Bạch ánh đao tựa như tia chớp lóe lên, tức thì máu tươi vẩy ra, mấy chục cái đầu rơi xuống đài cao, tiếng rơi lộp bộp vang lên không dứt. Những thi thể không đầu đổ ập xuống đất, toàn bộ phía dưới đài lúc đầu im phăng phắc, tiếp đó âm thanh càng lúc càng lớn, cuối cùng là một mảnh ầm ầm vang dội, tiếng ủng hộ, tiếng mắng chửi, lại có cả tiếng răng va vào nhau lập cập đan xen lẫn lộn.
"Thật là đáng sợ."
"Hảo, giết thật hay!"
---❊ ❖ ❊---
"Xôn xao." Một đội quân sĩ mang theo nước sạch đi lên, rất nhanh đã rửa sạch vết máu trên đài cao. Tiếp theo, lại có mấy chục người bị áp giải lên, lần này người dẫn đầu chính là Thanh Châu tổng quản Yến Vinh, cùng với mấy chục quan quân Thanh Châu lớn nhỏ khác. Những quan quân này được chọn ra từ số binh sĩ bị bắt giữ, bởi đài cao không thể chứa cùng lúc gần ngàn người hành hình, chỉ có thể chọn những kẻ cấp bậc cao để xử quyết trước mặt mọi người, còn những người khác sẽ chịu hình phạt ngay trong quân doanh.
Nhìn thấy chủ soái của mình bị áp giải lên, quân Thanh Châu ở phía đông không khỏi xôn xao. Đối với việc Thái tử muốn xử phạt Yến tổng quản, tuy tin đồn đã lan truyền khắp quân doanh nhưng nhiều người vẫn bán tín bán nghi. Lúc này tận mắt thấy Yến Vinh thực sự bị áp lên, lòng họ kinh hãi không sao tả xiết.
Một vị quan quân bước tới trước mặt mười mấy tên quan quân Thanh Châu, lớn tiếng tuyên đọc: "Hoàng thượng có chỉ, trời ban phúc trạch, che chở muôn dân, thế mà những kẻ này lại dám công nhiên trái lệnh Thái tử, coi dân chúng phương Nam là địch, xâm nhập dân gia, làm điều càn rỡ. Hôm nay hành hình trước mặt mọi người, chính là để trừng phạt đúng tội, mong các quân sĩ còn lại lấy đây làm gương, quân lệnh như núi, không thể không tuân!"
"Thanh Châu tổng quản Yến Vinh!"
"Có mạt tướng!"
"Ngươi tự tiện xông vào dân gia, làm nhục nữ tử. Phán trước mặt mọi người chịu 60 quân côn, ngươi có phục hay không?"
Dù đã chuẩn bị tâm lý, nhưng bị chất vấn trước mặt hơn mười vạn người, mặt Yến Vinh vẫn đỏ bừng vì xấu hổ. Điều này có lẽ còn khiến hắn khó chịu hơn cả 60 quân côn kia, hắn chỉ đành thấp giọng đáp: "Chưa dám không phục."
"Nói lớn tiếng chút, không nghe thấy gì cả."
Yến Vinh trong lòng thầm hận, nhìn tên quan quân trẻ tuổi kia mà thầm mắng: "Tiểu tử, chẳng qua chỉ là trói ngươi một canh giờ, có cần phải trả thù ta như vậy không?" Thế nhưng giờ phút này đã rơi vào tay Khuất Đột Thông, hắn không thể không cúi đầu, lớn tiếng đáp: "Mạt tướng phục!"
Khuất Đột Thông hôm qua vẫn còn hờn dỗi, nay gương mặt vẫn lạnh tanh, đi tới trước mặt quan quân tiếp theo: "Xạ Kỵ tướng quân dưới trướng Thanh Châu tổng quản, Nghiêm Thịnh, tự tiện xông vào dân gia, làm nhục nữ tử, phán trước mặt mọi người chịu 60 quân côn. Ngươi có phục hay không?"
Có Yến Vinh đi đầu, Nghiêm Thịnh liền sảng khoái hơn nhiều, lớn tiếng đáp: "Mạt tướng phục!"
"Người dưới trướng Thanh Châu tổng quản..., ngươi có phục hay không?"
"Mạt tướng phục!"
---❊ ❖ ❊---
"Đánh!" Khuất Đột Thông hỏi xong tất cả những quan quân phạm tội trên đài, quay lại vị trí trung tâm, ra lệnh một tiếng. Tức khắc, mười mấy quân sĩ giơ cao gậy gỗ thô cứng đánh xuống.
"Bốp, bốp, bốp." Vô số tiếng gậy nện vào da thịt vang lên, toàn bộ quảng trường đều có thể nghe rõ.
Cảnh tượng này khiến cả quân lẫn dân đều vô cùng kinh ngạc. Trước đó khi chém giết Thi Văn Khánh, Thẩm Khách Khanh, tuy nhiều bách tính Kiến Khang trong lòng thầm khen ngợi, nhưng cũng có một bộ phận người cực kỳ cừu thị quân Tùy. "Hưng, bách tính khổ; vong, bách tính khổ", chiến loạn nổi lên, dù là đại quan quý nhân hay người dân bình thường đều không tránh khỏi binh tai, nhẹ thì tài vật bị cướp, vợ con bị xâm hại, nặng thì mất mạng, cửa nát nhà tan.
Thế nhưng quân Tùy vào thành đã một ngày, Bắc Thành và Nam Thành cơ bản vẫn bình yên vô sự. Tuy nhiên, đại đa số bách tính Kiến Khang vẫn chưa yên tâm, dù sao cũng là "thịt nằm trên thớt", ai biết khi nào quân Tùy sẽ xông vào nhà cướp bóc. Nay thấy quân Tùy thực sự nghiêm trị quân kỷ, cuối cùng họ cũng trút được một nửa nỗi lo.
Trên đài, kẻ chịu nặng nhất là 60 quân côn, nhẹ cũng hai ba mươi gậy. Sau khi chịu phạt, mông ai nấy đều máu thịt bầy nhầy, phải nhờ quân sĩ dìu đi xuống.
Sau khi nhóm người này rời đi, 31 phạm nhân chịu án tử hình được áp giải lên. Những kẻ này biết mình chắc chắn phải chết nên rất không phục, đặc biệt là Mộ Dung Tuân. Ban đầu hắn xin tha, xin không được liền quay sang chửi bới Dương Dũng. Lúc này miệng hắn đã bị nhét giẻ, nhưng trên mặt vẫn giữ vẻ kiêu ngạo khó thuần.
Khuất Đột Thông lần lượt công bố những tội trạng mà bọn chúng đã gây ra. Khi nghe tin Mộ Dung Tuân một mình sát hại mười một người, trong đó có bốn phụ nữ và ba trẻ nhỏ, bách tính Kiến Khang đứng giữa sân đều phẫn nộ thóa mạ. Ngược lại, quân Tùy mỗi người một vẻ, có kẻ hổ thẹn, có kẻ mắng nhiếc, cũng có kẻ dửng dưng. Thế nhưng, khi nghe tin những kẻ này sắp bị chém đầu, cả trường đình bỗng chốc im lặng đến đáng sợ, không ai ngờ rằng Thái tử lại vì bách tính Kiến Khang mà thực sự ra tay xử trảm một vị đại tướng.
Đối với những kẻ này, Khuất Đột Thông không hỏi xem chúng có phục hay không. Sau khi đọc xong tội trạng, ông trực tiếp hạ lệnh hành hình. Hàng chục cái đầu rơi xuống đất, tạo nên một sự chấn động cực lớn đối với hơn mười vạn quân dân có mặt tại đó.
Mấy chục cái đầu rơi xuống đất này quả nhiên vô cùng hiệu quả. Chỉ trong vòng vài ngày, trật tự tại Kiến Khang đã được khôi phục. Những bách tính vốn thấp thỏm bất an đều đã bình tâm trở lại, chợ búa thậm chí còn phồn hoa hơn trước vài phần, tựa như Kiến Khang chưa từng trải qua một cuộc thay đổi chính quyền. Tuy nhiên, vì Nam Bắc đã chia cắt suốt ba trăm năm, đối mặt với binh sĩ quân Tùy tuần tra trên đường, trong lòng bách tính Kiến Khang ít nhiều vẫn còn những cảm xúc phức tạp.
Quân kỷ nếu chỉ dựa vào sự trấn áp thì khó lòng duy trì lâu dài. Rất nhiều người từng ôm mộng kiếm chác một món hời sau khi tiến vào Kiến Khang. Sau khi Thái tử nghiêm minh quân kỷ, ý tưởng này tan biến, khiến không ít binh sĩ nảy sinh oán hận. Dương Dũng hiểu rõ đạo lý thưởng phạt phân minh, sau khi công khai xử lý Yến Vinh và đám người kia, ông đã lấy ra hơn một nửa số tài sản thu hồi được để ban thưởng cho quân sĩ.
Để chuẩn bị cho đại điển khánh năm của Trần Thúc Bảo, tài vật từ khắp nơi trên đất Trần đã chất đầy cung điện. Những tài phú này Trần Thúc Bảo còn chưa kịp hưởng thụ đã rơi vào tay quân Tùy. Cộng thêm kho tàng tích lũy của nước Trần và tài sản tịch thu từ các quyền thần, số của cải này vô cùng kinh người, giá trị lên tới mấy ngàn vạn quán. Ngoài một số vật phẩm quá mức quý giá được giữ lại làm chiến lợi phẩm để vận chuyển về kinh thành, Dương Dũng gần như đã ban thưởng toàn bộ số tiền bất nghĩa này xuống dưới.
Trong thành Kiến Khang có tổng cộng hơn hai mươi vạn đại quân, ngay cả binh sĩ bình thường nhất cũng nhận được số tiền trị giá mấy chục quán. Có được số tiền này, toàn bộ quân sĩ đều cảm động đến rơi nước mắt trước ân đức của Thái tử, những oán hận vì quân kỷ nghiêm khắc bỗng chốc tan biến. Con người vốn có lòng biết hổ thẹn, nếu có thể đường đường chính chính nhận được một khoản tiền lớn, ai lại muốn đi cướp bóc? Huống hồ đối với binh sĩ bình thường, chưa chắc đi cướp đã kiếm được nhiều tiền đến thế.
Chiếm được Kiến Khang, bắt sống hoàng đế nước Trần, nhưng không có nghĩa là nước Trần đã lập tức diệt vong. Quân Trần ở khắp nơi vẫn không ngừng giao tranh với quân Tùy. Nếu không thể một hơi tiêu diệt gọn, rất có khả năng sẽ lâm vào cảnh đánh lâu dài. Dương Dũng đương nhiên không thể để tình trạng đó xảy ra. Sau khi để quân sĩ nghỉ ngơi chỉnh đốn vài ngày, Dương Dũng ban lệnh chia hai mươi vạn đại quân thành ba cánh: một cánh ngược dòng sông lên phía trên để hiệp trợ Tần vương Dương Tuấn tiến công bộ đội của Trần Tuệ Kỷ; một cánh xuôi dòng tiến công bộ đội của Tiêu Nham, Tiêu Hiến ở Ngô Hưng; cánh còn lại đi đường bộ nam hạ, trực tiếp tấn công Lĩnh Nam.
Những hành động quân sự này đều do các thuộc cấp chỉ huy như Hạ Nhược Bật, Hàn Cầm Hổ, Cao Dĩnh, Dương Quảng đảm nhiệm. Bản thân Dương Dũng ở lại Kiến Khang, không tùy quân xuất chinh. Chỉ có Yến Vinh là biết sỉ sau dũng, không màng vết thương chưa lành, tự mình dẫn quân tiến công Tiêu Hiến ở hạ du.
Nhờ có văn thư chiêu hàng của Trần Thúc Bảo, ba đường binh mã tiến triển vô cùng nhanh chóng. Đa số tướng lĩnh nước Trần khi thấy quân Tùy lâm thành, biết đại thế đã mất nên đều lựa chọn đầu hàng. Mười ngày sau, Trần Tuệ Kỷ, Chu La Hầu và những người khác nghe tin nước Trần đã mất cũng đành chấp nhận thực tại, suất quân đầu hàng. Thế lực quân sự lớn nhất của quân Trần sau khi Kiến Khang bị chiếm đóng cũng theo đó mà tan rã.
Còn Tiêu Hiến, sau khi biết tin Kiến Khang bị phá, hiểu rằng mình đã mất đường lui, không những không đầu hàng mà còn tự xưng là Ngô Vương, dẫn quân kháng cự. Yến Vinh nhất thời gặp khó khăn, chưa thể hạ gục được.
Sau khi đại quân xuất phát, Dương Dũng lập tức cảm thấy nhẹ nhõm. Hiện nay việc bình định Giang Nam đã ở ngay trước mắt, Dương Dũng đương nhiên không còn gì phải lo lắng, phần lớn công việc đều giao cho Cao Dĩnh cùng đám người Lữ Mộc Lâm bên cạnh xử lý.
Phủ đệ của Thẩm Khách Khanh được chọn làm nơi ở chính thức của Dương Dũng tại Kiến Khang. Tuy Dương Dũng không cho phép quân Tùy xâm phạm dân trạch, nhưng việc tịch thu nhà cửa của các quyền thần nước Trần tại đất sở không nằm trong lệnh cấm. Dương Quảng, Hạ Nhược Bật, Hàn Cầm Hổ, Cao Dĩnh cũng đều có phủ đệ riêng cho mình.
Phủ đệ của Thẩm Khách Khanh chiếm diện tích cực lớn, gần như gấp đôi Đông Cung của Dương Dũng. Các tòa lầu các, núi giả, hồ nước ở đây tinh xảo đến mức Đông Cung không thể so sánh được. Hiện tại vừa qua tháng Giêng, mùa xuân Giang Nam đã đến, cây cối trong viện đã bắt đầu đâm chồi nảy lộc, thậm chí còn phảng phất hương hoa.
Dương Dũng ngồi trong đình hóng gió, vẻ mặt chán chường. Chàng tiện tay bốc một nắm bột mạch đã xào chín trên bàn đá, rắc xuống hồ nước nhỏ phía dưới. Hàng chục con cá chép màu đỏ từ dưới mặt nước lao lên, tranh nhau đớp lấy những hạt bột đang nổi lềnh bềnh, làm bắn lên từng đóa bọt nước trắng xóa.
Dương Dũng nhìn mà chẳng thấy chút hứng thú nào, tâm tư đã sớm bay về phía Kiến Khang. Đến thế giới này đã mười hai năm, chàng đã dần hòa nhập, có cha mẹ, có huynh đệ tỷ muội. Đáng tiếc, nếu như khi còn ở Tùy Quốc Công phủ, chàng còn có thể cảm nhận được chút tình thân, thì theo năm tháng trôi qua, thứ tình cảm ấy ngày càng nhạt nhòa. Chốn đế vương gia, phụ tử huynh đệ dù ngoài mặt có thân thiết đến đâu, bên trong vẫn luôn tồn tại những nỗi ngờ vực khôn nguôi.
Hiện giờ, điều chàng bận tâm nhất chính là thê nhi ở quê nhà. Rời kinh thành đã hơn nửa năm, nỗi nhớ nhung vợ con bỗng chốc trào dâng mãnh liệt. Không biết Nguyên Thanh Nhi và mọi người ở nhà ra sao, còn hai đứa con trai của chàng nữa, chờ đến khi chàng hồi kinh, không biết chúng còn nhận ra phụ vương mình hay không.
Một trận tiếng bước chân "đông, đông" vang lên, phá vỡ sự tĩnh lặng nơi đình hóng gió. Dương Dũng ngẩng đầu nhìn lại, thấy Dương Thạch đang rón rén đi tới. Chàng không vui hỏi: "Có chuyện gì?"
Trên mặt Dương Thạch lộ ra vẻ cười cợt cổ quái: "Điện hạ, chuyện tốt, có chuyện tốt ạ."
"Chuyện tốt gì? Chẳng lẽ tiền tuyến lại có tin thắng trận? Những việc đó cứ giao cho Cao Dĩnh, Lữ Mộc Lâm xử lý là được rồi." Dương Dũng lười biếng đáp.
Dương Thạch vội vàng lắc đầu.
"Vậy là chuyện tốt gì? Hay là kinh thành có chỉ dụ truyền tới?"
Dương Thạch vẫn lắc đầu. Dương Dũng đoán mấy lần đều không trúng, mà Dương Thạch lại chẳng chịu nói thẳng, chỉ thúc giục Dương Dũng quay về một chút, vẻ mặt đầy bí hiểm: "Điện hạ, người cứ đến chính sảnh là biết ngay ạ."
Dương Dũng lúc này chẳng còn tâm trí đâu, mặc cho Dương Thạch tỏ vẻ thần bí thế nào cũng không mảy may động tâm. Dương Thạch bất đắc dĩ, không dám giở trò úp mở trước mặt Dương Dũng nữa, đành nói ra đáp án: "Điện hạ, Hàn đại nhân vừa phái người đưa tới hai mỹ nhân để hầu hạ người."
"Thế này mà gọi là chuyện tốt sao? Nói với Hàn ái khanh, tâm ý của ông ấy bổn cung xin nhận, bảo ông ấy mang về đi." Dương Dũng không mấy bận tâm. Sau khi hạ Kiến Khang, cung nữ trong cung Trần triều cùng thê thiếp, tỳ nữ của các đại thần bị tịch thu gia sản đều trở thành tù binh. Những người này vốn phải áp giải về kinh sư, số phận phần lớn là bị hoàng đế ban thưởng cho các đại thần có công làm nô tỳ. Tuy nhiên, Dương Dũng cũng từng ban thưởng một số người không quan trọng cho Hạ Nhược Bật, Hàn Cầm Hổ và các tướng lĩnh khác, đó chỉ là lệ thường. Nếu Dương Dũng cần nữ tử, chàng có thể tự mình chọn lựa, không cần Hàn Cầm Hổ phải đưa tới.
Dương Thạch nhất thời vò đầu bứt tai, không biết nên hình dung thế nào, hạ thấp giọng nói: "Điện hạ, hai người này không giống người thường đâu ạ."
"Không giống ở chỗ nào? Là quốc sắc thiên hương, hay là ba đầu sáu tay?" Dương Dũng hiếm khi nói đùa một câu. Bị Dương Thạch ngắt lời, tâm trạng nhớ vợ con cũng vơi bớt, tinh thần chàng cũng khá hơn đôi chút.
"Ba đầu sáu tay thì chỉ có dọa người thôi ạ," Dương Thạch lầm bầm một câu rồi mới nói tiếp: "Điện hạ, hai người này chẳng những sở hữu nhan sắc quốc sắc thiên hương, mà thân phận cũng vô cùng đặc biệt. Họ chính là Trương Quý phi và Khổng Quý phi, hai người được Trần Thúc Bảo sủng ái nhất."
Dương Dũng đứng phắt dậy khỏi ghế đá: "Ngươi nói là Trương, Khổng hai vị Quý phi của Trần Thúc Bảo?"
Dương Thạch gật đầu: "Đúng vậy ạ. Khổng Quý phi này mới hai mươi tuổi, mỹ mạo vô song. Trương Quý phi tuy tuổi tác lớn hơn một chút nhưng nhan sắc không hề giảm sút. Hơn nữa, có thể được Trần Thúc Bảo sủng ái hơn mười năm, chắc chắn phải có điểm đặc biệt. Nếu điện hạ đang thấy buồn chán, chi bằng cứ để họ tới đây giải khuây cho người."
"Hồ nháo!" Dương Dũng lạnh lùng nhìn chằm chằm Dương Thạch: "Lời này là do ngươi tự nghĩ ra sao?"
Dương Thạch thường ngày vốn vô cùng ổn trọng, Dương Dũng mới yên tâm mang theo bên mình. Nay đột nhiên lại bày trò giật dây bắc cầu như thế, khiến Dương Dũng cảm thấy rất đỗi nghi ngờ.