Những lời ngày hôm đó của Cáp Mật vương Thiết Tâm Nguyên được Hoắc Hiền ghi nhớ trong lòng, về sau Lưu Phân biết được ghi chép vào ( Cáp Mật chí), đời sau vẫn còn bị nho gia chỉ trích, y biến thành đại ma vương.
Thế nhưng đó là chuyện rất lâu sau này rồi, tạm thời chẳng cần để ý.
Sứ giả của Một Tàng Ngoa Bàng ở Khách La Xuyên tới, Phú Bật cũng đích quân doanh Cáp Mật.
Cả hai đều chẳng gặp được Thiết Tam Nguyên.
Ngày hai sáu tháng ba, trời trong gió ấm, Thiết Tâm Nguyên dẫn quân về Cáp Mật, lúc này y ở lại hẻm Cổ Lãng càng lâu chỉ càng khiến Phú Bật cảnh giác, vô hình trung giúp đỡ người Tây Hạ.
Trong sáu ngày ở lại nơi này, Thiết Tâm Nguyên hạ lệnh trưng thu dân phu công tượng, cùng ba nghìn kỵ binh Cáp Mật tiến hành xây dựng lại quan ải, lần này là thành lũy làm bằng đá.
Thế giới rất rộng lớn, tâm tư có thể trong khoảnh khắc bay đi ngàn dặm, thân thể lại không thể, muốn về tới Thanh Hương thành ngoại trừ dựa vào chiến mã đi từng bước thì không còn cách nào khác.
Khi Cáp Mật chinh chiến luôn có một đám thương nhân đi theo, bọn họ như đàn châu châu tham lam bám vào trên người đại quân, kiếm lấy lợi ích lớn nhất.
Đường đại quân đi ra thường là thương đạo tốt nhất, có đại quân, mã tặc không dám tới gần, vì thế thương nhân tận dụng khe hở an toàn này, điên cuồng đem hàng hóa Cáp Mật tới Đại Tống, hoặc ngược lại.
Quá trình thương mại qua lại đó cũng khiến thương nghiệp địa phương thêm sôi động.
Thiết Tâm Nguyên vốn cho rằng vùng đất này chẳng có cơ hội thương nghiệp gì, kết quả y kinh ngạc phát hiện thương nhân đào được mỏ vàng, ngoài ra xạ hương cũng khiến đám thương nhân điên cuồng.
“ Vật này không tiện đưa vào vương cung.”
Hoắc Hiền lạnh nhạt nói một câu, sai người lấy đi rương xạ hương mà Thiết Tâm Nguyên thu thập được mang về cho Triệu Uyển và Úy Trì Chước Chước.
Mặc dù Hoắc Hiền không giải thích vì sao xạ hương không thể đưa vào vương cung, Thiết Tâm Nguyên cũng không hỏi.
Lương Châu vô cùng yên bình.
Âu Dương Phát đích thân rời thành ba mươi dặm nghênh tiếp, Thiết Tâm Nguyên phát hiện tòa thành vốn tràn ngập sợ hãi này đã khôi phục yên bình ngày trước.
Người các bộ tộc mua bán gia súc, thuốc men, đồ da rất nhiều, ném cho chủ hàng hai đồng tiền, Thiết Tâm Nguyên thuận tay lấy cẩu kỳ trong túi da, vừa đi vừa ăn.
Thấy người bộ tộc không nổi giận mà còn cười vui vẻ, Thiết Tâm Nguyên gật gù:” Vậy là thương nhân trong thành đã tiếp nhận giao dịch bằng tiền tệ rồi?”
Âu Dương Phát cung kinh đáp:” Thần đã phế trừ thuế chân trâu, chuyển sang giao dịch bằng tiền, đồng thời dùng lượng tiền lớn mua đồ da và bò dê các bộ tộc tích góp được, trong tay họ có tiền, sẽ dần quen dùng tiền giao dịch chứ không phải lấy hàng đổi hàng.”
“ Như thế rất có lợi cho việc xúc tiến thương nghiệp của Thương Châu, quan phủ thu thuế cũng đơn giản hơn, quan trọng nhất thống nhất tiền tệ có thể đưa bộ tộc này dung hòa vào Cáp Mật ta.”
“ Không cần quá nhân từ với họ, giống thuần phục ngựa hoang, lúc mới đầu hình phạt nghiêm khắc sẽ tốt hơn.”
Thiết Tâm Nguyên dừng lại trước một quán mỳ bò, lớn tiếng gọi một bát. Y rất hoài niệm mỳ bò Lan Châu, nhưng thời đại này chưa có món đó, nước lã nấu thịt bò tuy ngon, nhưng dùng canh này nấu mỳ lại gây, không dễ ăn. Thiết Tâm Nguyên chỉ ăn được một miếng buông đúa, ném một nắm tiền đồng, chỉ đám trẻ con mút tay gần đó:” Nấu cho chúng ăn.”
Thế là một đám ăn mày trẻ con tràn vào, vỗ bàn đòi mỳ, cái bát y để lại bị đứa ăn mày lớn nhất ăn hết, Thiết Tâm Nguyên cùng Âu Dương Phát đứng bên nhìn chủ quán luống cuống nấu mỳ.
Thiết Tâm Nguyên vỗ vai Âu Dương Phát, nói một câu:” Hoắc tướng già rồi.”
Âu Dương Phát hiểu ý:” Nếu vậy vi thần hi vọng đại vương có thể giải trừ chức trách chăn dân của hai đệ đệ thần, chuyển sang làm quan thanh lưu.”
Thiết Tâm Nguyên lắc đầu:” Giờ chưa tới lúc cần tị hiềm, vài năm nữa hẵng hay, Cáp Mật tuy đã hoàn thành thể chế quan lại, song nền tảng còn yếu, không có lực lượng quan viên hùng hậu như Đại Tống mà tị hiềm.”
“ Đại vương, thần nhận được thư nhà, gia phụ đã lên đường tới Cáp Mật.”
Thiết Tâm Nguyên mừng lắm:” Hả? Tiên sinh sắp tới rồi sao? Ta hi vọng lần này tiên sinh sẽ ở lại định cư.”
Âu Dương Phát xấu hổ:” Gia phụ hẳn sẽ không ở lại, chủ yếu là vì phẫn nộ với hành vi của hai đứa đệ đệ thần, muốn tới dạy bảo chúng.
Thiết Tâm Nguyên cười lớn, ba nhi tử của Âu Dương Tu đều là tuấn tài hiếm có, thêm vào thân thế, có ai lại không muốn gả khuê nữ trong nhà cho thanh niên tiền đồ vô lượng đó.”
Ra tay sớm nhất là Lưu Phân, dùng vụ tai tiếng từ không hóa có ép Âu Dương Dịch ngoan ngoãn vào khuê phong trưởng nữ của ông ta.
Còn về phần Âu Dương Phỉ, hắn nhìn trúng một mục dương nữ, từ khi ở Hồ Dương thành về, đem theo mục dương nữ đó tuyên bố với hai ca ca, đó là chính thê Dương thị của hắn.
Khuê nữ của Lưu gia thì cũng đành đi, do chính thê sinh ra, đại gia khuê tú chân chính, môn đăng hộ đối với Âu Dương gia, cho dù Âu Dương Tu và Lưu Phân nhìn nhau không vừa mắt, nhưng lại thừa nhận môn phong của đối phương. Chuyện này tuy không xin phép đã cưới, ít nhất là mai mối đầy đủ, Âu Dương Tu ở xa cũng chỉ có cách cắn răng chấp thuận.
Còn hành vi của Âu Dương Phỉ thì ngay Thiết Tâm Nguyên cũng không ngửi nổi, nghe cái họ Dương là biết bịa rồi.
Đại Tống có họ Dương, song một mục dương nữ Tây Vực không nơi nương tựa không biết chữ thì làm gì có họ, người Tây Vực không có họ tên, nếu có là thứ tên phiên dịch ra kiểu cây to, đá cuội, hoa dại gì đó thôi.
Khi đó Thiết Tâm Nguyên muốn ra mặt ngăn cản, nhưng ý chí của Âu Dương Phỉ kiên quyết ngoài dự liệu, Triệu Uyển đi khuyên cũng chẳng có kết quả gì, Âu Dương Phỉ tuyên bố, đời này chỉ cưới mình Dương thị.
Âu Dương Phát nổi trận lôi đình, không những không khiến Âu Dương Phỉ thay đổi, cuối cùng còn bị hắn ép giúp họ tổ chức hôn lễ long trọng:
( Trận Manzikert nổi tiếng, nhất là đoạn Alp Arslan bắt đc Romanos thành giai thoại.
Alp Arslan: "Ngài sẽ làm gì nếu ta bị bắt làm tù binh và bị áp giải tới trước mặt ngài?"
Romanos: "Có lẽ ta sẽ giết ngài, hoặc đem bêu trên đường phố Constantinopolis."
Alp Arslan: "Hình phạt của ta còn nặng hơn nhiều. Ta sẽ quên ngài, và thả ngài tự do."
Alp Arslan chính là hậu duệ người Đột Quyết bị nhà Đường đuổi chạy về phía Tây, quốc gia của ông ta là tiền thân của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay)