Phòng hơi ngạt

Lượt đọc: 96 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 19

❊ ❊ ❊

Cánh đồng lúa mì cuồn cuộn sóng trải dài hàng dặm, địa thế dần cao lên khi tiến về phía chân núi. Ở cuối cánh đồng, những dãy núi xa xăm sừng sững nối liền thành một đường thẳng. Một cứ điểm của Đức Quốc xã chiếm diện tích hơn một trăm mẫu Anh nằm trong thung lũng uốn lượn phía trên cánh đồng, tựa lưng vào những tầng núi non như một bức bình phong, nhìn xuống cảnh sắc bao quát vài dặm xung quanh. Hàng rào dây thép gai bao quanh trại đều được ngụy trang bằng hàng rào cây và bụi rậm. Các khu vực tập bắn và huấn luyện cận chiến cũng được che giấu tương tự để đề phòng trinh sát từ trên không. Trên mặt đất chỉ có hai ngôi nhà gỗ nhỏ không mấy nổi bật, trông bề ngoài như những chòi nghỉ chân cho người câu cá. Thế nhưng bên dưới những ngôi nhà đó, ẩn sâu trong lòng núi, có hai giếng thang máy dẫn đến một mê cung gồm các hang động tự nhiên và nhân tạo. Những lối đi đủ rộng cho xe golf chạy qua kết nối mười hai căn phòng khác nhau từ khắp mọi hướng. Một trong số đó được dùng làm xưởng in. Hai phòng dùng để lưu trữ vũ khí đạn dược. Ba căn phòng lớn hơn được dùng làm nơi ở. Ngoài ra còn có một thư viện nhỏ. Sảnh trung tâm là căn phòng lớn nhất, một hang động cao bốn mươi bộ, chuyên dùng cho các thành viên hội họp, diễn thuyết và xem phim.

Đây là một cứ điểm được thiết kế tỉ mỉ, có đĩa vệ tinh thu nhận tin tức truyền hình từ khắp nơi trên thế giới, máy tính kết nối với các cứ điểm khác để trao đổi tình báo nhanh chóng, máy fax, điện thoại di động và đủ loại thiết bị điện tử thời thượng nhất hiện nay.

Mỗi ngày, cứ điểm nhận được không dưới mười loại báo chí. Báo được chuyển đến một chiếc bàn trong căn phòng cạnh thư viện, do một người tên là La Lan xem trước. Hắn hầu như sống tại cứ điểm, cùng ở với hắn còn có vài người khác phụ trách bảo trì nơi này. Báo thường được đưa đến từ thành phố vào khoảng chín giờ sáng, La Lan pha cho mình một cốc cà phê lớn rồi bắt đầu đọc. Đây không phải là công việc lặt vặt. Hắn từng nhiều lần chu du thế giới, thông thạo bốn thứ tiếng và có lòng ham học hỏi mãnh liệt. Nếu có mẩu tin nào thu hút sự chú ý, hắn sẽ đánh dấu lại, sau đó sao chép một bản rồi nhập vào máy tính.

Sở thích của hắn có chút đặc biệt. Hắn hiếm khi xem mục thể thao, không bao giờ đọc quảng cáo tuyển dụng. Đối với các trang về thời trang, phong cách, lối sống, các bài viết tâng bốc và các mục liên quan, hắn chỉ xem lướt qua chứ không hề tò mò. Những bài báo hắn thu thập đều liên quan đến các nhóm tương tự tổ chức của hắn – như Aryan, các tổ chức phát xít khác và Đảng KKK. Gần đây, hắn đánh dấu vào nhiều bài báo từ Đức và Đông Âu, tỏ ra vô cùng phấn khích trước sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít tại những nơi đó. Hắn nói tiếng Đức lưu loát, mỗi năm ít nhất ở lại đất nước vĩ đại này một tháng. Hắn chú ý đến động thái của các chính trị gia, lưu tâm đến sự quan tâm sâu sắc của họ đối với các tội ác thù hận và ý định hạn chế quyền lợi của các tổ chức như của hắn. Hắn giám sát Tòa án Tối cao, theo dõi các phiên tòa xét xử những kẻ đầu trọc tại Mỹ và sự đàn áp, hành hạ của họ đối với các thành viên Đảng KKK.

Ngày thường, hắn dành hai tiếng mỗi sáng để cập nhật tin tức mới nhất, quyết định những bài báo nào cần lưu lại để tham khảo sau này. Đây là công việc thường lệ, nhưng hắn cảm thấy vô cùng thú vị.

Sáng hôm nay có chút khác biệt. Ngay cái nhìn đầu tiên thấy một tờ báo San Francisco đăng bức ảnh cũ kỹ của Sam Cayhall trên trang nhất, hắn đã biết có chuyện không ổn. Bài báo chỉ có ba đoạn, nhưng đã tường thuật rõ ràng tin nóng hổi về việc tử tù lâu năm nhất nước Mỹ này sẽ do cháu trai mình đảm nhận vai trò luật sư đại diện. La Lan đọc ba lần mới tin vào mắt mình, sau đó đánh dấu lên đó để giữ lại. Một giờ trôi qua, hắn đã thấy năm sáu bài báo tương tự. Có hai tờ báo đăng bức ảnh chụp nhanh của Adam Hall trẻ tuổi đã xuất hiện trên trang nhất của tờ "Memphis" ngày hôm qua.

La Lan đã theo dõi vụ án của Sam Cayhall nhiều năm, lý do theo dõi không chỉ có một. Một là, những vụ án kiểu này liên quan đến một kẻ khủng bố Đảng KKK già nua từ thập niên sáu mươi đang chờ ân xá trong tù thường là kiểu mà máy tính của chúng quan tâm. Tài liệu in về Sam đã dày đến một foot. Mặc dù La Lan không phải là luật sư, hắn lại đồng tình với ý kiến chung của giới tư pháp rằng đơn kháng cáo của Sam đã đi vào ngõ cụt, lần này lão khó thoát khỏi cái chết. Kết quả như vậy lại đúng ý La Lan, tuy nhiên hắn giấu kín suy nghĩ của mình. Trong mắt những kẻ ủng hộ chủ nghĩa da trắng thượng đẳng, Sam là một anh hùng, và nhóm nhỏ những tên phát xít của La Lan cũng đã được mời tham gia các hoạt động biểu tình trước khi hành hình. Chúng không có liên hệ trực tiếp với Sam vì lão không bao giờ hồi âm cho chúng, nhưng lão là một biểu tượng, chúng muốn lợi dụng cái chết của lão để làm lớn chuyện.

Họ của La Lan là Fortune, mang dòng máu của gia tộc Cajun vùng Thibodaux. Hắn không có số an sinh xã hội, không bao giờ khai thuế, trong mắt chính phủ thì hắn hoàn toàn không tồn tại. Hắn có ba cuốn hộ chiếu giả được làm tinh xảo, trong đó một cuốn là của Đức, cuốn khác được cho là do Cộng hòa Ireland cấp. La Lan ra vào biên giới, vượt qua kiểm tra xác minh không chút khó khăn.

Trong số nhiều bí danh của La Lan còn có một cái tên chỉ mình hắn biết, chưa từng tiết lộ với ai, đó là Raleigh Wedge. Năm 1967, sau vụ đánh bom Kramer, hắn trốn khỏi Mỹ, từng sống ở Bắc Ireland, sau đó còn ở lại Libya, Munich, Belfast và Lebanon. Để quan sát phiên tòa xét xử Sam và Dogan, hắn từng hai lần trở về Mỹ trong thời gian ngắn vào năm 1967 và 1968. Lúc đó hắn đã có giấy tờ hoàn chỉnh để tự do đi lại.

Sau đó hắn còn vài lần trở về Mỹ ngắn hạn, mỗi lần đều là để xử lý cục diện hỗn loạn của vụ án Cayhall. Tuy nhiên, thời gian trôi qua, hắn không còn quá lo lắng về việc này nữa. Để truyền bá thông điệp phát xít, hắn đã chuyển vào boong-ke này được ba năm. Hắn không còn tự coi mình là thành viên Đảng KKK. Giờ đây hắn đã là một tên phát xít tự hào.

Khi kết thúc buổi đọc báo sáng, hắn phát hiện trong mười tờ báo có bảy tờ đăng bài về Sam. Hắn bỏ những tờ báo này vào một cái giỏ kim loại, rồi quyết định đi lên xem mặt trời. Hắn rót thêm cà phê vào cốc nhựa xốp của mình, đi thang máy lên tám mươi bộ đến tiền sảnh của một ngôi nhà gỗ. Hôm nay là một ngày đẹp trời, thời tiết mát mẻ, nắng rực rỡ, không một gợn mây. Hắn đi theo một con đường mòn nhỏ lên núi, chưa đầy mười phút đã có thể nhìn xuống thung lũng bên dưới. Phía xa là những cánh đồng lúa mì vô tận.

Về cái chết của Sam, La Lan đã mơ tưởng suốt hai mươi ba năm. Hai người họ có chung một bí mật, chỉ khi Sam bị hành quyết thì gánh nặng này mới có thể trút bỏ. Hắn rất ngưỡng mộ người này. Sam không giống Dogan, lão giữ vững lời thề của mình, trước sau như một không hề khai ra. Trải qua ba phiên tòa, vài lần thay đổi luật sư, vô số lần kháng cáo và triệu tập, Sam chưa bao giờ khuất phục. Lão là một người đáng kính, nhưng La Lan lại muốn lão chết. À đúng rồi, trong hai phiên tòa đầu tiên, vì bất đắc dĩ hắn từng nhắn tin đe dọa Sam và Dogan, nhưng chuyện đó đã qua lâu rồi. Dogan đã sụp đổ dưới áp lực, hắn đã thú tội và làm chứng chống lại Sam. Thế là Dogan chết.

Chàng thanh niên này làm hắn bất an. Giống như tất cả những người khác, La Lan đã mất dấu vết con trai của Sam và gia đình lão. Hắn biết cô con gái ở Memphis, nhưng người con trai thì mất tích. Thế mà giờ đây, gã luật sư trẻ tuổi đẹp trai, được giáo dục bài bản đến từ một công ty luật Do Thái giàu có này lại đột ngột xuất hiện, chuẩn bị cứu ông nội mình. La Lan biết rõ tình hình hành hình, nên hắn hiểu các luật sư vào thời khắc ngàn cân treo sợi tóc này đều sẽ thử mọi cách để giải cứu thân chủ của mình. Nếu Sam có định khai ra, thì chính là lúc này, và sẽ nói khi có mặt cháu trai lão.

Hắn ném một hòn đá xuống sườn núi, nhìn nó nhảy ra khỏi tầm mắt. Hắn phải làm một chuyến đến Memphis.

Thứ Bảy đối với công ty luật ở Chicago chỉ là một ngày làm việc vất vả nữa, nhưng ở chi nhánh Memphis tình hình lại nhẹ nhàng hơn. Khi Adam đến văn phòng lúc chín giờ, cậu phát hiện chỉ có hai luật sư khác và một trợ lý đang làm việc. Cậu tự nhốt mình trong văn phòng, kéo rèm xuống.

Cậu và Sam đã làm việc cùng nhau hai tiếng hôm qua, khi Parker còng tay chân đưa trở lại thư viện luật, họ đã bày đầy hàng chục cuốn sách luật và sổ ghi chép của luật sư trên bàn. Parker kiên nhẫn chờ Sam thong thả đặt sách lại lên kệ.

Adam xem lại ghi chú của họ một lần nữa. Cậu truy cập máy tính để bắt đầu nghiên cứu phân tích của riêng mình, rồi sửa đổi bản cáo trạng lần thứ ba. Cậu đã fax một bản cáo trạng cho Garner Goodman, người sau đó đã sửa đổi rồi fax lại.

Goodman không lạc quan về việc liệu đơn kháng cáo này có được đối xử công bằng tại phiên điều trần hay không, nhưng vụ án đã đi đến bước này thì không còn gì để mất. Nếu tòa án liên bang thực sự tổ chức phiên điều trần khẩn cấp, Goodman đã sẵn sàng ra làm chứng về tình hình thi hành án của Maynard Toll. Ông và Peter Weisenberg đã chứng kiến vụ hành hình đó. Thực tế, Weisenberg vì không chịu nổi cảnh một người sống sờ sờ bị xử tử bằng hơi độc nên đã từ chức tại công ty luật để đi dạy học. Ông nội của anh là người sống sót sau thảm họa Holocaust, nhưng bà nội anh thì không may mắn như vậy. Goodman hứa sẽ liên lạc với Weisenberg và tin rằng anh ấy cũng sẽ ra làm chứng.

Đến trưa, Adam đã thấy chán nản khi ở trong văn phòng. Cậu mở cửa, không nghe thấy tiếng bước chân. Các luật sư khác đều đã về. Cậu cũng rời khỏi tòa nhà văn phòng.

Cậu lái xe về phía tây, qua sông vào tiểu bang Arkansas, đi qua trạm dừng xe tải và trường đua chó ở West Memphis, cuối cùng thoát khỏi dòng xe cộ đông đúc để đến vùng nông thôn đầy rẫy ruộng đồng. Cậu lái xe qua các ngôi làng nhỏ Earl, Parkin và Wynne, bắt đầu tiến vào vùng núi. Cậu dừng lại ở một cửa hàng tạp hóa nông thôn để uống một chai Coca, ba ông lão mặc quần yếm sờn màu ngồi ở cửa, chịu đựng cái nóng gay gắt để đập ruồi. Cậu hạ mui xe xuống, tăng tốc lái đi.

Hai giờ sau cậu lại dừng xe, lần này là ở thành phố Mountain View, mua một chiếc bánh sandwich và hỏi đường. Người ta bảo cậu Calico Rock ở ngay phía trước không xa, qua sông White là đến. Con đường đó phong cảnh hữu tình, uốn lượn qua chân núi Ozarks, xuyên qua những cánh rừng rậm rạp, băng qua những con suối nhỏ trên núi. Trên mặt sông White uốn lượn như rắn dọc theo phía bên trái con đường điểm xuyết những chiếc thuyền nhỏ của người câu cá hồi.

Calico Rock là một thành phố nhỏ nằm trên cao nguyên ven sông. Dọc theo bờ đông của con sông gần đầu cầu có ba bến tàu cá. Adam đỗ xe bên sông, đi bộ đến một cửa hàng bán đồ du lịch có tên là Calico Small Yacht Marina ở bến tàu đầu tiên. Cửa hàng là một công trình nổi được buộc vào bờ bằng những sợi dây cáp thô. Một hàng thuyền thuê trống không được buộc lại với nhau dựa vào bến tàu. Chiếc máy bơm xăng duy nhất tỏa ra mùi xăng nồng nặc. Một tấm biển liệt kê giá thuê thuyền, hướng dẫn viên, dụng cụ tàu thuyền và giấy phép câu cá.

Adam bước lên bến tàu có mái che, ngắm nhìn mặt sông cách đó vài bước chân. Một thanh niên tay chân bẩn thỉu từ phòng phía sau bước ra, hỏi cậu có cần giúp gì không. Cậu ta nhìn Adam từ đầu đến chân, rõ ràng nhận ra cậu không phải đến để câu cá.

“Tôi muốn tìm Win Lettner.”

Trên túi áo của chàng thanh niên có thêu tên cậu ta là "Ron", nhưng phía trên tên bị che khuất bởi một ít vết dầu mỡ. Ron quay người đi vào phòng, vừa gọi vọng vào cánh cửa lưới của một cửa hàng nhỏ: “Ông Lettner!” Sau đó Ron không thấy đâu nữa.

Win Lettner là một gã to con, cao hơn sáu foot, khung xương lớn, thừa cân khá nghiêm trọng. Theo lời Goodman, ông ta có sở thích uống bia, Adam liếc nhìn cái bụng lớn của ông ta mà không khỏi nhớ đến điều đó. Ông ta đã gần bảy mươi tuổi, dưới chiếc mũ có nhãn hiệu động cơ tàu thủy EVIRUDF là mái tóc hoa râm gọn gàng nhưng thưa thớt. Có ít nhất ba bức ảnh báo chí của đặc vụ Lettner được đặt riêng trong hồ sơ của Adam, trong mỗi bức ảnh ông ta đều mặc trang phục đặc vụ FBI tiêu chuẩn – bộ vest sẫm màu, áo sơ mi trắng, cà vạt hẹp, kiểu tóc quân đội. Lúc đó ông ta gầy hơn nhiều.

“Đúng vậy, thưa cậu,” ông ta vừa lau vụn bánh mì ở khóe miệng vừa nói lớn khi bước ra từ cửa lưới, “Tôi là Win Lettner.” Giọng ông trầm thấp, nụ cười dễ chịu.

Adam đưa tay ra, nói: “Tôi là Adam Hall. Rất vui được gặp ông.”

Lettner nắm lấy tay cậu, lắc nhiệt tình. Cẳng tay ông cơ bắp, bắp tay nổi lên cao. “Đúng vậy, thưa cậu,” ông nói bằng giọng vang dội, “Tôi có thể làm gì cho cậu?”

May mắn là trên bến tàu không có ai khác ngoài Ron – người của ông ta không thấy đâu, nhưng đang tạo ra tiếng động ầm ĩ trong phòng của mình. Adam hơi căng thẳng, nói: “Ồ, tôi là luật sư, tôi đại diện cho Sam Cayhall.”

Lettner cười lớn hơn, để lộ hai hàm răng vàng ố. “Đây là công việc rất hợp với cậu đấy, phải không?” Ông vừa nói vừa cười lớn, rồi vỗ vào lưng Adam.

“Tôi cũng nghĩ vậy,” Adam bồn chồn nói, sợ ông ta vỗ thêm cái nữa, “Tôi muốn nói chuyện với ông về Sam.”

Lettner đột nhiên nghiêm túc lại. Ông dùng lòng bàn tay đầy đặn xoa cằm, nheo mắt đánh giá Adam. “Tôi đã thấy trên báo rồi, nhóc. Tôi biết Sam là ông nội cậu. Cậu chắc hẳn thấy khó đối phó, và sẽ ngày càng khó hơn,” nói xong ông lại cười, “Sam cũng sẽ thấy ngày càng khó đối phó.” Mắt ông lóe lên ánh sáng vui vẻ, dường như ông vừa nói một câu đùa hài hước, hy vọng Adam nghe xong sẽ cười không đứng thẳng người lên được.

Adam không hiểu sự hài hước trong lời nói của ông. “Sam chỉ còn chưa đầy một tháng nữa, ông biết đấy,” cậu nói, tin rằng Lettner đã biết ngày hành hình từ báo chí.

Một lòng bàn tay nặng nề bất ngờ đặt lên vai Adam, đẩy cậu về phía cửa hàng. “Vào trong đi, nhóc. Chúng ta hãy nói về Sam. Có uống bia không?”

“Không, cảm ơn.” Họ bước vào một căn phòng hẹp. Trên tường và trần nhà treo đầy dụng cụ câu cá, các kệ hàng xiêu vẹo bày đầy bánh quy, cá mòi đóng hộp, xúc xích đóng hộp, bánh mì, thịt lợn đậu xanh và bánh cupcake – tất cả đều là những thứ cần thiết cho một ngày chơi trên sông. Trong góc phòng còn có một tủ lạnh đựng đồ uống.

“Ngồi đi,” Lettner nói, vẫy tay về phía góc gần máy tính tiền. Adam ngồi xuống một chiếc ghế gỗ bấp bênh, Lettner thì thò tay vào tủ lạnh, lấy ra một chai bia. “Cậu thực sự không làm một ly sao?”

“Có lẽ lát nữa.” Lúc này đã gần năm giờ.

Ông vặn mở nắp chai, ngụm đầu tiên đã uống ít nhất một phần ba, chép miệng, rồi ngồi xuống một chiếc ghế da thuyền trưởng cũ kỹ chắc chắn là được tháo ra từ một chiếc xe tải tùy chỉnh. “Cuối cùng họ cũng định xử lý lão Sam rồi phải không?” ông hỏi.

“Họ đang cố gắng hết sức.”

“Cơ hội thắng thế nào?”

“Không khả quan lắm. Chúng ta có thể đưa ra những đơn kháng cáo vào phút chót thường thấy, nhưng thời gian đã rất gấp rút rồi.”

“Sam không phải là người xấu,” Lettner nói với chút tiếc nuối, sau đó lại uống một ngụm bia lớn để trôi đi chút tiếc nuối đó. Sàn nhà phát ra tiếng kêu kẽo kẹt nhẹ do boong tàu bên dưới bồng bềnh theo dòng sông.

“Ông ở Mississippi bao lâu?” Adam hỏi.

“Năm năm. Hoover gọi cho tôi sau khi ba nhà hoạt động dân quyền mất tích. Năm 1964, chúng tôi thành lập một đội đặc nhiệm để bắt tay vào việc. Sau khi vụ Kramer xảy ra, Đảng KKK có vẻ trở nên chán nản.”

“Lúc đó ông phụ trách công việc gì?”

“Chỉ thị của ông Hoover cụ thể và rõ ràng. Ông ấy bảo tôi bằng mọi giá phải thâm nhập vào Đảng KKK. Ông ấy muốn đánh sập Đảng KKK. Nói thật, hành động của chúng tôi ở Mississippi bắt đầu rất chậm. Lý do thì có nhiều. Hoover ghét anh em nhà Kennedy, mà họ lại thúc ép quá gắt gao, nên ông ấy cố tình trì hoãn. Nhưng sau khi ba chàng trai đó mất tích, chúng tôi lập tức hành động. Năm 1964 là một năm náo nhiệt đối với Mississippi.”

“Tôi sinh năm đó.”

“Đúng vậy, báo nói cậu sinh ở Clanton.”

Adam gật đầu. “Tôi đã rất lâu không biết tình hình này. Cha mẹ tôi bảo tôi sinh ở Memphis.”

Cửa kêu lên một tiếng, Ron bước vào cửa hàng. Cậu ta nhìn họ, sau đó xem xét kỹ những túi bánh quy và cá mòi. Họ nhìn cậu ta, chờ đợi. Cậu ta liếc Adam một cái, như muốn nói: “Tiếp tục nói đi. Tôi không nghe đâu.”

“Cậu muốn gì?” Lettner quát lên với cậu ta.

Cậu ta dùng bàn tay bẩn thỉu chộp lấy một hộp xúc xích Vienna, đưa cho họ xem. Lettner gật đầu, vẫy tay về phía cửa. Ron chậm rãi đi về phía cửa, dọc đường còn ngắm nghía bánh cupcake và khoai tây chiên.

“Nó tò mò chết đi được,” sau khi cậu ta đi rồi, Lettner nói, “Tôi từng nói chuyện với Garner Goodman vài lần. Đó là chuyện của nhiều năm trước. Đó là một gã kỳ quặc.”

“Ông ấy là sếp của tôi. Chính ông ấy đưa tên ông cho tôi, ông ấy nói ông sẽ nói chuyện với tôi.”

“Nói chuyện gì?” Lettner hỏi, lại uống một ngụm.

“Nói về vụ án Kramer.”

“Vụ án Kramer đã khép lại rồi. Chỉ còn vấn đề cuộc hẹn của Sam với phòng hơi ngạt thôi.”

“Ông hy vọng lão bị xử tử không?”

Tiếng nói theo tiếng bước chân mà đến, sau đó cửa lại mở ra. Một người đàn ông và một cậu bé bước vào, thế là Lettner đứng dậy. Họ cần thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác, hai người mất mười phút vừa mua sắm vừa thảo luận xem cá ở đâu chịu ăn mồi. Lettner vì có khách hàng ở đó, cẩn thận đặt chai bia xuống dưới quầy.

Adam lấy một lon đồ uống không cồn từ tủ lạnh, bước ra khỏi cửa hàng nhỏ. Cậu đi dọc theo bến tàu bằng gỗ bên sông, dừng chân cạnh máy bơm xăng. Trên một chiếc thuyền cách cầu không xa có hai thiếu niên tầm mười tuổi đang câu cá, cảnh tượng này khiến Adam chợt nhớ ra từ trước đến nay cậu chưa từng đi câu cá. Cha cậu khi còn sống không phải là người có sở thích phong phú hay yêu thích giải trí. Hơn nữa ông cũng chẳng bao giờ giữ được công việc của mình. Adam lúc này thậm chí không nhớ nổi cha mình đã làm gì trong suốt cuộc đời của ông.

Khách hàng rời đi, cửa đóng sầm lại. Lettner bước chân nặng nề đi đến máy bơm xăng. “Cậu thích câu cá hồi không?” ông hỏi, vừa ngắm nhìn phong cảnh trên sông.

“Không. Chưa từng câu.”

“Chúng ta đi dạo một vòng đi. Tôi phải đi hạ lưu hai dặm để kiểm tra một chút. Cá ở đó chắc sẽ nhiều lắm.”

Lettner bê tủ lạnh của mình, cẩn thận đặt vào thuyền. Khi ông từ bến tàu xuống thuyền, chiếc thuyền rung lắc dữ dội từ bên này sang bên kia, ông chộp lấy động cơ. “Xuống đây đi,” ông quát vào Adam, người đang đánh giá khoảng cách ba mươi inch giữa mình và chiếc thuyền. “Nắm lấy dây cáp,” Lettner lại quát, chỉ vào một sợi dây mảnh buộc vào neo.

Adam tháo dây cáp, căng thẳng nhảy xuống thuyền, chân cậu vừa chạm vào sàn thuyền thì nó đã rung lắc. Cậu trượt ngã xuống sàn, đầu đập vào ván gỗ dưới đáy thuyền, suýt chút nữa là xuống sông bơi. Lettner vừa kéo dây khởi động động cơ vừa cười ha hả. Ron tất nhiên đã chứng kiến cảnh này, cậu ta đang đứng trên bến tàu cười toe toét. Adam mặc dù cảm thấy rất xấu hổ, nhưng cũng cười theo, như thể cậu thực sự cảm thấy tất cả những điều này đều rất buồn cười. Lettner vặn động cơ, mũi thuyền hếch lên, sau đó họ rời khỏi bến tàu.

Adam nắm chặt tay vịn hai bên thuyền, họ tăng tốc rẽ sóng tiến về phía trước, xuyên qua dưới cầu. Calico Rock nhanh chóng bị bỏ lại phía sau. Dòng sông uốn lượn chảy về phía trước giữa những ngọn núi và vách đá phong cảnh hữu tình hai bên bờ. Lettner một tay lái, một tay cầm chai bia tươi uống. Vài phút sau, Adam thả lỏng một chút, cố gắng giữ thăng bằng để lấy một chai bia từ tủ lạnh. Chai bia lạnh buốt. Cậu dùng tay phải cầm chai, tay trái nắm lấy mạn thuyền. Lettner đang ngân nga gì đó phía sau cậu. Tiếng gầm của động cơ khiến họ không thể trò chuyện.

Họ đi qua một bến tàu nhỏ câu cá hồi, nhìn thấy một nhóm người rõ ràng là từ thành phố đến đang vừa đếm cá vừa uống bia. Sau đó họ lại đi qua một đội bè cao su, trên đó toàn là những đứa trẻ mười mấy tuổi trông bẩn thỉu, chúng đang vừa hút gì đó vừa tắm nắng, còn vẫy tay với những người đang cần mẫn câu cá khác.

Chiếc thuyền cuối cùng đã giảm tốc độ, Lettner cẩn thận bẻ lái, dường như ông có thể nhìn thấy cá bên dưới, phải đỗ thuyền ở một vị trí thích hợp. Ông tắt động cơ. “Cậu muốn câu cá hay uống bia?” ông hỏi, mắt nhìn chằm chằm vào mặt nước.

“Uống bia.”

“Tôi đoán được mà.” Ông cầm cần câu lên, hạ cần ở một nơi hướng về phía bờ sông, chai bia đối với ông trở nên thứ yếu. Adam quan sát một lát, phát hiện sẽ không có kết quả ngay lập tức, liền nằm xuống, để chân treo lơ lửng trên mặt nước. Ngồi trên chiếc thuyền này thật không thoải mái.

“Ông thường câu cá bao lâu một lần?” cậu hỏi.

"Ngày nào tôi cũng đi câu. Đây là một phần công việc của tôi, cậu biết đấy, là một phần dịch vụ dành cho khách hàng. Tôi phải nắm rõ chỗ nào cá dễ cắn câu."

"Công việc này chẳng dễ dàng gì."

"Thì cũng phải có người làm chứ."

"Nguyên nhân gì khiến ông đến Calico Rock vậy?"

"Năm bảy mươi lăm, tôi bị nhồi máu cơ tim nên nghỉ hưu sớm khỏi Cục. Nhận được khoản lương hưu hậu hĩnh cùng đủ loại đãi ngộ, nhưng chết tiệt thật, cả ngày không có việc gì làm khiến người ta phát điên. Vợ tôi và tôi tìm thấy nơi này, đồng thời phát hiện ra bến du thuyền nhỏ này đang cần sang nhượng. Một sai lầm dẫn đến sai lầm khác, thế là tôi ở lại đây. Đưa tôi chai bia."

Khi Adam đi lấy bia, ông ta lại buông cần. Adam nhanh chóng đếm trong tủ lạnh còn lại mười bốn chai. Con thuyền trôi lững lờ trên mặt sông, Leitner túm lấy một mái chèo. Một tay ông câu cá, tay kia chèo thuyền, còn phải giữ thăng bằng cho chai bia vừa mở kẹp giữa hai đầu gối. Đó chính là cuộc sống của một hướng dẫn viên câu cá.

Họ trôi chậm rãi dưới bóng cây, mặt trời ban ơn không ló dạng một lúc lâu. Leitner khiến việc câu cá trông có vẻ khá dễ dàng. Chỉ thấy cổ tay ông khẽ rung, cần câu vung lên, mồi câu rơi đúng vào nơi ông muốn. Nhưng cá ở đây không chịu cắn câu. Ông bèn chuyển sang buông cần ở giữa sông.

"Sam không phải người xấu," ông lại nói thêm lần nữa.

"Ông nghĩ ông ấy nên bị tử hình sao?"

"Việc này không đến lượt tôi quyết định, nhóc ạ. Dân tiểu bang muốn có án tử hình, cho nên điều này mới được ghi vào sách. Mọi người đều nói Sam có tội, rồi lại nói ông ta nên bị hành quyết, vậy tôi là cái thá gì chứ?"

"Nhưng ông có quan điểm của riêng mình."

"Thế thì có ích gì? Quan điểm của tôi không đáng một xu."

"Tại sao ông nói Sam không phải người xấu?"

"Chuyện này nói ra thì dài dòng lắm."

"Chúng ta còn mười bốn chai bia."

Leitner bật cười, trên mặt lại hiện lên nụ cười cởi mở, khoáng đạt kia. Ông tu một ngụm bia lớn, mắt rời khỏi dây câu, nhìn dọc theo mặt sông. "Cậu phải hiểu, Sam trong mắt chúng tôi vốn không đáng để lo lắng. Ông ta không tích cực tham gia những hành vi thực sự tồi tệ, ít nhất là lúc đầu thì không. Khi ba nhà hoạt động dân quyền kia mất tích, chúng tôi đã mở cuộc điều tra với khí thế hung hăng. Chúng tôi vung tiền khắp nơi ở vùng này, chẳng bao lâu sau đã mua chuộc được đủ loại chỉ điểm viên trong tổ chức KKK. Những người này về cơ bản đều là lũ ngu dốt, thô lỗ, không xu dính túi, chúng tôi liền lợi dụng nhu cầu tiền bạc của họ. Nếu không dùng tiền mở đường, tung tích của ba chàng trai kia sẽ không bao giờ tìm ra được. Theo trí nhớ của tôi, khoảng tiêu tốn ba vạn đô, mặc dù tôi không trực tiếp giao dịch với chỉ điểm viên. Chết tiệt, nhóc ạ, bọn họ bị chôn dưới bờ sông. Chúng tôi tìm thấy họ, cậu biết đấy, điều này khiến chúng tôi để lại ấn tượng tốt. Cuối cùng chúng tôi cũng đạt được chút kết quả. Chúng tôi bắt giữ một đám người, nhưng rất khó để buộc tội bọn chúng. Hoạt động bạo lực vẫn tiếp diễn điên cuồng. Chúng đánh bom nhà thờ và nhà ở của người da đen, tần suất dày đặc đến mức chúng tôi kiểm tra không xuể. Nó giống như đang đánh một cuộc chiến tranh. Tình hình ngày càng nghiêm trọng, ông Hoover cũng ngày càng tức giận, thế là chúng tôi lại càng vung tiền khắp nơi."

"Nghe này, nhóc, tôi không định nói cho cậu bất cứ điều gì hữu ích đâu, cậu hiểu chứ?"

"Tại sao không?"

"Có vài chuyện tôi có thể nói, có vài chuyện tôi không thể."

"Sam không phải một mình đánh bom văn phòng Kramer, đúng không?"

Leitner lại cười, đồng thời ngắm nghía dây câu. Cần câu gác trên đầu gối ông. "Dù sao đi nữa, đến cuối năm sáu mươi lăm, đầu năm sáu mươi sáu, chúng tôi đã sở hữu một mạng lưới tình báo chỉ điểm rộng khắp. Thực ra làm việc đó không khó đến thế. Chúng tôi biết gã nào đó là đảng viên KKK, thế là theo dõi hắn. Ban đêm chúng tôi theo hắn về nhà, dùng đèn pha ô tô rọi vào sau lưng hắn, đỗ xe ngay trước cửa nhà hắn. Cách này thường khiến hắn sợ mất vía. Sau đó chúng tôi lại theo hắn đi làm, đôi khi chúng tôi sẽ đi nói chuyện với ông chủ của hắn, trưng ra giấy tờ khắp nơi, làm như thể chúng tôi sắp bắn chết ai đó. Chúng tôi sẽ đi nói chuyện với cha mẹ hắn, xuất trình giấy tờ, để họ thấy chúng tôi mặc bộ vest sẫm màu, nghe giọng nói vùng Bắc bộ, mà những gã nhà quê đáng thương này gần như sẽ sụp đổ ngay trước mặt chúng tôi. Nếu gã này đi nhà thờ, chúng tôi sẽ chọn ngày Chủ nhật theo đuôi hắn, đợi đến hôm sau chúng tôi sẽ đi nói chuyện với mục sư của hắn. Chúng tôi sẽ bảo ông ta rằng chúng tôi nghe thấy những lời đồn khủng khiếp rằng ông A, ông B nào đó là đảng viên tích cực của KKK, và hỏi mục sư xem ông ta có biết gì về chuyện này không. Chúng tôi thể hiện như thể tham gia KKK là một tội ác. Nếu gã này có con cái tầm mười mấy tuổi, chúng tôi sẽ theo dõi bọn chúng đi hẹn hò, ngồi phía sau chúng trong rạp chiếu phim, bắt quả tang khi chúng đang đỗ xe âu yếm trong rừng. Những hành động này thuần túy là quấy rối, nhưng thực sự hiệu quả. Cuối cùng chúng tôi sẽ gọi điện cho gã đáng thương này, hoặc tranh thủ lúc hắn ở một mình mà chặn đường, rồi đưa cho hắn ít tiền. Chúng tôi sẽ hứa không đi làm phiền hắn nữa, mà chiêu này luôn rất hiệu quả. Nói chung, lúc này tinh thần bọn chúng đã bị hủy hoại, nóng lòng muốn hợp tác với chúng tôi. Nhóc ạ, tin hay không tùy cậu, tôi đã thấy bọn chúng khóc lóc thảm thiết. Thực tế là bọn chúng khóc lóc vào lần cuối cùng đi nhà thờ cầu nguyện sám hối tội lỗi của mình." Leitner cười về phía hướng dây câu, sợi dây không hề động đậy.

Adam nhấp bia. Nếu họ uống hết rượu, có lẽ cuối cùng có thể khiến ông ta mở miệng.

"Có một lần có một gã thế này, tôi không bao giờ quên được hắn. Chúng tôi bắt quả tang hắn đang lên giường với tình nhân da đen, tình huống này không hiếm gặp. Ý tôi là, những gã này ở ngoài thì đốt thánh giá, nổ súng vào nhà người da đen, trong khi lại điên cuồng lén lút vụng trộm với bạn gái da đen của bọn chúng khắp nơi. Thật không hiểu sao những phụ nữ da đen này có thể chịu đựng được chuyện như vậy. Dù sao đi nữa, hắn có một căn chòi săn trong rừng sâu, hắn dùng nó làm tổ uyên ương. Một buổi chiều nọ hắn tranh thủ đến đó vụng trộm với cô ta, xong việc đang chuẩn bị đi, vừa mở cửa trước, chúng tôi đã chụp ảnh hắn, chụp cả cô ta, sau đó chúng tôi đi nói chuyện với hắn. Hắn là chấp sự của một nhà thờ thôn quê, còn là nhân vật lãnh đạo, rường cột thực sự, cậu biết đấy, nhưng chúng tôi nói chuyện với hắn như với một con chó. Chúng tôi đuổi người đàn bà kia đi, để hắn ngồi trong căn chòi đó, không lâu sau hắn liền khóc. Sau này hắn trở thành một trong những nhân chứng tốt nhất của chúng tôi. Nhưng sau đó hắn vào tù."

"Tại sao?"

"Có vẻ như khi hắn đi vụng trộm với bạn gái, vợ hắn lại đang làm chuyện tương tự với một chàng trai da đen làm việc trong nông trại nhà hắn. Bà vợ mang thai, đứa bé lại là con lai, thế là chỉ điểm viên của chúng tôi chạy đến bệnh viện giết chết hai mẹ con. Hắn ở tù tại Parchman mười lăm năm."

"Được đấy."

"Thời đó số người bị chúng tôi đưa về kết án không nhiều, nhưng đủ để dọa bọn chúng đến mức không dám làm càn nữa. Hoạt động bạo lực chậm lại đáng kể, cho đến khi Dogan quyết định chọn người Do Thái làm đối tượng truy đuổi. Tôi phải thừa nhận, hành động của hắn khiến chúng tôi trở tay không kịp. Chúng tôi không có manh mối nào để lần theo."

"Tại sao không có?"

"Vì hắn quá tinh ranh. Hắn rút kinh nghiệm từ những đau khổ trước đây rằng người của mình sẽ mật báo cho chúng tôi, nên quyết định dùng một nhóm nhỏ không gây chú ý để thực hiện nhiệm vụ."

"Nhóm? Ý là trong đó không chỉ có một người?"

"Có thể nói như vậy."

"Ý là trong đó có Sam và người nào khác?"

Leitner hừ mũi một tiếng, lập tức lại cười khẽ, và kết luận cá đã chuyển đi nơi khác. Ông bỏ cần câu và máy câu vào thuyền, giật mạnh dây khởi động máy. Họ lại một lần nữa lao nhanh xuôi dòng. Chân Adam vẫn vắt trên mạn thuyền, nên đôi giày da lộn và mắt cá chân lộ ra của cậu nhanh chóng bị ướt. Cậu nhấp bia. Mặt trời cuối cùng bắt đầu biến mất sau lưng núi, cậu thưởng thức cảnh đẹp trên sông.

Điểm dừng tiếp theo là một mặt nước tĩnh lặng dưới vách đá, có một sợi dây thừng rủ xuống từ đỉnh vách. Leitner buông cần rồi thu cần, không thu hoạch được gì, sau đó ông đóng vai người thẩm vấn. Ông hỏi hàng trăm câu hỏi liên quan đến Adam và gia đình cậu, như việc bay sang phía Tây, thân phận mới, vụ tự sát, v.v. Ông giải thích rằng khi Sam bị giam giữ, họ đã điều tra gia đình ông ta, biết ông ta có một đứa con trai vừa rời khỏi thành phố, nhưng vì Eddie trông có vẻ không gây hại gì, họ liền không tiếp tục truy cứu. Họ chuyển sang dành thời gian theo dõi anh em và anh em họ của Sam. Ông tỏ ra hứng thú với thời niên thiếu của Adam, hỏi cậu đã lớn lên như thế nào trong khi thực tế không biết gì về người thân của mình.

Adam hỏi vài câu, nhưng câu trả lời nhận được mơ hồ không rõ ràng và chủ đề lập tức bị chuyển sang những câu hỏi về quá khứ của cậu. Adam đang đối phó với một người có kinh nghiệm đặt câu hỏi hai mươi lăm năm.

Địa điểm tuần tra thứ ba cũng là cuối cùng không cách Calico Rock bao xa, họ câu ở đó đến tận tối mịt. Adam sau khi nạp năm chai bia đã lấy hết can đảm buông một cần. Leitner là một huấn luyện viên kiên nhẫn, chỉ vài phút sau Adam đã câu được một con cá hồi khá lớn. Trong đoạn nhạc đệm ngắn ngủi này, họ quên đi Sam, KKK, cùng những cơn ác mộng khác còn sót lại từ quá khứ, chỉ tập trung câu cá. Họ uống, họ câu.

Vợ ông Leitner tên là Irene, bà chào đón chồng và vị khách không mời mà đến này một cách hào phóng. Leitner giới thiệu trên đường Ron lái xe đưa họ về nhà rằng Irene đã quen với những vị khách ghé thăm tạm thời. Khi họ bước vào cửa trước và đưa cho bà xâu cá hồi, bà trông quả thực rất điềm tĩnh.

Nhà Leitner cách thành phố một dặm về phía Bắc, là một căn nhà nhỏ bên sông. Hiên sau được bọc lưới để ngăn côn trùng, dưới hiên không xa là cảnh sông nước mỹ lệ. Họ ngồi trên ghế mây ngoài hiên, lại bắt đầu uống lượt bia mới, còn Irene đi rán cá.

Bày bát đĩa đối với Adam là một trải nghiệm mới, còn việc ăn con cá mình tự câu được cảm giác lại càng tuyệt hơn. Leitner khẳng định với Adam khi cậu đang ăn uống ngon lành rằng, ăn cá mình tự bắt bao giờ cũng ngon hơn. Ăn được nửa bữa, Leitner chuyển sang uống rượu Whiskey. Adam từ chối. Cậu chỉ muốn một ly nước, nhưng lòng tự trọng nam nhi lại thúc giục cậu tiếp tục uống bia. Vào thời điểm này cậu không thể tỏ ra yếu đuối, nếu không Leitner chắc chắn sẽ dạy dỗ cậu một trận.

Irene vừa nhấp rượu vang vừa kể về chuyện ở bang Mississippi. Bà từng vài lần bị đe dọa, con cái họ từ chối đến thăm họ. Cả hai đều là người bang Ohio, gia đình họ thường xuyên lo lắng cho sự an toàn của họ. Đó mới gọi là sống chứ, bà không ít lần nói với niềm khao khát rõ rệt về cuộc sống đầy kích thích. Bà cảm thấy đặc biệt tự hào về chồng mình và sự thể hiện của ông trong cuộc chiến giành quyền dân quyền.

Sau bữa ăn, bà rời khỏi họ, đi đến một nơi nào đó trong căn nhà. Đã gần mười giờ, Adam chuẩn bị đi ngủ. Leitner vịn một thanh ngang đứng dậy, nói xin lỗi rồi đi vệ sinh. Một lát sau, ông lại bưng hai chiếc ly cao đựng rượu Whiskey mới quay lại, đưa một ly cho Adam, rồi ngồi lại vào chiếc ghế mây của mình.

Một lúc lâu, họ chỉ lặng lẽ vừa đung đưa ghế mây vừa uống rượu, sau đó Leitner lên tiếng: "Vậy cậu chắc chắn Sam có đồng phạm?"

"Ông ấy đương nhiên có đồng phạm." Adam biết rất rõ lưỡi mình đã cứng lại, nói năng không còn rõ ràng. Leitner nói chuyện lại vô cùng mạch lạc.

"Điều gì khiến cậu khẳng định như vậy?"

Adam đặt chiếc ly nặng nề xuống, thề sẽ không uống rượu nữa. "FBI đã lục soát nhà Sam sau vụ nổ, đúng không?"

"Đúng."

"Khi Sam bị giam giữ ở Greenville, các ông cũng đã nhận được lệnh khám xét."

"Tôi lúc đó ở đó, nhóc ạ. Chúng tôi cử mười hai nhân viên vào trong, lục soát ba ngày."

"Kết quả không thu được gì."

"Cậu có thể nói thế."

"Không có dấu vết của thuốc nổ. Không có kíp nổ, ngòi nổ, thiết bị kích nổ. Không có dấu vết của bất kỳ thiết bị hay vật liệu nào được sử dụng khi nổ. Đúng không?"

"Đúng vậy. Vậy quan điểm của cậu là?"

"Sam không biết gì về thuốc nổ, cũng không có tiền án sử dụng những thứ này."

"Không, tôi phải nói là lịch sử sử dụng thuốc nổ của ông ta khá dài. Theo trí nhớ của tôi, vụ Kramer là vụ nổ thứ sáu. Lúc đó, những tên khốn điên rồ đó không màng sống chết để tiến hành các hoạt động nổ, nhóc ạ, chúng tôi không ngăn được chúng. Cậu lúc đó không có ở đó, còn tôi thì ở ngay trong đó. Chúng tôi đã dùng cách quấy rối và thâm nhập để khiến KKK không dám hành động bừa bãi, lúc này lại đột nhiên bùng phát thêm một cuộc chiến nữa, thế là bom ném khắp nơi. Bất cứ chỗ nào cần hỏi chúng tôi đều đã đi qua. Chúng tôi dùng mọi thủ đoạn đe dọa những chỉ điểm viên cũ, tuy nhiên lại không có manh mối nào. Chỉ điểm viên của chúng tôi cũng không có manh mối. Nó giống như một nhánh khác của KKK đã xâm nhập vào Mississippi mà không cần chào hỏi tổ chức cũ."

"Ông có biết chuyện của Sam không?"

"Tên ông ta có trong hồ sơ của chúng tôi. Theo trí nhớ của tôi, cha ông ta chính là KKK, có lẽ còn có một hoặc hai người anh em cũng vậy. Cho nên chúng tôi nắm được tên của bọn họ. Tuy nhiên bọn họ trông có vẻ không gây hại. Bọn họ sống ở phía Bắc bang, khu vực đó chưa bao giờ nghe nói xảy ra vụ bạo lực nghiêm trọng nào của KKK. Bọn họ có lẽ từng đốt vài cây thánh giá, hoặc nổ súng vào vài ngôi nhà, nhưng không thể so sánh với Dogan và băng đảng của hắn. Chúng tôi bận đối phó với những tên sát nhân đó, không có thời gian đi điều tra từng người có khả năng là KKK trong bang."

"Vậy ông giải thích thế nào về việc Sam đột nhiên chuyển sang hoạt động bạo lực?"

"Không giải thích được. Ông ta không phải cậu bé trong dàn hợp xướng thánh thiện, phải không? Ông ta trước đây đã từng giết người rồi."

"Ông có chắc không?"

"Nghe tôi này, vào đầu những năm năm mươi, ông ta từng bắn chết một nhân công da đen trong nông trại của mình. Ông ta không phải ngồi tù ngày nào vì chuyện đó. Tôi thực tế cũng không chắc chắn, nhưng tôi nghĩ ông ta chưa bao giờ bị bắt vì chuyện này. Có lẽ còn một vụ giết người khác. Nạn nhân là một người da đen khác."

"Tôi ước mình không nghe thấy lời ông vừa nói."

"Đi mà hỏi ông ta. Xem lão khốn này có gan thừa nhận những gì mình đã làm với cháu trai mình không." Ông lại uống một ngụm. "Ông ta là một phần tử bạo lực, nhóc ạ, cho nên ông ta chắc chắn có khả năng đi đặt bom và giết người. Đừng ngây thơ nữa."

"Tôi không ngây thơ. Tôi chỉ đang cố gắng cứu mạng ông ấy."

"Tại sao? Ông ta đã giết hai đứa bé hoàn toàn vô tội. Hai đứa trẻ. Cậu hiểu không?"

"Ông ấy bị kết án vì tội giết người. Nhưng nếu giết người là sai, thì việc bang hành quyết ông ấy cũng là sai."

"Tôi không tin mấy lời ngu xuẩn đó. Đối với những kẻ này, án tử hình còn là quá nhẹ, quá sạch sẽ và gọn gàng. Bọn chúng biết mình sắp chết, cho nên bọn chúng có thời gian để cầu nguyện và từ biệt. Còn những nạn nhân kia thì sao? Bọn họ có bao nhiêu thời gian để chuẩn bị?"

"Vậy là ông hy vọng Sam bị hành quyết?"

"Đúng. Tôi hy vọng bọn chúng đều bị hành quyết."

"Tôi tưởng ông nói ông ấy không phải người xấu."

"Tôi đã nói dối. Sam Cayhall là một kẻ sát nhân máu lạnh. Ông ta đúng là có tội. Ngoài ra, cậu còn có lời giải thích nào khác cho việc ngay khi ông ta bị giam giữ thì hoạt động nổ bom liền chấm dứt không?"

"Có lẽ bọn chúng sợ sau vụ Kramer rồi?"

"Bọn chúng? Bọn chúng rốt cuộc là ai?"

"Sam và đồng bọn của ông ấy. Còn có Dogan."

"Được. Tôi có thể chiều cậu. Chúng ta cứ giả định Sam có một đồng phạm."

"Không. Chúng ta giả định Sam là đồng phạm, còn người kia mới là chuyên gia thuốc nổ."

"Chuyên gia? Đó đều là những quả bom được chế tạo rất thô sơ, nhóc ạ. Năm vụ trước chẳng qua chỉ là vài thanh thuốc nổ buộc lại với nhau bằng một sợi dây dẫn. Cậu quẹt một que diêm, chạy bán sống bán chết, mười lăm phút sau, bùm! Quả bom vụ Kramer cũng chẳng qua là một thiết bị kỳ quặc nối với đồng hồ báo thức. Bọn chúng lắp đặt mà bom không nổ là do vận may của bọn chúng thôi."

"Ông nghĩ bom được cố tình cài đặt để nổ vào đúng thời điểm đó sao?"

"Bồi thẩm đoàn nhìn nhận như vậy. Dogan nói bọn chúng định đánh bom giết chết Marvin Kramer."

"Vậy tại sao Sam còn lảng vảng ở gần đó? Tại sao ông ấy ở gần quả bom đến mức bị mảnh bom găm trúng?"

"Cậu phải đi hỏi Sam, tôi chắc chắn cậu đã hỏi rồi. Có phải ông ta khẳng định có một đồng phạm không?"

"Ông ấy không nói."

"Vậy thì dễ xử lý rồi. Nếu thân chủ của cậu đều nói không có, cậu còn có gì để truy cứu?"

"Vì tôi nghĩ thân chủ của mình đang nói dối."

"Vậy thì quá tệ cho thân chủ của cậu. Vì ông ta muốn dùng lời nói dối để bảo vệ ai đó không bị phát hiện, vậy cậu còn bận tâm cái gì?"

"Tại sao ông ấy phải nói dối tôi?"

Leitner lắc đầu bất lực, lầm bầm gì đó, lại uống thêm một ngụm. "Sao tôi biết được? Tôi không muốn biết, được chưa? Tôi chẳng quan tâm Sam đang nói dối hay nói thật. Nhưng nếu ông ta không nói thật với cậu, luật sư và cháu trai của ông ta, thì theo tôi cứ tống ông ta vào phòng hơi ngạt là xong."

Adam uống một ngụm rượu lớn, mắt nhìn trân trân vào bóng đêm. Thực tế đôi khi cậu cũng cảm thấy hành động đi tìm hiểu khắp nơi để chứng minh thân chủ mình đang nói dối thật ngốc nghếch. Cậu phải thử lại lần nữa, rồi nói sang chuyện khác. "Ông không tin những nhân chứng nhìn thấy Sam và một người khác sao?"

"Không. Theo trí nhớ của tôi, bọn họ hoàn toàn không đáng tin. Gã ở trạm dừng xe tải mãi sau đó mới đứng ra nói chuyện. Còn gã kia lúc xảy ra vụ việc vừa mới bước ra từ một quán rượu rẻ tiền. Bọn họ đều không đáng tin cậy."

"Ông tin Dogan không?"

"Bồi thẩm đoàn tin."

"Tôi không hỏi bồi thẩm đoàn thế nào."

Hơi thở của Leitner cuối cùng trở nên nặng nề, ông dường như đang già đi. "Dogan là một kẻ điên cũng là một thiên tài. Hắn nói mục đích đặt bom là để giết người, tôi tin lời hắn. Đừng quên, Adam, bọn chúng suýt nữa đã đánh bom chết cả một gia đình ở Vicksburg. Tôi không nhớ nổi gia đình này họ gì—"

"Pinder. Nhưng ông cứ luôn miệng nói 'bọn chúng' làm cái này cái kia."

"Tôi chỉ đang nói theo cậu thôi, rõ chưa. Chúng ta đang giả định Sam có một đồng phạm đi cùng hắn. Bọn chúng nửa đêm gà gáy đặt bom vào nhà Pinder. Cả một gia đình có lẽ đã bị đánh bom chết hết."

"Sam nói ông ấy đặt bom vào gara để không ai bị thương."

"Sam nói điều đó với cậu? Ông ta thừa nhận là mình làm à? Vậy tại sao cậu còn đến hỏi tôi có đồng phạm hay không? Nghe như cậu nên nghe lời thân chủ của mình thì hơn. Thằng khốn đó có tội, Adam ạ. Nghe lời ông ta đi."

Adam lại uống một ngụm, mí mắt cậu nặng trĩu. Cậu nhìn đồng hồ của mình, nhưng chẳng thấy gì cả. "Kể cho tôi nghe về tình hình băng ghi âm," cậu vừa nói vừa ngáp.

"Băng ghi âm gì?" Leitner hỏi, cũng ngáp một cái.

"Băng ghi âm của FBI mà họ phát khi Sam bị xét xử. Trong đó có cuộc trò chuyện của Dogan và Wayne Graves về việc đánh bom chết Kramer."

"Chúng tôi có rất nhiều băng ghi âm. Mục tiêu tấn công của bọn chúng có rất nhiều, mà Kramer chỉ là một trong số đó. Chết tiệt, chúng tôi có một cuộn băng ghi lại cảnh hai đảng viên KKK bàn luận về việc đánh bom khi một giáo đường Do Thái đang tổ chức đám cưới. Bọn chúng muốn khóa hết cửa lại, rồi bơm ga vào đường ống sưởi, như vậy có thể tiêu diệt tất cả khách mời. Đồ khốn nạn. Đây không phải Dogan, chỉ là một cặp ngu ngốc dưới trướng hắn đang nói nhảm, nên chúng tôi bỏ qua. Wayne Graves cũng là một đảng viên KKK nhận trợ cấp của chúng tôi, hắn cho phép chúng tôi ghi âm điện thoại của hắn. Một đêm nọ hắn gọi điện cho Dogan, nói hắn đang gọi từ điện thoại công cộng, rồi bọn chúng bàn về việc tấn công Kramer. Bọn chúng còn bàn về các mục tiêu khác. Đoạn ghi âm này rất có tác dụng khi xét xử Sam. Tuy nhiên, những băng ghi âm này không giúp chúng tôi ngăn chặn bất kỳ vụ nổ nào, cũng không giúp chúng tôi phát hiện ra Sam."

"Các ông vốn dĩ không biết Sam dính líu đến vụ án này?"

"Không biết gì cả. Nếu gã ngốc này kịp thời rời khỏi Greenville, có lẽ đến nay ông ta vẫn là người tự do."

"Kramer có biết mình là mục tiêu tấn công không?"

"Chúng tôi đã nói với ông ta. Nhưng ông ta lúc đó đã quen với sự đe dọa rồi. Ông ta thuê một bảo vệ trông nhà." Lời lẽ của ông bắt đầu không rõ ràng, cằm cũng rũ xuống.

Adam nói xin lỗi, cẩn thận mò mẫm đi vào nhà vệ sinh. Khi quay lại hiên, cậu nghe thấy tiếng ngáy nặng nề. Leitner đã gục trên ghế, tay vẫn cầm ly rượu. Adam lấy chiếc ly khỏi tay ông, rời khỏi hiên đi tìm ghế sofa—

Doudou Book Library sưu tầm và biên tập

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 6 năm 2026