến kháng cáo kéo dài chín năm, cuộc đời của Sam cuối cùng chỉ còn lại mười sáu ngày—

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 6 năm 2026