Trong khi đó, Matriôna Têrenchiepna và Raitxa Lvôpna đi khắp làng Uxatôvô phân phát và dán bản kêu gọi phụ nữ, động viên họ giúp đỡ Hồng quân và du kích thanh toán quân thù. Không phải là những tờ truyền đơn viết tay hoặc đánh máy ra nhiều bản bằng giấy than. Những bản kêu gọi lần này đều in trong nhà in mà đồng chí Vaxili đã tổ chức ở cái xí nghiệp ngầm rộng mênh mông trong hầm mộ Krivaia Banka. Người của đồng chí ấy đã gửi một số bản in cho đồng chí Secnôivanenkô để cho đem đi dán.
Matriôna Têrenchiepna và Raitxa Lvôpna đã đảm nhiệm công việc này. Secnôivanenkô đã định giữ họ lại để tránh cho họ nỗi nguy hiểm. Nhưng họ cứ nằn nì mãi. Ông đã từng nghiêm cấm họ không được lên mặt đất. Nhưng lần này thì oai phong, quyền lực đều không có tác dụng gì cả. Cả hai người đều ra bằng cái cửa gọi là “cửa thảo nguyên” và trong một đêm, họ đã dán được hơn một trăm tờ kêu gọi sau đây:
”Hỡi chị em phụ nữ Ôđetxa! Các bạn hãy tỏ ra xứng đáng là những người con gái trung thành của Tổ quốc vĩ đại, các bạn hãy nhớ rằng cha, chồng, con, anh em các bạn không nề hy sinh và đang tiến về để giải phóng các bạn, để đánh đuổi lũ phát-xít chó má, và để tiếp tục sống với các bạn một cuộc sống yên ổn thanh bình. Đừng quên họ, hãy xứng đáng với cha, chồng của các bạn. Hãy giúp họ tiêu diệt bọn quái vật phát-xít. Hãy trả thù cho dòng máu Nga mà họ đã đổ ra! Hãy trả thù cho bà con thân thiết của các bạn!”
MatriônaTêrenchiepna, già đi nhiều, tóc gần bạc trắng, tấm khăn choàng của bà già sụp xuống tận cặp mắt sáng quắc vì cơn sốt, đã đi suốt đêm khắp các phố của khu Uxatôvô, nơi mà một tháng trước quân đội Rumani đã bỏ đi. Chỉ còn lại mấy tên cảnh vệ và bọn sen đầm thuộc đội lê dương.
Bà chẳng sợ hãi gì cả. Những bản kêu gọi khổ nhỏ, màu xám in vội thô sơ đang nằm trong tay bà là những quả lựu đạn mà, bằng bàn tay run lên và căm giận, bà ném qua những bức tường đá thấp vào những cái sân chất đầy những xe cộ Rumani, những bếp ăn dã chiến bị phá hoại, những hòm đạn được bị bỏ lại...
Những bản kêu gọi ấy mãnh liệt và nguy hiểm hơn cả thuốc nổ vì mỗi lời mỗi chữ chứa đựng sức phá hoại ghê gớm của lòng căm giận của nhân dân.
Không chút sợ hãi, Matriôna Têrenchiepna bước vào những ngôi nhà không quen biết, bà đứng ở khung cửa, như một bóng ma che nửa mặt bằng chiếc khăn choàng, bà nói, hay đúng hơn là thét lên:
— Bà con ta ơi! Phụ nữ xô-viết ta ơi! Các chị em và các cháu thân mến! Tại sao hãy còn ngủ thế? Dậy thôi chứ! Bọn phát-xít chó má đang hấp hối. Hãy kết liễu đời chúng nó đi... Chị em hãy đọc lời kêu gọi này và truyền đi khắp nơi. Chị em thân mến! Hãy trả thù cho Tổ quốc thiêng liêng, hãy trả thù cho con cái chúng ta bị hành hạ.
Và nước mắt chảy theo những nếp nhăn sâu trên khuôn mặt đen xạm, héo hon của bà rồi rơi xuống đất. Những giọt nước mắt đáng sợ, u uất và nặng như chì.
Ngọn lửa đuốc bập bùng dưới những vòm thấp. Những giọt nhựa nóng bỏng rơi xuống mũ bọn lính xông vào hầm mộ. Quân Đức! Secnôivanenkô và Kôletnisuc lúc ấy đang ở trong hành lang, hầu như không nghe thấy gì, nhưng căn cứ vào một chấn động khác thường của lòng đất họ cũng đoán được có một vụ nố rất mạnh, xảy ra không xa chỗ họ lắm. Không khi im lìm và bị nén rung lên, đập vào tai họ. Một luồng gió từ cửa “Dím” ào tới làm rung rinh đèn.
Lập tức họ biết quân Đức vừa phá nổ cửa “Con Dím” và đã xông vào hầm mộ. Đó là một khả năng họ đã tính trước. Khoảng giữa cửa “Con Dím” và cơ quan chỉ huy, ở chỗ hẹp nhất và thấp nhất của con đường ngầm, họ đã đặt hai quả mìn rất mạnh có ngòi nổ tự động. Chỉ cần giật một sợi dây nhỏ giấu khéo sau những tảng đá và phủ đất bụi là những vòm hầm yếu ớt sụp xuống và lấp kín hàng chục thước đường ngầm lại ngay. Nhưng những quả mìn ấy đặt từ lâu: một năm rưỡi. Liệu có còn công hiệu không? Sợi dây có thể gỉ, ngòi nổ có thể bị ẩm, tóm lại chất nổ có thể chẳng còn tác dụng gì nữa.
Secnôivanenkô và Kôletnisuc lao vào đường ngầm để xem xét, và sửa lại mìn phòng khi cần đến. Nhưng bọn Đức có thể cho công binh đi trước. Trong trường hợp này phải nấp ở chỗ hẹp nhất và trong bóng tối bắn ra, tiêu diệt từng tên một. Nhưng mọi chuyện đã xảy ra quá đột ngột khiến họ thấy mình quá chậm chạp. Cách chỗ chôn mìn không xa, có ánh đuốc đỏ thẫm, có những cái mũ lóe lên, và những tràng tiểu liên khàn khàn bắn hú họa trong bóng tối. Những viên đạn vun vút như chuột nhắt, kéo những vệt dài trên tường và làm đá vôi rơi lả tả.
Họ tắt đèn.
— Nằm xuống! — Secnôivanenkô ra lệnh, ông ngồi sau một chỗ lồi của đường hầm, còn Kôletnisuc thì nấp sau một tảng đá to vừa mới rơi xuống. —
— Jôra, đứng vội — Secnôivanenkô vừa nói vừa đeo kính — Bắn thật chắc vào. Chúng mình sẽ bắn từng tràng luân phiên nhau, người nọ tiếp người kia.
Kôletnisuc cho đạn lên nòng, nghe rắc một tiếng. Ông có một khẩu súng trường, Secnôivanenkô có một khẩu súng Nagan. Họ chỉ có ít đạn thôi. Kôletnisuc chỉ có hai băng đạn dự trữ, Secnôivanenkô chỉ có mười viên, không kể bảy viên trong băng tròn.
— Nào, bây giờ ta bắt đầu!
Secnôivanenkô nâng khẩu Nagan đặt lên cánh tay co, rồi, không chút vội vã nhằm một con chó đang trườn dưới đất. Con chó lăn ra chết. Sau đó một bóng đen khom khom xuất hiện, đầu đội chiếc mũ sâu, gần như bò rạp người, trên quãng hầm chật hẹp. Đến lượt Kôletnisuc bắn, cái bóng đen gục xuống con chó, cây đuốc văng đi. Lại đến lượt Secnôivanenkô bắn, ông hạ cái bóng đen thứ hai ngã lộn cả người lẫn mũ xuống, một cái bóng đen thứ ba xuất hiện.
— Kìa Jôra — Secnôivanenkô nghiến răng nói.
Kôletnisuc bắn, viên đạn trúng đầu gối tên Đức. Một tiếng kêu tuyệt vọng rống lên. Bốn xác. Ba người và một chó sóng sượt trên mặt đất, vít lối đi lại. Những ngọn đuốc vẫn cháy, những giọt nhựa và tàn lửa bắn tung tóe. Chất nhựa bốc lửa, cháy bén vào quần áo của những thằng chết, tạo nên một cảnh tượng ghê rợn trên lối đi hẹp. Bọn Đức bắt đầu lùi lại. Nhưng đằng sau, một tiếng quát giận dữ nổi lên:
— Voi warts'[13]. Bọn Đức lôi các xác chết sang một bên và lấy giày ủng cố đạp những ngọn đuốc đi, chúng lại xông lên phía trước. Làn khói đặc sệt của chất nhựa hòa với khói thuốc súng, tạo lên trong làn không khí ngột ngạt một đám mây mù nặng trĩu lơ lửng trong đường hầm.
—Feuer! — vẫn cái giọng giận dữ ấy quát lên.
Tiểu liên nổ rào rào. Những viên đạn bay vun vút trong bóng tối của lối đi hẹp, khiến mảnh đá vụn phủ đầy cả lên người Secnôivanenkô và Kôletnisuc. Lại có những ngọn đuốc khác, những cái mũ khác và những thân hình lom khom khác xuất hiện.
—Zum Teufel! Vonvarts! Thằng Nga, hàng đi!
— Còn lâu! — Secnôivanenkô vừa nói vừa thỏ bằng mũi. — Bắn đi!
Kôletnisuc bắn một phát vào những ngọn lửa đuốc đang bốc khói nghi ngút trên mặt đất, vào cái đống lính chồng chất lên nhau trong lối đi. Lúc ấy, không biết ai đã giật sợi dây, thế là mấy quả mìn thức dậy. Các bức tường chuyển động, không khí rung lên, các vòm trần từ từ up xuống đè bẹp gí bọn Đức với tất cả khối nặng của nó.
Một cảnh đen tối hoàn toàn im lặng chết chóc chiếm lĩnh căn hầm. Chỉ còn nghe tiếng đất sụt xuống rào rào và những mảng tường trượt theo thành hầm.
Kôletnisuc và Secnôivanenkô bị đất phủ kín đến nửa người, choáng váng vì tiếng nổ, họ lặng im một lúc lâu trong bóng đêm đen của hầm mộ.
— Secnôivanenkô, anh ở đâu thế? — Cuối cùng cái giọng khàn khàn của Kôletnisuc cất lên.
— Đây — Secnôivanenkô trả lời cũng giọng ấy.
— Còn sống chứ?
— Cho đến bây giờ thì vẫn sống. Thế anh?
— Mình đang tắm nắng đây — Kôletnisuc nói sau một lúc im lặng, ông vừa thở hổn hển vừa khạc một mồm bụi ra.
— Có đèn đấy không?
— Có.
— Vỡ rồi chứ?
— Có lẽ không vỡ.
— Châm lên.
— Tôi không có diêm. Thế anh?
— Mình có bật lửa.
— Bật lên thôi!
Secnôivanenkô hổn hển nhoai ra khỏi đám đất sụt, bật lửa lên. Đó là cái bật lửa quý hóa mà ông nhận được từ tay Xiniskin Jêleznư. Trước khi chết ít lâu, Xiniskin đã tự tay làm chiếc bật lửa này, trong lúc bác không cử động gì được nữa và buộc phâi nằm suốt ngày đêm trên tấm phản đá. Hai bàn tay to lớn và đen của bác không thể nào để yên được. Chúng đã biến cái vỏ đạn đồng của một khẩu tiểu cao thành một cái bật lửa lớn chứa được ba trăm gam ét-xăng, có thể dùng làm đèn nữa, tuy thô sơ nhưng rất cần thiết trong hầm mộ.
Secnôivanenkô bật lửa lên và nhìn chung quanh, qua ngọn lửa đầy khói của chiếc bật lửa. Từ phía bọn Đức tấn công vào đường hầm được một bức tường kín chắn lại do nóc hầm đổ ụp xuống tạo nên. Trước đó có một lối vào, những bây giờ chỉ là một con đường tắc nghẽn. Không một dấu vết của con người, đất đã nuốt chửng cả tiểu đoàn Đức cùng với lũ chó, với những ngọn đuốc, những chiếc mũ và những khẩu tiểu liên. Bất thình lình Secnôivanenkô nhìn lên và lui lại, một tảng đá lủng lẳng ngay trên đầu. Nó trườn từ từ, rõ ràng sắp sửa ụp xuống. Họ vừa né ra là tảng đá rạn ngay và rơi đúng chỗ họ đứng. Đất chung quanh họ rên rỉ ầm ì và một đám bụi khô tràn ngập con đường hầm.
— A ha! Chơi được đây! — Kôletnisuc nói.
Luồng gió ập đến làm tắt lửa, Secnôivanenkô lại bật lửa và cẩn thận nhìn lên. Nhưng cái vòm thấp của đường hầm tì vững trên những bức tường đá vôi. Họ ở vào thế rất an toàn. Tất cả đã xảy ra nhanh đến nỗi lúc đó Kôletnisuc và Secnôivanenkô mới chỉ bắt đầu phán đoán tình hình thôi. Secnôivanenkô đã đánh mất kính trong lúc hầm sụt. Ông cố tìm nhưng chỉ thấy cái gọng gẫy và không còn mắt kính, ông mân mê cái gọng rồi tiếc rẻ nhét vào túi. Ông lấy tay áo chùi đôi mắt đỏ ngầu rồi bất chợt mỉm cười có vẻ nghịch ngợm, nháy mắt như một chú bé với Kôletnisuc.
— Thế nào, Jôra, vừa ý chứ?
— Cái cảnh tượng này đặc sắc đấy — Kôletnisuc vừa nói vừa giũ những cục đất và những mảnh đá vôi ra khỏi cổ áo.
— Đặc sắc, và nhất là có ý nghĩa — Secnôivanenkô trả lời. Đất xô-viết biết cách xử sự đối với bọn xâm lược lắm!
Họ quay về cơ quan chỉ huy được nửa đường thì thình lình trông thấy Pêchya chạy lại phía họ. Pêchya vung vẩy cây đèn nhiều lần, ấp một chiếc khăn lên mặt và hét to, giọng ngạt thở:
— Hơi độc!
— Hơi độc ở đâu?
— Chúng nó thả hơi độc! Trong lúc bất ngờ, thả khí phôxgien xuống cái giếng ở Uxatôvô. Bố cháu nhận ra. Bố cháu bảo là khí phôxgien. Các bác đeo mặt nạ vào đi! ở cơ quan chỉ huy, Batsây và Ximban, đeo mặt nạ, tay xách đòn và những hòm thuốc nổ, định đi đến cái giếng mà quân Đức đã thả hơi độc xuống. Ở đó, may sao, đường hầm rất sâu, mà khí phôxgien lại nặng bằng nước nên chưa lan tràn vào các hành lang và “góc đỏ”. Nhưng khi giếng đầy thì khí phôxgien sẽ tràn vào các đường hầm và sẽ giết chết tất cả mọi sinh vật; những mặt nạ phòng độc từ lâu chưa được kiểm tra sẽ không có tác dụng gì.
Piôt Vaxiliêvich đã từng biết những trận tấn công bằng hơi ngạt trong trận đại chiến trước nên hiểu rõ mối nguy hiểm hơn những người khác. Bằng bất kỳ giá nào cùng phải chặn hơi ngạt không cho vào trong hầm mộ. Chỉ còn một cách duy nhất là làm nổ tung cái giếng và lấp kín nó đi. Piôt Vaxiliêvich đeo mặt nạ ra đi cùng với Ximban để phá giếng. Họ đã mang theo số thuốc nổ còn lại. Cả đội thế là hết thuốc nổ. Đó là số dự trữ cuối cùng của họ.
Đầu tiên, hai người không khám phá ra chút vết tích gì của hơi độc trong hành lang. Nhưng khi họ định tháo mặt nạ ra để thở thoải mái hơn thì Batsây ngửi thấy ngay cái mùi rau thối, tuy rất nhẹ nhưng dễ nhận. Cái mùi mà ông phân biệt được ngay giữa hàng nghìn mùi khác sực lên. Một mùi tỏi khủng khiếp choáng váng đầu óc và buồn nôn.
Batsây và Liônya suýt mửa. Họ lại đeo mặt nạ vào. Dưới chân có cái gì trăng trắng đang chảy, như sữa đổ, ngập đến mắt cá chân. Đó chính là khí phôxgien đã ngập đầy giếng và đang từ từ tràn vào các hành lang.
Họ phải hành động gấp. Họ thở khó khăn trong mặt nạ. Hơi thở khò khè. Mồ hôi nhễ nhại trên đầu, dưới lần cao su sít sao và nóng rực. Chẳng mấy chốc cái khối trắng bầy nhầy như sữa ấy lên đến đầu gối họ. Phía trước mặt, dưới ánh đèn bão yếu ớt, họ nhìn thấy một bức tường, mây mù rung rinh.
Cái mùi kinh khủng của khí phôxgien càng ngửi thấy rõ qua cả lần mặt nạ. Mỗi lúc một khó thở hơn. Cơn ho xé ngực, thái dương đập mạnh. Ximban dừng lại và ôm đầu như muốn giật cái mặt nạ ra. Piôt Vaxiliêvich kịp thời giữ được tay anh. Họ lại tiến lên, đi vào trong màn sương mù độc hại đang vây bọc họ. Cuối cùng họ đến được giếng và hết sức khẩn trương đặt mìn, nối mìn vào một sợi dây. Họ lùi lại đằng sau một quãng bằng chiều dài sợi dây, nằm xuống mặt đất nhiễm độc và giật mìn. Những tảng đất lấp đầy giếng. Hơi độc ngừng chảy, Nhưng trong đường hầm vẫn còn hơi độc.
Theo ánh sáng của một cái đèn bấm nhỏ, họ vẩt vả lắm mới ra khỏi khoảng nhiễm độc và trở về cơ quan chỉ huy. Về đến nơi, họ giật mặt nạ ra, nằm vật xuống đẩt, hai tay dang ra, kiệt sức. Mặt họ đầy một lớp mồ hôi nhơm nhớp và giá ngắt. Một cơn ho làm kiệt sức xé phổi họ. Mắt họ viền một lớp quầng xanh. Từ đôi môi đen xạm sùi ra một lớp dãi màu hồng.
Những chiếc mặt nạ cũ kỹ, từ lâu chưa được kiểm tra, không bảo vệ được họ hoàn toàn, chống lại khí phôxgien chui vào đường hô hấp, nhưng dù sao cũng đã cứu sống họ. Dần dần hai người hồi lại, thở hít ngốn ngấu cái không khí vẩn đục của hầm ngầm mà lúc này dường như trong lành hơn cả khí ôxy nguyên chất.
Pêchya ngồi sẵn trước mặt bố, lau trán cho bố bằng một mảnh vải ẩm. Chú kinh hãi nhìn bộ mặt kiệt sức, gần như hóa đá của bố.
— Bố ơi, bố ơi — Chú lắp bắp, mắt nhòa lệ, chú lay đôi vai của Piôt Vaxiliêvich. — Bố ơi, đừng... Bố ơi, bố làm sao thế? Bố thở đi nào... — Chú tưởng bố chú sắp chết.
Secnôivanenkô tìm được chai rượu và bắt họ uống một phần tư cốc. Họ tỉnh lại và Batsây phải cố gượng lắm mới đứng dậy được.
— Ổn rồi — Ông vừa nói vừa mỉm cười yếu ớt. Liônya Ximban mở mắt ra nhưng không ngồi dậy, anh nhìn Secnôivanenkô với vẻ mặt cực kỳ đau đớn, nhưng Secnôivanenkô nhận thấy trong đôi mắt của anh những ánh nghịch ngợm.
— Dậy đi thôi — Ông nói rất thản nhiên — Cậu không được thêm nữa đâu.
— Tôi không sao dậy được — Ximban trả lời thảm hại — Cho tôi uống thêm cái thuốc vừa rồi đi. Thuốc quý thật.
Secnôivanenkô giơ ngón tay nghiêm khắc dọa anh rồi suy nghĩ một chút, lại cho anh uống thêm một phần tư cốc nữa,
— Thuốc thế là đủ. Phòng bào chế đóng cửa để sửa chữa — Ông vừa làu bàu vừa nút chai lại.
Liônya vừa uống vừa thở hổn hển rồi đứng dậy.
— Nào, bây giờ ta lại bắt tay vào việc! — Anh nói.