Phòng hơi ngạt

Lượt đọc: 131 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 12

❊ ❊ ❊

Clyde Parker pha một cốc cà phê đậm đặc vào chiếc ca có khắc tên mình, rồi bắt đầu xử lý đống văn thư giấy tờ của buổi sáng hôm nay. Ông đã làm việc ở khu tử tù được hai mươi mốt năm, trong đó gần bảy năm giữ chức cảnh sát trực ban. Với ca làm việc tám tiếng mỗi ngày, ông là một trong bốn cảnh sát tuần tra giám sát mười bốn phạm nhân, hai bảo vệ và hai nhân viên quản giáo. Sau khi điền xong báo cáo, ông liếc nhìn tấm bảng ghi chú. Có một tờ giấy nhắn yêu cầu ông gọi điện cho quản ngục. Tờ khác viết thuốc trợ tim của F.M. Dempsey sắp hết, gã yêu cầu được gặp bác sĩ. Ai trong số họ mà chẳng muốn gặp bác sĩ. Ông vừa nhấp ngụm cà phê bốc khói, vừa rời văn phòng để bắt đầu cuộc tuần tra buổi sáng. Ông kiểm tra tác phong của lính canh, nhắc nhở viên cảnh sát trẻ người da trắng đi cắt tóc gọn gàng.

Thực ra, làm việc ở khu biệt giam cũng khá ổn. Phạm nhân tử tù thường khá yên tĩnh và tuân thủ luật lệ. Mỗi ngày, họ dành hai mươi ba tiếng đồng hồ cô độc trong phòng giam, bị cách ly với nhau nên không thể thông đồng làm loạn. Họ ngủ mười sáu tiếng một ngày, ăn uống cũng tại chỗ. Mỗi ngày họ được phép ra ngoài một tiếng để nghỉ ngơi, cái mà họ gọi là "phóng phong", hơn nữa còn có thể chọn đi một mình. Mỗi phạm nhân đều có tivi hoặc đài phát thanh, hoặc cả hai. Sau bữa sáng, khu giam giữ bắt đầu có sức sống, tiếng nhạc, bản tin, phim truyền hình và những cuộc trò chuyện qua song sắt vang lên không dứt. Phạm nhân không nhìn thấy mặt người bên cạnh, nhưng điều đó không ngăn cản họ giao tiếp. Tiếng tranh cãi đôi khi át cả tiếng nhạc của ai đó, nhưng những va chạm nhỏ nhặt này sẽ sớm bị cảnh sát dập tắt. Phạm nhân được hưởng một số quyền lợi nhất định, đồng thời cũng có những đặc quyền riêng. Lấy đi tivi hay đài của họ chẳng khác nào lấy đi mạng sống của họ vậy.

Khu tử tù tạo ra một thứ tình đồng chí kỳ lạ giữa những kẻ bị giam giữ. Một nửa là người da trắng, một nửa là người da đen, tất cả đều bị kết án vì tội sát nhân tàn bạo. Tuy nhiên, hiếm ai quan tâm đến những hành vi và hồ sơ tội ác trong quá khứ, và thường thì họ cũng chẳng mấy hứng thú với sự khác biệt về màu da. Ở những nhà tù bình thường bên ngoài, phạm nhân thường kết bè kết phái dựa trên chủng tộc. Nhưng ở khu tử tù, thước đo một con người lại dựa trên cách họ đối diện với cuộc sống tù đày. Dù có ưa nhau hay không, họ vẫn bị giam cầm cùng nhau trong góc nhỏ này của thế giới, tất cả đều đang chờ đợi cái chết đến gần. Đây là một hội anh em khốn cùng gồm những kẻ bị xã hội chối bỏ, những gã lang thang, những tên côn đồ cùng đường và những kẻ sát nhân máu lạnh.

Cái chết của một người ở đây liên quan đến cái chết của tất cả mọi người. Tin tức về bản án tử hình mới nhất của Sam được truyền đi thầm thì qua các song sắt. Khi bản tin trưa hôm qua phát đi tin này, khu tử tù trở nên tĩnh lặng một cách lạ thường. Đột nhiên, ai nấy đều đòi gặp luật sư của mình. Sự quan tâm đến các vấn đề pháp lý trỗi dậy, Parker phát hiện ra vài phạm nhân tắt tivi, vặn nhỏ âm lượng đài, bắt đầu nghiên cứu hồ sơ xét xử của chính mình.

Ông đi qua một cánh cửa nặng nề, uống một ngụm cà phê lớn, lặng lẽ tuần tra dọc dãy phòng giam A. Đối diện hành lang là mười bốn phòng giam giống hệt nhau, rộng sáu feet, sâu chín feet. Mặt trước mỗi phòng là một bức tường song sắt, vì vậy phạm nhân không bao giờ có được sự riêng tư tuyệt đối. Dù họ đang làm gì - ngủ hay đi vệ sinh - đều nằm dưới sự giám sát của cảnh sát.

Khi Parker chậm rãi đi ngang qua từng phòng giam nhỏ và kiểm tra những cái đầu dưới lớp chăn, họ vẫn đang ngủ. Đèn phòng giam tắt, cả dãy hành lang tối tăm. Người tạp dịch hành lang, một phạm nhân có đặc quyền, sẽ đánh thức họ dậy lúc năm giờ. Bữa sáng phục vụ lúc sáu giờ, gồm trứng, bánh mì nướng, mứt hoặc thịt xông khói, cà phê và nước trái cây. Chỉ vài phút nữa thôi, khi bốn mươi bảy phạm nhân trút bỏ cơn buồn ngủ và tiếp tục quá trình chờ chết dài đằng đẵng của mình, khu tử tù sẽ dần hồi sinh. Quá trình chờ chết rất chậm chạp, đợi chờ từng ngày, đợi một bình minh thảm hại khác trải thêm một lớp nóng bức lên cái hang địa ngục của họ. Tuy nhiên, giống như trường hợp hôm qua, khi tòa án bác bỏ đơn kháng cáo và phán quyết tử hình phải được thi hành nhanh chóng, thì mọi chuyện sẽ diễn ra rất mau lẹ.

Parker vừa uống cà phê vừa điểm danh, lặng lẽ bước đi, thực hiện nghi thức mỗi sáng của mình. Nếu quy trình không bị phá vỡ, lịch trình vẫn như cũ, những ngày ở khu biệt giam thường rất suôn sẻ. Sổ tay nhà tù có rất nhiều quy tắc, nhưng đều dễ tuân thủ và công bằng. Ai cũng biết những quy tắc này. Thế nhưng, việc thi hành án tử hình lại có một cuốn sổ tay riêng, quy định những chính sách khác biệt và các nguyên tắc thay đổi, điều này thường làm xáo trộn sự bình yên của khu tử tù. Parker rất kính trọng Philip Neff, nhưng không thể chịu nổi việc ông ta viết lại cuốn sổ đó trước và sau mỗi lần hành hình. Áp lực để mỗi lần hành hình đều hợp tình hợp lý và đúng hiến pháp là vô cùng lớn. Không có hai lần hành hình nào giống hệt nhau.

Parker căm ghét án tử hình. Ông tin rằng cái chết là một sự báo ứng, vì ông sùng đạo, Chúa nói "mắt đền mắt", và Chúa luôn giữ lời. Tuy nhiên, ông vẫn muốn người khác thi hành những bản án đó ở nơi khác. May mắn thay, việc tử hình ở bang Mississippi rất hiếm khi xảy ra, nên công việc của ông vẫn êm đềm không sóng gió. Trong hai mươi mốt năm, ông chỉ có mười lăm lần chứng kiến tử hình, còn sau năm 1982 thì chỉ có bốn lần.

Ở cuối dãy phòng giam, ông khẽ nói chuyện với một cảnh sát. Ánh nắng bắt đầu chiếu vào khung cửa sổ mở phía trên hành lang. Đây sẽ là một ngày nóng nực và ngột ngạt, và cũng sẽ yên tĩnh hơn thường lệ. Những lời phàn nàn về đồ ăn hay yêu cầu gặp bác sĩ sẽ giảm bớt, những tiếng càu nhàu về chuyện này chuyện kia vẫn sẽ nghe thấy lác đác, nhưng nhìn chung họ sẽ là một đám người thuần phục, nghe lời nhưng đầy tâm sự. Ít nhất cũng đã hơn một năm nay chưa có trường hợp nào từ khi hủy bỏ lệnh hoãn thi hành án đến lúc hành hình lại gần nhau như thế này. Parker tự cười thầm, vừa kiểm tra những cái đầu dưới tấm chăn. Phải, hôm nay sẽ là một ngày yên tĩnh.

Trong những tháng đầu Sam vào khu tử tù, Parker không hề đếm xỉa đến ông. Quy định chính thức là không được tiếp xúc với phạm nhân trừ khi thực sự cần thiết, hơn nữa Parker nhận thấy Sam ở một mình lại thoải mái hơn. Sam là thành viên Đảng KKK, ông căm ghét người da đen. Mặc dù ít nói, nhưng lời lẽ của ông sắc bén và tự tin, ít nhất là lúc đầu. Thế nhưng, tám tiếng đồng hồ mỗi ngày không có việc gì làm dần dần mài mòn sự gai góc của ông, theo thời gian, giao tiếp của họ đã đạt đến mức có thể trò chuyện ngắn gọn hoặc lầm bầm vài tiếng. Sau chín năm rưỡi sớm tối bên nhau, thỉnh thoảng Sam thậm chí còn có thể nhếch mép cười với Parker.

Dựa trên nhiều năm quan sát, Parker cho rằng phạm nhân ở khu tử tù có hai loại. Một loại là kẻ sát nhân máu lạnh, loại người này nếu có cơ hội sẽ ngựa quen đường cũ; loại còn lại chỉ là vì nhất thời lầm lỡ mà gây án, sau này tuyệt đối không bao giờ nảy sinh ý định nhuốm máu bàn tay lần nữa. Loại trước nên sớm đưa vào phòng hơi ngạt xử tử. Còn việc xử tử loại thứ hai lại khiến Parker bất an, vì xử tử họ chẳng có ý nghĩa gì. Những người như vậy nếu được thả ra ngoài cũng sẽ không gây hại cho xã hội, thậm chí chẳng ai để ý đến. Sam chắc chắn là loại thứ hai. Có thể cho ông về nhà, chẳng bao lâu nữa ông sẽ chết trong sự cô độc. Không, Parker không muốn Sam Cayhall bị xử tử.

Ông lê bước quay lại dọc dãy phòng giam A, vừa uống cà phê vừa quan sát những phòng giam tối tăm. Dãy phòng giam của ông gần phòng biệt giam nhất, ngay sát vách là phòng hơi ngạt. Sam ở phòng số 6 dãy A, chính xác là cách phòng hơi ngạt chưa đầy chín mươi feet. Ông từng yêu cầu chuyển sang phòng khác cách đó vài mét, vì một cuộc tranh cãi nhỏ với Cecil Duff, hàng xóm của ông lúc bấy giờ.

Lúc này Sam đang ngồi trên mép giường trong bóng tối. Parker dừng bước, tiến lại gần song sắt. "Chào buổi sáng, Sam," ông nói một cách ôn hòa.

"Chào," Sam đáp, liếc nhìn Parker, rồi đứng giữa phòng đối diện với cửa. Ông mặc một chiếc áo phông trắng bẩn thỉu và quần đùi boxer rộng thùng thình, đó là trang phục thường ngày của phạm nhân khu tử tù vì thời tiết quá nóng. Theo quy định, khi ra ngoài phòng giam, phạm nhân phải mặc bộ đồ tù màu đỏ tươi, nhưng ở bên trong, họ cố gắng mặc càng ít càng tốt.

"Hôm nay sẽ là một ngày nóng nực," Parker nói, đây là câu chào hỏi quen thuộc mỗi sáng của ông.

"Để xem tháng Tám thế nào đã," Sam đáp, cũng là câu trả lời tiêu chuẩn cho lời chào hỏi buổi sáng thông thường.

"Ông vẫn ổn chứ?" Parker hỏi.

"Chưa bao giờ tốt hơn thế."

"Luật sư của ông nói ông ấy định đến hôm nay."

"Vâng. Ông ấy đã nói vậy. Hình như tôi cần nhiều luật sư lắm, phải không Parker?"

"Có vẻ là vậy." Parker uống một ngụm cà phê, liếc nhìn dọc dãy phòng giam. Cửa sổ phía sau ông hướng về phía Nam, một tia nắng chiếu vào. "Gặp lại sau nhé, Sam," ông nói rồi chậm rãi bước đi. Ông kiểm tra các phòng giam còn lại, tất cả bọn trẻ đều không thiếu một ai. Ông bước ra khỏi dãy phòng giam A trở lại phía trước, cánh cửa phía sau vang lên tiếng lách cách.

Chiếc đèn duy nhất trong phòng giam được lắp phía trên bồn rửa mặt bằng thép không gỉ, bồn được làm bằng thép để phạm nhân không thể đập vỡ một mảnh làm vũ khí hoặc công cụ tự sát. Dưới bồn là một cái bồn cầu bằng thép không gỉ. Sam bật đèn, bắt đầu đánh răng. Đã gần năm giờ rưỡi. Ông không ngủ ngon giấc cả đêm.

Ông châm một điếu thuốc, ngồi bên mép giường ngắm nhìn bàn chân mình, rồi lại nhìn chằm chằm xuống sàn xi măng được sơn màu, thứ sàn nhà chẳng hiểu sao mùa hè không tỏa nhiệt, mùa đông cũng chẳng giữ ấm. Đôi giày duy nhất của ông để dưới gầm giường, đó là đôi dép cao su mà ông ghét cay ghét đắng. Ông có một đôi tất len, mùa đông ngủ cũng đeo. Tài sản còn lại của ông là một chiếc tivi đen trắng, một chiếc đài, một chiếc máy đánh chữ, sáu chiếc áo phông thủng lỗ chỗ, năm chiếc quần đùi boxer trắng bình thường, một bàn chải đánh răng, một cái lược, một cái bấm móng tay, một chiếc quạt điện kêu ồn ào và một cuốn lịch treo tường mười hai tháng. Tài sản quý giá nhất của ông là bộ sách luật mà ông đã dày công sưu tầm và ghi nhớ trong nhiều năm. Những cuốn sách này được xếp gọn gàng trên chiếc kệ gỗ rẻ tiền đối diện giường. Trên sàn giữa kệ sách và cửa có một chiếc hộp các tông, bên trong chứa những tập hồ sơ dày cộm tích lũy qua nhiều năm, là biên bản xét xử vụ án Chính phủ bang Mississippi kiện Sam Cayhall được sắp xếp theo trình tự thời gian. Những thứ này cũng đã được ông ghi nhớ trong lòng.

Bảng cân đối tài sản của ông rất đơn giản, ngoài lệnh thi hành án tử hình chưa thực hiện ra thì không còn khoản nợ nào khác. Ban đầu, sự nghèo khó cũng từng làm ông lo lắng, nhưng những nỗi lo đó đã tan biến từ nhiều năm trước. Nghe gia đình kể lại, cụ cố của ông là một người giàu có sở hữu đất đai và nô lệ, nhưng gần đây nhà Cayhall không có ai là người giàu có nắm trong tay sản nghiệp. Ông biết có những tử tù rất đau đầu về di chúc của mình, như thể người thừa kế sẽ tranh cãi không dứt về chiếc tivi cũ và những cuốn tạp chí rách của họ. Ông đang cân nhắc lập một bản di chúc để lại đôi tất len và đống đồ lót bẩn cho chính quyền bang Mississippi, hoặc cũng có thể để lại cho Hiệp hội Quốc gia vì sự Tiến bộ của Người da màu (NAACP).

Bên phải ông là J.B. Gullet, một thanh niên da trắng mù chữ, kẻ đã cưỡng hiếp và sát hại một nữ sinh xinh đẹp. Ba năm trước, vài ngày trước khi Gullet bị xử tử, Sam đã đứng ra đưa ra một yêu cầu đầy mưu mẹo. Ông chỉ ra một vài điểm nghi vấn chưa được giải quyết và trình bày với Tòa phúc thẩm khu vực 5 rằng Gullet không có luật sư. Lệnh hoãn thi hành án lập tức được ban hành, và từ đó Gullet trở thành người bạn trọn đời của ông.

Bên trái ông là Hank Henshaw, một thủ lĩnh khét tiếng của băng nhóm tội phạm, băng nhóm mà người ta đã sớm quên lãng có tên là "Redneck Mafia". Hank và đám người ô hợp của hắn vào một đêm nọ đã cướp một chiếc xe tải mười tám bánh, theo kế hoạch họ chỉ định đánh cắp hàng hóa trên xe. Nhưng tài xế rút súng ra, sau đó bị giết trong cuộc đấu súng. Gia đình Hank bỏ ra số tiền lớn thuê luật sư giỏi, vì vậy trong nhiều năm tới hắn sẽ không bị thi hành án tử hình.

Ba người hàng xóm gọi khu vực của họ trong khu biệt giam là Rhodesia.

Sam vứt đầu thuốc vào bồn cầu, rồi ngả người trên giường. Một ngày trước vụ đánh bom Kramer, ông đã đến nhà Eddie ở Clanton. Ông không nhớ gì khác, chỉ nhớ mang theo một ít rau chân vịt vừa hái từ vườn nhà, và chơi với Little Allen, tức Adam bây giờ, ở sân trước vài phút. Lúc đó là tháng Tư, thời tiết ấm áp, ông còn nhớ bàn chân trần của đứa cháu nhỏ. Ông nhớ đôi bàn chân mũm mĩm đó, có một ngón chân dán miếng băng cá nhân. Thằng bé bị thương do va vào đá, Allen rất tự hào giải thích với ông. Thằng bé thích băng cá nhân, trên ngón tay hay đầu gối lúc nào cũng dán một miếng. Khi nó tự hào khoe với ông nội một hộp lớn các loại băng dính, Evelyn đang bế rau chân vịt đứng bên cạnh chỉ biết lắc đầu.

Đó là lần cuối cùng ông gặp Allen. Ngày hôm sau vụ đánh bom xảy ra, tiếp đó Sam ở tù mười tháng. Đến khi phiên tòa thứ hai kết thúc và ông được thả, Eddie và gia đình đã đi mất. Ông quá kiêu ngạo nên không muốn vội vàng đi tìm con trai. Thỉnh thoảng nghe được những lời đồn đại về nơi ở của họ. Leigh nói họ ở California, nhưng cô không tìm thấy họ. Nhiều năm sau, khi trò chuyện với Eddie, cô mới biết anh đã có đứa con thứ hai, là con gái, tên là Carmen.

Từ phía cuối dãy phòng giam truyền đến một tiếng động. Tiếp theo là tiếng xả nước bồn cầu, rồi tiếng đài phát thanh vang lên. Khu tử tù sống dậy kèm theo những tiếng cọt kẹt. Sam chải mái tóc bóng dầu, châm một điếu thuốc Montclair khác, nhìn cuốn lịch trên tường. Hôm nay là ngày 12 tháng Bảy. Ông còn hai mươi bảy ngày.

Ông ngồi bên mép giường lại ngắm nhìn bàn chân mình. Gullet bật tivi xem tin tức, còn Sam vừa nhả khói vừa gãi mắt cá chân, lắng nghe chương trình của đài NBC chi nhánh thành phố Jackson. Sau khi đưa tin về các vụ đấu súng, cướp bóc và giết người tại địa phương, người dẫn chương trình đưa tin nóng về việc nhà tù Parchman sắp thi hành một án tử hình. Anh ta báo cáo đầy hào hứng rằng Tòa phúc thẩm khu vực 5 đã hủy bỏ lệnh hoãn thi hành án đối với phạm nhân nổi tiếng nhất của nhà tù đó là Sam Cayhall, ngày thi hành án được ấn định là 8 tháng Tám. Các nhà chức trách tin chắc rằng đơn kháng cáo của Cayhall đã hết đường cứu vãn, giọng nói đó nói rằng, vụ hành hình sẽ diễn ra đúng hạn.

Sam bật tivi. Như thường lệ, âm thanh xuất hiện trước hình ảnh đúng mười giây, vì vậy ông nghe thấy công tố viên trưởng đích thân tuyên bố về bản án dành cho ông Cayhall sau bao nhiêu năm. Cùng với giọng nói đầy hùng hồn, một khuôn mặt đầy nhiễu sóng hiện ra trên màn hình, rồi thấy Roxborough vừa cười vừa nhíu mày, vẻ đầy suy tư, ông ta đầy hứng thú kể lại trước ống kính về ngọn nguồn câu chuyện ông Cayhall cuối cùng vẫn bị áp giải vào phòng hơi ngạt như thế nào. Sau đó ống kính quay lại người dẫn chương trình. Đây là một thanh niên địa phương, để bộ râu rậm rạp. Anh ta điểm lại tội ác khủng khiếp của Sam với tốc độ ánh sáng. Nền phía sau vai anh ta là một hình minh họa vẽ thô, phía trên là một thành viên KKK đội mũ chóp nhọn. Hình ảnh kết thúc bằng một khẩu súng, một cây thánh giá đang cháy và ba chữ KKK. Chàng thanh niên dẫn chương trình lại nhắc lại ngày 8 tháng Tám, như thể khán giả của anh ta nên khoanh tròn ngày này trên lịch và sắp xếp một ngày nghỉ phép vào lúc đó. Tiếp theo là dự báo thời tiết.

Ông tắt tivi, bước về phía song sắt.

"Ông nghe thấy chưa, Sam?" Gullet từ phòng bên cạnh hét lên.

"Nghe rồi."

"Sắp có chuyện lớn rồi, ông bạn."

"Ừ."

"Hãy nghĩ thoáng hơn đi, ông bạn."

"Ý cậu là sao?"

"Ông chỉ còn bốn tuần thôi mà." Gullet cười ha hả vì câu nói đùa của mình, nhưng nhanh chóng dừng lại. Sam rút vài tờ giấy từ tập hồ sơ ra, ngồi xuống mép giường. Trong phòng giam không có ghế. Ông đọc lại bản thỏa thuận ủy quyền cho Adam từ đầu đến cuối. Tài liệu tổng cộng hai trang, chữ chiếm hết một trang rưỡi. Sam dùng bút chì thêm vào tất cả các chỗ trống những chú thích gọn gàng, rõ ràng. Ông còn bổ sung thêm vài đoạn ở mặt sau của hai tờ giấy. Một ý tưởng khác lại nảy ra, thế là ông tìm một chỗ để thêm vào. Tay phải kẹp điếu thuốc, tay trái cầm tài liệu, ông đọc đi đọc lại nhiều lần.

Cuối cùng, ông cẩn thận lấy chiếc máy đánh chữ cầm tay hiệu Royal cũ kỹ của mình từ trên kệ xuống, đặt nó ngay ngắn trên đầu gối, lắp một tờ giấy vào và bắt đầu đánh máy.

Sáu giờ mười phút, cánh cửa ở phía Bắc dãy phòng giam A vang lên tiếng lách cách rồi mở ra, hai cảnh sát bước vào hành lang. Một trong số đó đẩy một chiếc xe đẩy xếp ngay ngắn mười bốn khay thức ăn. Họ dừng lại ở phòng giam số 1, đưa khay kim loại qua một cửa sổ hẹp trên cửa. Phạm nhân phòng số 1 là một gã người Cuba gầy trơ xương, hắn cởi trần, chỉ mặc quần đùi, đang đợi bên cạnh song sắt. Như một người tị nạn đói khát, hắn chộp lấy cái khay, không nói một lời bưng về phía giường mình.

Bữa sáng hôm nay gồm hai quả trứng bác, bốn lát bánh mì nướng, một lát thịt xông khói, hai hộp mứt nho nhỏ, một chai nước cam nhỏ và một cốc nhựa lớn cà phê. Thức ăn nóng hổi và khẩu phần cũng đầy đủ, đúng theo tiêu chuẩn quy định của tòa án liên bang.

Họ đến phòng giam tiếp theo, phạm nhân bên trong đang chờ đợi. Họ luôn chờ đợi, luôn đứng bên cửa như những con chó đói.

"Các người trễ mười một phút," phạm nhân này vừa nhận khay thức ăn vừa nói khẽ. Cảnh sát thậm chí không thèm nhìn hắn.

"Đi mà kiện chúng tao," một trong hai cảnh sát nói.

"Tôi có quyền của tôi."

"Quyền của mày là cái mông đang chờ ăn đòn đấy."

"Đừng nói chuyện với tôi như thế. Tôi sẽ đi kiện các người. Các người ngược đãi tôi."

Cảnh sát không thèm đáp lại, đẩy xe đến cửa tiếp theo. Chỉ là một phần của nghi thức thường ngày thôi.

Sam không đợi bên cửa. Khi bữa sáng được đưa đến, ông đang bận rộn làm việc tại văn phòng luật nhỏ bé của mình.

"Tôi đoán ông đang đánh máy," một cảnh sát nói khi họ dừng lại trước phòng số 6. Sam chậm rãi đặt máy đánh chữ lên giường.

"Đang viết thư tình," ông nói rồi đứng dậy.

"Được rồi, dù là viết gì đi nữa, Sam, tốt nhất là ông nên nhanh lên. Đầu bếp đã bàn tán xem bữa cuối của ông nên ăn gì rồi đấy."

"Bảo ông ta tôi muốn bánh pizza nướng lò vi sóng. E rằng ông ta còn không làm nổi món đó. Có lẽ tôi vẫn chỉ cần xúc xích và đậu Hà Lan thôi." Sam nhận khay thức ăn từ cửa đưa cơm.

"Ông muốn gì cũng được mà, Sam. Người trước đòi ăn bít tết và tôm hùm đấy. Ông tưởng tượng nổi không? Ở cái nơi này mà lại đòi bít tết với tôm hùm."

"Hắn được ăn không?"

"Không. Hắn ăn không nổi, kết quả là họ phải cho hắn uống một bụng thuốc an thần."

"Đi như thế cũng tốt."

"Im lặng!" J.B. Gullet hét lên từ phòng bên cạnh. Cảnh sát đẩy xe dọc hành lang thêm vài bước, dừng lại trước mặt J.B. Gullet. Gã này hai tay bám lấy song sắt. Họ giữ khoảng cách với gã.

"Sao, sáng nay mọi người không vui vẻ gì à?" một cảnh sát nói.

"Tại sao hai thằng ngu các người không thể im lặng mà đưa cơm được hả? Ý tôi là, các người có nghĩ là chúng tôi thức dậy mỗi sáng đều muốn nghe các người ba hoa không? Đưa thức ăn cho tao, ông bạn."

"Ôi, J.B. Gullet, rất xin lỗi nhé. Chúng tôi chỉ nghĩ mấy gã như các ông sẽ cảm thấy cô đơn."

"Các người nhầm rồi." J.B. Gullet cầm khay thức ăn, quay lưng bỏ đi.

"Đúng là không đùa được," một cảnh sát nói, cả hai bỏ đi để hành hạ những người khác.

Sam đặt thức ăn lên giường, rồi bỏ một gói đường vào cà phê. Theo thói quen hằng ngày, ông không ăn trứng bác và thịt xông khói. Bánh mì nướng và mứt là món ông để dành để thưởng thức chậm rãi suốt buổi sáng. Cà phê cũng phải nhâm nhi cẩn thận, khẩu phần giới hạn chỉ cung cấp đến mười giờ, sau đó là thời gian ông tập thể dục và tắm nắng.

Ông đặt máy đánh chữ ngay ngắn trên đầu gối, bắt đầu dùng ngón trỏ gõ từng phím—

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 6 năm 2026