Sau khi nghe Lâm Bằng trình bày và phân tích, không chỉ Tổng sư Hải Lục lộ vẻ tán thưởng, mà những người khác cũng không ngoại lệ. Đương nhiên, với tư cách là cấp trên của Lâm Bằng, Tổng sư Đường Chiếm Văn và Phó viện trưởng Ngô Trường Giang đều tỏ ra vô cùng hài lòng.
Rất nhanh, công tác chuẩn bị ở đầu đường băng đã hoàn tất, thời khắc kích động lòng người cuối cùng cũng tới. Lúc này, Lâm Bằng đã kết nối ý thức vào hệ thống của chiếc KJ-2000, cảm nhận trạng thái vận hành của từng thiết bị điện tử trên máy bay. Hơn mười nhân viên thử nghiệm và thành viên phi hành đoàn trên khoang đều đang chờ đợi lệnh cất cánh.
Chiếc KJ-2000 với chiếc đĩa radar khổng lồ trên lưng trở thành tâm điểm của mọi ánh nhìn. KJ-2000 có thân hình đồ sộ, là khí tài lớn nhất và nặng nhất tại Viện Thử nghiệm bay. Lần thử nghiệm này vô cùng quan trọng, trên khoang còn có hàng chục chuyên gia và kỹ sư tham gia, tuyệt đối không được phép xảy ra bất kỳ sai sót nào. Mọi công tác chuẩn bị đều đã được kiểm tra nhiều lần, xác nhận không có vấn đề mới đệ trình lên trung tâm chỉ huy điều khiển để xin lệnh cất cánh.
Tổng chỉ huy thử nghiệm bay là Phó viện trưởng Viện Thử nghiệm bay - Lâm Kiến Quốc, cuối cùng cũng hạ lệnh xuất phát. Lúc này, một chiếc xe kéo chuyên dụng đang từ từ đưa KJ-2000 tiến về phía đường băng. Nếu là các loại tiêm kích, máy bay vận tải hay máy bay ném bom thông thường, chúng có thể tự dùng động cơ để di chuyển đến vị trí cất cánh, nhưng KJ-2000 thì khác. Trên lưng nó mang theo một chiếc đĩa radar khổng lồ, chỉ cần sơ suất nhỏ cũng có thể dẫn đến sự cố, vì vậy sử dụng xe kéo là phương án an toàn và đáng tin cậy nhất. Đây không phải là biểu hiện của sự lạc hậu.
Nhìn từ xa, KJ-2000 thực sự vô cùng đồ sộ, đặc biệt là chiếc vỏ bọc ăng-ten radar lớn nhất thế giới với đường kính lên tới mười bốn mét, tương đương với chiều rộng của vài thân máy bay cộng lại. Một chiếc radar khổng lồ như vậy chỉ được nâng đỡ bởi hai giá đỡ trông có vẻ mảnh khảnh, khiến người ta không khỏi lo lắng liệu khi bay lên, chiếc đĩa này có bị rơi khỏi lưng chiếc Il-76 hay không.
Khi đã tới điểm cất cánh, xe kéo tách khỏi máy bay và quay trở về. Bốn động cơ phản lực dưới cánh của chiếc máy bay cảnh báo sớm KJ-2000 bắt đầu tăng tốc, phun ra luồng khí nóng áp suất cao về phía sau, đẩy khối phi cơ khổng lồ này bắt đầu lăn bánh trên đường băng.
Tất cả mọi người đều dán mắt vào chiếc KJ-2000. Họ muốn chứng kiến khoảnh khắc này, khoảnh khắc chiếc máy bay cảnh báo sớm "cây nhà lá vườn" - niềm tự hào của quốc gia - cất cánh. Một chiếc máy bay khổng lồ như vậy, khoảnh khắc rời khỏi mặt đất hẳn phải vô cùng đồ sộ và đầy phấn khích.
Khi KJ-2000 tăng tốc, trái tim của mọi người như treo ngược lên cổ họng. Đặc biệt là các vị Tổng sư, lãnh đạo Viện Thử nghiệm bay và quân đội, ai nấy đều lộ vẻ mặt ngưng trọng. Họ hiểu rõ đây là chiếc máy bay sẽ thay đổi tương lai của hệ thống tác chiến không quân, và trọng lượng mà nó gánh vác là vô cùng lớn. Lâm Bằng thì bình tĩnh hơn, bởi lúc này ý thức của anh đã kết nối với hệ thống máy bay. Mọi thông số trên phi cơ đều nằm dưới sự giám sát của anh, dù chỉ là một trục trặc nhỏ, anh cũng sẽ phát hiện ra sớm hơn cả các thiết bị theo dõi dữ liệu trên khoang.
Trên đường băng, KJ-2000 liên tục tăng tốc. Sau hơn một ngàn mét chạy đà, cuối cùng nó cũng bắt đầu ngẩng đầu. Lúc này, mọi người đều nín thở. Việc giữ tư thế ổn định khi cất cánh là vô cùng quan trọng, bởi việc lắp thêm chiếc đĩa radar lớn đã làm thay đổi đặc tính khí động học của máy bay. Dù đã trải qua vô số lần thử nghiệm trong ống thổi gió và mô phỏng trên máy tính, nhưng thực tế bay vẫn luôn có những khác biệt.
Những người trên khoang lúc này cũng đang thở dốc, họ đang ngồi trên chiếc máy bay này, nếu xảy ra sự cố thì hậu quả thật khó lường. Không ai quên được sự cố của máy bay cảnh báo sớm A-50 của Liên Xô vào năm 1982, chính trong giai đoạn cất cánh mà hơn ba mươi người trên khoang đã không qua khỏi. Rất may, tư thế của máy bay vẫn được giữ vững, nó mang theo thanh thế như sấm sét, lao vút lên bầu trời xanh, hướng về phía xa với một khí thế không gì ngăn cản nổi!
Thật tuyệt vời!
Trong trung tâm chỉ huy điều khiển, mọi người đều đứng bật dậy, dõi mắt theo chiếc KJ-2000. Tiếp theo, KJ-2000 sẽ phải thực hiện một loạt các thử nghiệm thông số trên không. Hai vị Tổng sư đều vui mừng đến rơi nước mắt, Tổng sư Hải Lục dụi đôi mắt đỏ hoe, lẩm bẩm: "Tốt quá rồi, cuối cùng cũng bay lên được! Chiếc máy bay của chúng ta đã làm nên chuyện! Tiếp theo chỉ còn chờ xem hệ thống radar có hoạt động tốt hay không."
Dưới sự phối hợp chặt chẽ của những phi công thử nghiệm giỏi nhất, KJ-2000 cuối cùng đã cất cánh an toàn. Tất cả mọi người trên khoang đều thở phào nhẹ nhõm, nhưng công việc của họ vẫn chưa kết thúc. Lúc này, mỗi chuyên gia thử nghiệm và kỹ sư đều đang ngồi vào vị trí, chuẩn bị bắt đầu kiểm tra hệ thống radar cảnh báo sớm.
Rất nhanh, chiếc KJ-2000 đã đạt tới độ cao mười ngàn mét. Đây là độ cao mà các loại máy bay cánh quạt thông thường khó lòng đạt tới. Chính vì lý do đó, máy bay sử dụng động cơ phản lực luôn phù hợp hơn để cải tạo thành máy bay cảnh báo sớm, bởi bay càng cao thì tầm nhìn radar càng xa.
Chẳng mấy chốc, chiếc KJ-2000 đã bay đến vùng không phận thử nghiệm chỉ định, duy trì trạng thái bay bằng tuần tra ở vận tốc khoảng 650 km/h. Ngay lúc này, hệ thống radar mảng pha quét điện tử chủ động (AESA) trên máy bay chính thức được kích hoạt.
Ngay khi ba mặt radar mảng pha khởi động, lấy KJ-2000 làm tâm điểm, mọi vật thể bay trong bán kính hơn 400 km đều không thể thoát khỏi "đôi mắt" của nó. Lâm Bằng vẫn còn nhớ rõ lời Tổng công trình sư Hải Lục từng nói: ngay cả một que diêm ở khoảng cách 20 km so với máy bay cảnh báo sớm KJ-2000, hệ thống này cũng có thể nhận diện được.
Đây không phải là lời khoác lác, mà là sự thật. Khoảng cách dò tìm mục tiêu là các chiến đấu cơ bay ở tầng thấp và trung bình của KJ-2000 có thể đạt hơn 400 km, đối với các mục tiêu ở tầng cao, cự ly dò tìm thậm chí lên tới hơn 1.000 km.
Lúc này bên trong khoang điều khiển của KJ-2000, các nhân viên thử nghiệm đã bắt đầu làm việc khẩn trương. Mười mấy bộ máy tính cùng các màn hình hiển thị liên tục cập nhật đủ loại tham số kỹ thuật.
Hệ thống này tiên tiến hơn nhiều so với dòng A-50 của "Đại Mao". Toàn bộ trạm điều khiển hiển thị đều đã được tự động hóa, trong khi trên A-50 vẫn còn sử dụng các loại công tắc mạch điện mô phỏng cũ kỹ cùng màn hình ống tia âm cực (CRT) tròn trịa như chiếc gương lớn.
Trên màn hình, dữ liệu hiển thị rõ ràng các máy bay đang tham gia thử nghiệm trong vùng không phận, thậm chí cả các mục tiêu xe tăng dưới mặt đất cũng được định vị chính xác trên bản đồ điện tử.
So với các loại máy bay cảnh báo sớm kiểu cũ chỉ hiển thị những đốm sáng đơn thuần, hệ thống này đã vượt trội hơn hẳn.
"Radar hoạt động bình thường."
"Truyền tải dữ liệu bình thường."
Hàng chục mục tiêu trên không và dưới mặt đất đã được KJ-2000 phát hiện, định vị chính xác và liên tục bám sát.
Mặc dù nhiễu từ mặt đất rất lớn, nhưng nhờ ưu thế của radar mảng pha, hệ thống vẫn lọc nhiễu cực kỳ hiệu quả, vượt xa năng lực của A-50 hay E-3 của Mỹ.
Bởi lẽ, hai loại máy bay cảnh báo sớm kia sử dụng radar xung Doppler xoay, không chỉ có khả năng bỏ sót mục tiêu mà còn phải dùng phương pháp lọc miền tần số để tách biệt tần số Doppler của mục tiêu khỏi phổ tần nhiễu, từ đó mới có thể trích xuất tín hiệu mục tiêu từ môi trường nhiễu cường độ cao.
Với cách thức đó, khi số lượng mục tiêu quá lớn, máy tính sẽ rất khó xử lý kịp thời. Trong khi đó, radar mảng pha lại sở hữu ưu thế bẩm sinh vượt trội trong lĩnh vực này.