Họ bước ra ngoài hào và bò trong đêm tối trên mặt đất rắn câng như đá đi về phía đường sắt. Sợi dây trung sĩ Vetxêlôpxki không lúc nào rời khỏi tay dẫn họ đến đường ray. Kiên quyết không bấm đèn, dù chỉ trong một giây đồng hồ, Đrujinin bới đá ra, nắn quả mìn, đưa tay sờ nút dây buộc vào kíp nổ, và khẽ kéo.
— Kéo hơi nặng...
— Không sao, kéo được — Misa nói.
— Anh phải kéo thật lực vào đấy.
— Rõ.
— Mìn nổ xong, các đồng chí ở lại tại chỗ chờ tàu cứu viện đến — Đrujinin nói, mắt nhìn vào kim đồng hồ dạ quang — khi tàu cứu viện trúng mìn và quân lính địch bỏ chạy, các đồng chí sẽ phát huy các cỡ hỏa lực bắn theo. Các đồng chí sẽ ném lựu đạn, nói tóm lại, sẽ dàn quân ra đánh cho chúng một trận ra trò, để chúng được thể nghiệm trên da thịt sức mạnh của ta — Ông nói bằng một giọng gay gắt, dằn từng tiếng. Tuy tối đặc, người ta vẫn trông thấy mắt ông long lanh. — Các đồng chí chỉ rút lui khi có pháo hiệu xanh. Pháo hiệu sẽ do tôi bắn. Ngay trước khi tàu cứu viện tới, rất có thể có lực lượng địch kéo tới trận địa: quân chiếm đóng Uxatôvô, quân cảnh vệ lê dương và các thứ quân đê tiện khác. Trong trường hợp ấy, chúng sẽ sa vào trận địa phục kích của Tulyakôp và sẽ phải đối phó với bộ phận của chúng tôi. Còn các đồng chí thì lúc ấy, khi có pháo hiệu xanh, sẽ phân tán ra và rút từng người một, mỗi người một hướng, đúng như chỉ thị... Các đồng chí có nhớ chỉ thị không?
— Nhớ — Secnôivanenkô nói.
— Tốt. Có thế thôi. Hết.
Lúc ấy, Piôt Vaxiliêvich có xúc cảm gì đặc biệt, khác thường không? Không, ông chẳng có một xúc cảm gì đặc biệt cả: Đó không phải vì tâm hồn ông đã bị tê liệt hay vì trái tim ông không thể rung động. Trái lại, chưa lúc nào tim ông đập mạnh như lúc này, và chưa lúc nào ông thấy nó có sức sống, có khả năng ôm lấy tất cả, và bất tử như lúc này. Tất cả mọi ý nghĩ và cảm giác của ông hoàn toàn chìm ngập trong ý thức trách nhiệm. Từ lâu, ý thức đó đã gắn liền với đời ông. Nó trở thành cuộc sống của ông, trở thành chính bản thân ông. Và ông bình tĩnh không phải đơn giản như một con người có nghị lực lớn, quen nhìn thẳng vào cái chết. Không, ông bình tĩnh như một người tin tưởng vào chính nghĩa của mình. Nắm chắc khẩu súng lục trước ngực, ông đứng trong hào, bên Secnôivanenkô và Misa, nhìn xoáy vào bóng đêm, đếm nhẩm những toa thùng đang âm ầm lăn qua trước mặt họ.
Sáu, bảy, tám, chín.
Những thùng dầu chở đầy xăng máy bay, có một hoặc hai bướu, trông như bóng những con lạc đà, kéo thành một đoàn dài mãi không hết, in hình trên nền trời sẫm.
Mười một, mười hai, mười ba...
Chúng chạy qua, nhảy xốc lên trên những chỗ đường ray nối bị nhiệt độ thấp làm hở cách nhau. Đám mây bụi chúng khua lên hòa lẫn vào gió đông bắc, phả mạnh, quất cát và bông tuyết vào mặt họ. Các toa thùng nối đuôi nhau lướt nhanh qua quả mìn gài dưới đường ray. Chỉ cần kéo cái dây là chúng nổ tung. Nhưng đoàn tàu còn dài, và phải biết kiên tâm chờ cho tới đoạn cuối.
Mười bốn, mười lăm…
Đoàn tàu chạy sao vừa nhanh, mà lại vừa chậm đến sốt ruột như thế! Các toa thùng đã qua hết và bây giờ là những toa hàng chắc là chở đạn, cao lênh nghênh, có bốn trục bánh, và trên toa có lính đứng gác. Rồi lại đến những toa thùng có một hoặc hai bướu trông như bóng lạc đà.
Ngọn gió từ xa đưa tạt lại tiếng đầu máy giống như tiếng một con chó mệt thở rốc: “Phì, phò, phì, phò...!” Giờ đây, chắc hẳn đầu máy đã vượt qua quả mìn thứ hai và đang đến gần quả thứ ba... Và mặc dầu tiếng toa thùng lăn ầm ầm, bốn bề xung quanh sao mà lặng ngắt! Kìa, gió hắt xuống gầm tàu vài tàn lửa đó từ lò đầu máy rơi xuống đường. Nhưng đoàn tàu bao giờ mới hết? Chong chóng lên! Nếu nó ngắn hơn họ dự tính thì gay go quá. Nhưng không, trái lại, xem chừng nó quá dài là khác.
— Chà chà, cứ ùn ùn — Secnôivanenkô nói thầm bên tai Batsây.
Batsây bò ra khỏi hào... Ba toa thùng cuối cùng, sau đó một toa hàng, và thể là hết.
— Nào giật đi!
Misa cuộn sợi dây vào cổ tay, đưa khuỷu tay về đằng trước và đạp chân vào thành hào làm thế tựa.
— Này, cho chúng mày chết này, quân chó má! — Anh làu bàu trong miệng và cùng lúc ấy, xa xa đâu đó, phía đầu tàu, một ánh chớp lóe lên, soi rực thảo nguyên màu chì cho đến tận chân trời, một ánh sáng điện rùng rợn, và một tiếng nổ dậy lên như sét.
— Nào, kéo đi! — Secnôivanenkô hét lên.
Các toa thùng vẫn còn lăn, nhưng một cái rùng mình ghê gớm chạy dọc xương sống đoàn tàu, và lần này, cũng ở phía trên, nhưng đã gần hơn nhiều, tại chính giữa đoàn tàu, ánh chớp thứ hai lóe lên.
Dưới ánh sáng chói lòa, Batsây thấy ngay bên mình bộ mặt của Misa, trông như một cái nạ bằng thạch cao, đang nhắm nghiền mắt và cắn môi dưới đến bật máu, lấy hết sức kéo mạnh cái dây cuộn quanh cổ tay.
— Kia, làm sao thế, mau lên! kéo đi, mau lên! — Secnôivanenkô nói.
— Hỏng rồi!
Giờ đây các toa thùng, với một tiếng đổ vỡ, một tiếng va chạm rầm rầm kinh khủng, trèo lên nhau, lồng lộn, đồ lăn ra, ngọn lửa bừng lên dữ dội ở quãng đầu và quãng giữa tàu.
Và Misa vẫn kéo mãi sợi dây, những giọt nước mắt giận dữ chảy trên đôi má anh, long lanh và âm ấm ánh lửa dầu xăng cháy rực.
Thình lình, tay vẫn giữ khư khư sợi dây, anh nhảy vọt một cái ra khỏi hào; Secnôivanenkô chưa kịp kêu lên: “Đứng lại! Lùi lại!“ thì cái bóng lanh lẹn, mập mạp trong cái áo bông ngắn dã lao lên nhanh như chớp, nhảy qua các chướng ngại vật, chạy về phía đường sắt.
Và thế là ở đuôi đoàn tàu, ánh chớp thứ ba lóe lên. Nó sáng rực gần lắm, vọt từ dưới gầm toa lên, chói lòa mắt.
Hơi mìn nổ xô ngã Secnôivanenkô và Batsây xuống, tàn nhẫn hắt họ lăn xuống đáy hào, và bên trên miệng hào bay qua những mảnh quần áo rách mướp và những mầu kỳ dị của cái mà một phút trước đây là anh báo vụ viên Misa. Một trong những mẩu ấy lọt vào trong hào, rơi xuống đất, nẩy lên và treo lơ lửng trên miệng hào. Dưới ánh sáng khói lửa rừng rực trên đường sắt, Secnôivanenkô và Piôt Batsây thấy cái mảnh lơ lửng bên miệng hào đó là một ống tay chiếc áo bông ngắn quen thuộc, có một bàn tay người chết thò ra, nắm khư khư, với những mẩu xương khớp nhỏ xanh xanh, những móng tay trắng bệch và những mẩu dây cuốn quanh cổ tay.
Ngồi nép vào nhau, họ kinh hoàng nhìn cái nắm tay. Từ trên trời rơi xuống người họ những đám muội đen, những giọt lửa nóng giãy phả xuống một thứ khói ngột ngạt, và ngọn gió đông, với cái sức mạnh bất tận của nó, là là trên mặt thảo nguyên, thổi bạt những đám mây chì đỏ ửng ánh lửa đám cháy dữ dội.