Về sau, anh em trong bộ phận của Đrujinin và Tulyakôp lác đác về, lúc một lúc hai người. Có người bị thương, và Liđya Ivanôpna lập một trạm cứu thương. Xtrenbixki trở về, rồi Xviriđôp, với một bên môi rách toạc và một răng gẫy. Họ kể chuyện giật mìn phá tám cây số đường sắt ở vùng ga Đatsnaia. Phương pháp mới áp dụng ở chỗ nào cũng thành công tất.
— Một đoàn tàu lớn chở xăng và đạn — Xiniskin Jêleznư vừa ghi kết quả trận đánh vào cuốn nhật ký chiến đấu, vừa nói — một đoàn tàu tiếp viện, một goòng máy, khoảng ba mươi tên phát-xít bị tiêu diệt, tám cây số đường sắt bị phá hoại cộng thêm gần hai cây số nữa. Quả là một món quà tặng khá lịch sự cho anh em ở Xtalingrat, nhất là lúc này quân Đức đang phải đếm từng giọt xăng, từng viên đạn. Biết bao nhiêu máy bay phải nghỉ cánh, bao nhiêu khẩu súng máy phải treo giò, khá lắm, làm ăn khá lắm!
Một ngày và một đêm nữa trời qua. Không thấy ai về thêm nữa. Có lý nào họ đã chết tất hoặc bị sa vào tay quân thù cả rồi?... Nghĩ đến mà sợ, nói đến mà sợ! Chỉ có cách là lờ đi không nhắc đến. Những ngày chờ đợi âm thầm. Tiếp sau cái hy vọng âm thầm là cái tuyệt vọng âm thầm, rồi lại hy vọng.
Cuộc sống dưới hầm tiếp diễn theo trật tự đã định. Xiniskin thay thế Secnôivanenkô, Xêrafim Tulyakôp thay Đrujinin. Thêm vào đó, cả Liôna Ximban, cũng như Xviatôxlap, cũng như Piôt Batsây, Kôletnisuc và trung sĩ Vetxêlôpxki đều không thấy trở về.
Ngoài ra, không có gì thay đổi cả. Người ta thổi nấu, nhận thông báo của Thông tấn xã Liên-xô, lau chùi đạn, vá quần áo, tập bắn, lắp đạn vào băng, đánh máy truyền đơn giao cho anh em du kích của Tulyakôp đêm đêm đi rải.
Các thông báo do Valentin và Pêchya nhận, Valentin điều khiển máy thu, Pêchya ghi chép, một người trong đơn vị Đrujinin mang dây trời ra ngoài cửa hầm, cắm trên một cái gậy giơ lên.
Nếu không có những bản thông báo tin tức mặt trận Xtalingrat ấy thì họ không đủ sức chịu đựng sự căng thẳng của cảnh chờ đợi âm thầm. Nhưng, hàng ngày, bản thông báo lại cho họ được hít thở không khí chiến thắng, nó nuôi cho họ sống được và đợi được. Đương nhiên là họ chờ đợi tất cả những người thiếu mặt. Nhưng mỗi người chờ đợi riêng một người, với một tâm trạng khác biệt.
Pêchya đợi bố. Chú lúc nào cũng nghĩ đến bố, lúc thức cũng như lúc nằm mộng. Chú không mơ thấy bố. Không, Pêchya nghĩ đến bố, da diết, đau đớn, trong lòng tràn ngập tuyệt vọng của yêu thương. Có thể nào bố chú lại không còn sống nữa, bố chú, con người mà chú cảm thấy mình chỉ là một bộ phận không thể tách rời, con người mà cuộc sống là cuộc sống của chú, và cõi chết là một chuyện cũng vô lý, cũng khủng khiếp như giả thử bản thân chú chết vậy?
Pêchya không lúc nào không bị giày vò bởi những hình ảnh làm tan nát lòng chú... Bố chú đang chạy trên thảo nguyên. Một đàn chó săn Đức đuổi theo. Nét mặt ông nhợt nhạt, mất hết thần sắc. Một nụ cười kỳ dị méo xệch trên môi ông. Đàn chó chồm lên người ông, ngoạm lấy họng ông, cắn nát quần áo ông. Ông lấy chân đạp chúng ra. Ông kêu lên. Và đàn chó xô ông ngã vật xuống và cắn tay, cắn đùi, cắn vai ông. Bố chú như một đống tả tơi be bét máu. Và bọn quân cảnh vệ Rumani bẻ tay ông một cách tàn bạo, lấy thừng trói ngoặt ra sau lưng, lôi ông xềnh xệch dưới đất, đem quẳng lên xe ca-mi-ông...
Pêchya cắn môi đến ứa máu, cắn vào nắm tay để khỏi khóc, khỏi kêu to. Chú biết là không nên khóc, không nên nói. Phải im lặng. Và chú im lặng, đôi mắt quầng đen trừng trừng nhìn thẳng trước mặt.
Valentin cũng thế, cũng nhìn thẳng trước mặt, đăm đăm, nhìn mà không trông thấy gì, yếu ớt áp lên ngực những ngón tay gầy guộc thon thon mèm mại như tay thiếu nữ.
Pêchya biết là Valentin mang trên ngực, trong lần áo lót, một bài báo nhỏ cắt ở báo ra, giấy đã vàng và nhàu nát: “Đợi anh, anh sẽ về. Dù mưa rơi dầm dề, trời có buồn lê thê. Thì em ơi, cứ đợi...” Tờ báo đó, Liôna Ximban đã mua hai mác của một tên lính Rumani ở chợ Cũ. Ximban đã không đừng không mua được. Anh đã đem về hầm đá và Valentin đã chiếm làm của riêng. Valentin đã dán bài báo lên tường bên tấm giường đá của mình. Giờ đây, cô mang nó trên ngực, và mỗi lần thấy mình nghĩ đến người vắng mặt và nhất định sẽ trở về, cô lại đưa tay lên sờ nó.
Trong những ngày chờ đợi ấy, Raitxa Lvôpna đã thay đổi nhiều quá, không ai nhận ra được nữa. Bà đã thành gần như một bà lão. Bà không trò chuyện với ai cả. Bà cứ lầm lì chẳng nói, căng thẳng chờ đợi, bẻ đốt tay răng rắc, và đôi mắt đen của bà, đầy những bóng hãi hùng, cứ long lanh rất khác thường.
Người có vẻ bình tĩnh hơn cả là Matriôna Têrenchiepna. Bà biết đợi. Cuộc đời đã dạy cho bà cái nghệ thuật tàn nhẫn ấy: bà là vợ thuyền chài. Bà đã trải qua bao đêm không ngủ trong túp lều rách nát của mình, dỏng tai nghe tiếng sóng xô đi đẩy lại như súng rền, khi con thuyền chồng bà ở ngoài khơi bị một cơn bão bất ngờ. Nhiều lần ông đã mang hai con trai đi theo. Bà bế Valentin trong tay, và cùng với chị em vợ thuyền chài khác ra đứng hàng giờ liền ngoài bờ biển cao, mắt đăm đăm nhìn biển cả nổi sóng. Bà dường như biến thành đá. cho đến tận khi mắt bà thoáng thấy, giữa những ngọn sóng, con thuyền quen thuộc mang trở về chiếc cột buồm gãy gục và cảnh buồm tả tơi. Chẳng ai biết lúc ấy trái tim bà rộn lên những gì? Bà im lặng.
Giờ đây, phần lớn thời gian bà ngồi như hóa đá trên tấm giường bằng đá của mình, nhìn khoảng không trước mắt, đăm đăm, im lặng chờ đợi.
Ở bà cảm xúc đợi chờ gắn liền với ý niệm một biển khơi nổi sóng. Ngồi thu hai bàn tay to và xương xẩu giữa hai đầu gối, bà mường tượng thấy một mặt biển đầy những mảnh vật trôi giạt hắt bọt sóng lên mặt bà, và những con chim hải âu, hàng trăm con chim hải âu quang quác mà từ bé bà vẫn coi là hồn những dân chài đã chết hiện về. Bà chờ đợi, im lặng. Bà chờ đợi ông chú Gayrick, bà chờ đợi Batsây, bà chờ đợi tất cả những anh em đã ra đi đến chỗ cây số mười bốn, đồng thời bà chờ đợi chồng, ông già Pêrêpêlitxki và các con trai đang chiến đấu ở đâu đó; có thể họ không còn sống trên đời này nữa và linh hồn họ, như thỉnh thoảng bà vẫn nghĩ, đang bay trên biển cả nổi sóng, đầy những vật trôi giạt của bão táp.