Khi Thiết Tâm Nguyên dẫn quân tới hẻm Cổ Lãng nhìn thấy một tòa thành trại mới tinh mới lập lên chưa lâu, hoàn toàn không biết nói gì.
Thành trại này lấp đầy hẻm Cổ Lãng chật hẹp, cho dù là dòng Cổ Lãng lượng nước không nhỏ cũng được xây cầu bắc qua, trên cầu có cả tường trại.
Lúc này thành trại vẫn liên tục được nâng cao, gia cố.
Dương Hoài Ngọc đứng trên tường trại hỉ hả cười nói, nhưng không hề có ý mở thành trại cho quân Cáp Mật vào, Thiết Tâm Nguyên cũng không tấn công, hạ lệnh cắm trại bên sông Cổ Lãng.
Một vị tuần kiểm mang đầy vẻ bi tráng đi vào quân doanh Cáp Mật, trước khi đi, hắn thậm chí đã an bài hậu sự của mình.
Thiết Tâm Nguyên kiên nhẫn nghe tuần kiểm đó chuyển lời của Phú Bật, lại kiên nhẫn xem hết chồng văn thư dầy trước mặt, uống hết chén trà mới thôi hành hạ tinh thần vị tuần kiểm đáng thương.
Quá trình này kỳ thực không dài, chỉ hai tuần hương thôi, viên tuần kiểm cảm giác đã sống hết một đời.
Thiết Tâm Nguyên chẳng có gì để nói, mặc dù Phú Bật không đích thân tới mà chỉ phái một tuần kiểm là xỉ nhục y, nhưng y quyết định không nổi giận với ông ta, cũng không nổi giận với Đại Tống.
Hành vi của Phú Bật chỉ là sự phản kháng yếu ớt của kẻ thất thế.
Ta đã nhận văn thư rồi, nếu Bật công muốn lấy hẻm Cổ Lãng làm ranh giới thì bảo ông ta tới đây mà đàm phán với ta. Yên tâm, Cáp Mật ta tuy man di nhưng không ném ông ta vào nồi nấu canh đâu.”
Thiết Tâm Nguyên nói xong tự mình cũng thấy câu này thú vị liền cười bật cười, đám quan viên, tướng quân khác trong đại trướng cũng cười nghiêng ngả.
Tuần kiểm mặt trắng bệch, nhìn nồi hành quân cực lớn bắc trên đống lửa ngoài đại trướng, tính xem cái nồi có thể chứa được Phú Bật không?
Thấy Cáp Mật vương phất tay cho mình lui, tuần kiểm không khác gì được đại xá, vội vàng rời quân doanh Cáp Mật, ngựa không ngừng vó về thành trại.
Đây là lần đầu tiên Cáp Mật suất binh quy mô lớn sau sáu năm dưỡng sức, không chỉ có mười vạn đại quân tinh nhuệ nhất, do đích thân đại vương cầm quân, còn có văn thần dũng tướng hàng đầu, đả thông hành lang Hà Tây mang ý nghĩa vô cùng trọng đại, đây là một bước nhảy vọt mới của Cáp Mật.
Hoắc Hiền mặt nhợt nhạt, vượt Ô Sào lĩnh với một ông già như ông ta mà nói là sự hành hạ, tới được chân núi, đầu vẫn đau như muốn nứt toác, song vẫn cố nén đau bẩm tấu:” Đại vương để Đại Tống chiếm lấy hẻm Cổ Lãng là ranh giới là không thể, phía bắc hẻm Cổ Lãng là vùng man hoang, bị ngăn cách bởi Ô Sào lĩnh, chúng ta không thể gây được sức ép với Đại Tống, như thế không có ích gì với thế tử ở Đông Kinh.
Lưu Phân tiếp lời:” Đả thông hành lang Hà Tây, Đại Tống có lợi hơn chúng ta, vậy mà Phú Bật còn lòng tham vô đáy muốn chiếm thêm lợi ích, không thể đáp ứng được.”
Nói rồi nhìn Mạnh Nguyên Trực.
Mạnh Nguyên Trực nhún vai:” Nếu quan văn các vị đều đồng ý như thế, tiếp theo do võ tướng bọn ta ra tay, Thiết Tam Bách, đổ mãnh hỏa xuống sông Cổ Lãng, sau đó thả thùng thuốc nổ, lão tử hỏa thiêu thành trại này.”
“ À phải, nói với Dương Hoài Ngọc, muốn sống thì xéo mau, đây không phải hăm dọa hay cảnh cáo, lão tử nói là làm.”
Lưu Phân giật bắn mình, ông ta chỉ định gây chút áp lực với Phú Bật, không định dùng biện pháp thô bạo như thế.
Hoắc Hiền nhắm mắt dưỡng thần, đại vương đã không phản đối, ông ta cũng không muốn can thiệp vào hành động của võ tướng, Mạnh Nguyên Trực nói không sai, quan văn chỉ chế định phương hướng, về phần hành động ra sao là của võ tướng.
Muốn hỏa thiêu thành trại xây bằng gỗ rất đơn giản, chỉ cần hai bước, đổ dầu hỏa xuống sông, sau đó châm lửa.
Đương nhiên nếu cho thêm thùng thuốc nổ bịt kín, thiết kế độ dài dây cháy vừa đủ, để nó trôi vào thành trại rồi phát nổ càng tốt hơn.
Dương Hoài Ngọc cực kỳ mẫn cảm với vũ khí của quân Cáp Mật, bởi thế khi hắn nhìn thấy dầu hỏa bập bềnh theo dòng nước, rồi vô số những cái thùng trôi tới, hắn biết quân Cáp Mật không đùa, kinh hoàng hạ lệnh quân sĩ rời bỏ thành trại.
Vốn theo hiệp ước trước cuộc chiến, Cáp Mật sẽ tiến vào hẻm Cổ Lãng, sau đó là trú quân ở Hưng Long sơn.
Đại Tống thì trú quân ở Thanh thành, Hội Châu đối diện.
Còn Lan Châu sẽ là tòa thành không bố trí phòng ngự, trở thành trạm mậu dịch trọng yếu của tây bắc, hai nước lập kiểm thuê ti ở Lan Châu, Đại Tống thu thuế tới từ đông nam, Cáp Mật thu thuế tới từ tây bắc.
Đây là điều lệ có lợi cho Đại Tống, đông nam giàu có, tây bắc nghèo khó, Đại Tống xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu.
Quan trọng hơn nữa Đại Tống sẽ không cần phải bố trí trọng binh ở tây bắc, có Cáp Mật chắn Tây Hạ, áp lực quân sự ít nhất giảm thiểu bốn thành.
Nhưng Phú Bật cho rằng, Đại Tống nên có được nhiều hơn.
Sông Cổ Lãng chẳng mấy chốc biến thành con sông lửa, mấy vạn cân thuốc nổ phát uy, dòng sông bị chặt đứt, nước bắn lên giữa trời rồi trút xuống ào ào như mưa, tòa thành trại hùng vĩ biến thành đống đổ nát.
Quân Cáp Mật không thừa thắng truy kích mà thong thả đi nhặt gỗ vụn về đốt lửa nấu cơm.
Phú Bật ở trung quân nghe thấy một loạt tiếng nổ kinh hoàng, hoảng hốt phái người đi xem Dương Hoài Ngọc đã chết chưa.
Dương Hoài Ngọc tất nhiên không chết, hắn chỉ chiến bại mà thôi, nhưng mà chiến bại này hắn mong còn chẳng được.
Lão bà ở kinh thành gửi thư nói, đại nhi tử Thiết gia đã vào ở trong tòa phủ mới không tên, nhưng chỉ cần không phải kẻ ngốc cũng nhìn ra trạch viện sát hoàng cung này có bóng dáng đông cung.
Trạch viện do hoàng đế khâm định, đồ dùng do hoàng hậu phái người bố trí, dù nha hoàn thị nữ cũng chọn trong cung, mà quan trọng hơn cả là Vương Tiệm thành đại tổng quán trạch viện.
Trạch viện đó có một tấm biển lớn, biển không có tên gì cả, thậm chí không phải là Thiết phủ, làm người ta sinh đủ loại suy tưởng.
Vì thế cho dù có cách chặn lại quân Cáp Mật như bố trí lưới sắt, hoặc dẫn nước sang một bên, song phát hiện Cáp Mật định chơi thật là hắn chạy ngay, chỉ tiếc đống vật tư không kịp mang theo.