Họ ở lại nhà Secbasenkôp suốt ngày hôm ấy cho đến khi trời tối. Họ ăn hai bữa với chủ nhà. Giữa họ và chú nhà có một lối xử sự đến lạ, đầy ý tứ và bóng gió. Thoạt đầu, Secnôivanenkô cố giữ cái giọng chuyện trò năm ngoái. Nhiều lần ông thử hướng câu chuyện đến việc cái hầm. Nhưng chị con gái cứ lờ đi, lơ đãng xua tay.
— Chậc, hầm hiếc gì nữa! Bây giờ thì còn ai cần đến hầm.
Đôi lúc chị nhìn Secnôivanenkô với một vẻ bí mật, dường như chị biết chuyện gì đó, nhưng không dám nói. Có lần chị còn hơi mím miệng cười, một cái cười không lấy gì làm vui, có phần lo âu là khác, nhưng chị lại nén lại ngay. Chị tiếp chuyện, hỏi thăm tình hình trên tỉnh, hoặc chính chị bắt đầu kể, làm như vui chuyện nói chơi, những tin tức này nọ trong làng, những tin mà Secnôivanenkô và Batsây thấy toàn là tin quan trọng cả. Chị kể chơi rằng ba hôm trước, đại đội quân Rumani đã rời khỏi làng và bây giờ, nhờ trời, trong làng không còn lính tráng gì nữa. Chị cũng kể rằng mười lăm hôm trước một đoàn dài xe ca-mi-ông Đức đã qua đây và những thằng lính đến lĩnh xăng ở Khôlôtnaia Banka bảo là chúng bị ném vào Xtalingrat, “cái “Sưtalingrat chết tiệt”, bọn Đức chúng nó nói thế, rằng chúng bây giờ không còn như hồi mùa xuân khi chúng được đưa tới Xêvaxtôpôn nữa. Hồi đó, chúng nghênh ngang coi hạ mục vô nhân, vào nhà, đòi sữa, đòi trứng, trưng thu lợn gà, đi hàng tư ngoài phố, thổi kèn ac-mô-ni-ca và mồm thì la hét. “Xô-viết, kaputt: Bônsêvich, kaputt!” Còn bây giờ, trong khi cho xe ăn xăng, chúng cứ ngồi tịt trong xe, xem chừng hấp tấp vội vã, mặt khó đăm đăm, cau có lắm, cái mũ thì thục sâu tùm hụp xuống tận mắt “trông như cái nồi úp“. Khi đoàn xe lên đường, chúng khoa súng lên trời, hò hét. “Sưtalingrat! Sưtalingrat!” Trông biết ngay là chúng chả muốn đi tý nào, nhưng lại cứ làm ra vẻ hung hăng. Hai thằng Đức trẻ măng đã tụt lại, trốn rúc trong đống rơm ở sân nhà cộng đồng. (Bây giờ, nông trường chúng tôi, chúng nó gọi như thế, một cộng đồng, người thiếu phụ nhún vai nói vẻ khinh bỉ), rồi chúng mò vào các nhà hỏi xin bất cứ thứ quần áo gì cũng được để cải trang làm dân, nhưng bọn cảnh vệ chiến đấu đã bắt được chúng và đem bắn tại chỗ, ngay ở đây, trong sân nhà cộng đồng, “xác chúng nó vẫn còn vùi sau sân phơi.”
— Thế tình hình Xtalingrat thế nào, các ông cho chúng tôi hay với chứ? Liệu rồi ta có để cho chúng qua sông Vônga không?
— Biết thế nào mà nói... — Secnôivanenkô thận trọng nói — Hình như không có lệnh rút lui. Trái lại, có lẽ ta sẽ tiêu diệt chúng hết.
— Thấy nói ở Khôlôtnaia Banka chúng tôi đây, có một người ở đâu đến... mới mấy hôm nay...
Chị ta nhìn xuống, nghĩ ngợi một lát, rồi không nói gì thêm nữa, chỉ đan ngón tay vào nhau, bẻ đốt kêu răng rắc. Đôi lúc, chị đưa mắt e dè nhìn Piôt Vaxiliêvich. Lúc ấy, Secnôivanenkô chỉ hơi nhếch mép cười nụ, nhưng không nhìn thẳng vào mắt chị. Chị không biết nghĩ thế nào về cái người chẳng có vẻ gì là phó nề như Secnôivanenkô đã giới thiệu Batsây và chị lại nói những chuyện vu vơ. Còn bà lão thì cứ như giả câm giả điếc: chẳng nghe và cũng chẳng nói gì cả; cụ chỉ đi đi lại lại lặng lẽ trong nhà, vần những nồi lớn bằng một cái chạc, và ném vào lò những nắm rơm thơm phức hoặc những hột ngô khô nổ lép bép nghe như súng bắn. Cụ luôn luôn nhìn ra dường, bước ra hiên và đứng hồi lâu bên cửa như nghe ngóng gì đó, rồi thở dài và lại tiếp tục khua cái chạc vần nồi, mà cái bóng đen cứ nhảy nhót như một con quỷ trong căn nhà rực hồng ánh lửa rơm.
Ngày đông u ám kéo dài lê thê và họ vẫn ngồi mãi bên bàn. Hoàn cảnh họ thật éo le. Nói cho đúng thì họ đang trốn tránh. Nhưng chủ nhà xử sự một cách ý tứ tế nhị, làm như không phải họ đang đi trốn, mà là tới thăm mình. Họ đã sưởi ấm lại người và ăn bữa sáng với thịt mỡ và cà chua hộp. Người họ nóng bức, mắt chỉ muốn nhắm lại.
— Có lẽ các ông đi nghỉ một tí đi cho đỡ mệt? — Người thiếu phụ hỏi,
Chị đưa hai người vào gian thờ bỏ không, không ai ở, trong một phòng lớn có bếp lò còn sang trọng hơn, và nền nhà trát vữa trải một đường thảm len do nhà dệt lấy. Chị nhìn Secnôivanenkô với một vẻ hàm ý và nói.
— Ở đây thì không sợ ai quấy rầy, các ông có thể cởi giày ra, và cứ tự nhiên.
Chị ôm vào một cái mền lông cừu to, một cái gối có áo vải hoa và xếp cho họ nằm trên bếp lò, sau khi đã nhấc ra hai cái đĩa sơn to, một đầy hạt anh túc, một đầy mật ong. Buồng này lạnh, tĩnh mịch, ngửi có mùi khổ ngải khô, bên trên các khung cửa sổ, treo lủng lẳng những bó anh túc; trên tường la liệt những ảnh chụp lồng trong những khung lớn khảm xà cừ.
— Trước, gia đình chúng tôi như thế này đây, — Natalya hất hàm chỉ các tấm ảnh — Các ông xem chơi. Có lẽ cũng hay đấy?
Đó là những bức ảnh phóng đại, nước ảnh rất đẹp do một tay lành nghề chụp, chắc hẳn là một phóng viên nhiếp ảnh. Trên một bức, Secnôivanenkô nhìn thấy một máy sàng trông như một cái dương cầm quay tay và phía trước máy một đống thóc khổng lồ nhấp nhô như một dãy núi. Bốn cô, váy xắn cao, khăn đăng-ten trắng sụp xuống tận mắt, đang đứng trên đống thóc, ngập tới đầu gối, tay cầm xẻng gỗ, mắt hấp háy dưới trời nắng. Phía sau, một cái cân với hai bao đầy và một chàng thanh niên cao lớn, mặt sạm nắng lún phún ria, mặc áo vét-tông và đội mũ cát-két vải trắng; anh ta cũng hấp háy mắt như mây cô kia và mỉm cười dưới ánh nắng mai gay gắt.
— Tôi đây — Natalya nói, tay trỏ vào một trong mấy cô nông dân — Các cô kia là chị em trong đội sản xuất, còn cái anh đứng bên cạnh cái cân là nhà tôi, đội trưởng đội chúng tôi, Tarax Secbasenkôp. Các ông thấy không? — Mặt chị ta thoảng một nét buồn — Không biết giờ này nhà tôi ở đâu? Có khi đã qua đời từ bao giờ rồi... Và đây, cái ảnh này — chị hoạt bát lên, nói tiếp — là nông trường chúng tôi, nông trường đã giao lúa cho nhà nước sớm nhất huyện.
Trên tấm ảnh, người ta nhìn thấy bức tường vựa thóc, vài chiếc xe tải có băng khẩu hiệu và một đống bao bì, trên đó vẫn mấy cô gái kia ngồi. Trong khung cửa buồng lái chiếc xe tải, vẫn cái anh chàng trai trẻ có bộ mặt sạm nắng và bộ ria đen kia.
— Đây cũng lại tôi, và anh ấy... Và đây là đám cưới chúng tôi... — Chị vừa nói vừa lướt nhanh sang một bức ảnh khác, bức to nhất.
Một chiếc bàn rất dài kê dưới một gốc mận và trên mặt bàn nào đĩa, nào bình, vò sữa, chai lọ, cốc, tách. Giữa bàn, một đống nho chất cao như núi và một quả dưa hấu to tướng có một con dao cắm phập vào giữa. Ngồi quanh bàn, trên những chiếc ghế tựa, ghế dài và ghế đẩu có chừng non hai mươi nhăm người trông rõ ràng là vừa qua một chầu rượu; những chàng phù rể trên vai vắt những chiếc khăn thêu dài, những cô gái áo tơ nhân tạo mới tinh, tóc cài hoa, những ông già mặc áo sơ-mi thêu, đội mũ rơm to tướng, và phía sau có mấy cặp đang nhảy. Dưới đất, một chiếc máy hát mở nắp và vài đĩa hát, một chiếc xe đạp mới tinh, nan hoa sáng loáng dưới ánh nắng mặt trời. Và trong cái nhộn nhịp ghi lại trên tấm ảnh, dưới bóng những cành mận, hai cô cậu ngồi nép vào nhau, chú rể mặc vét-tông đen điểm tấm Huân chương Lênin, cô dâu mặc áo lụa bó sát người, vai quàng khăn san sặc sỡ, tóc cài một bông thược dược và một vẻ hạnh phúc nở trên khuôn mặt lặng quay về phía “chàng”.
— Hai vợ chồng Tarax chúng tôi đấy... — Natalya dịu dàng nói, và bỗng dưng nước mắt trào xuống đôi má gầy guộc hẳn những vết nhăn chua xót ở hai bên mép.
Chị lấy góc khăn chùi nước mắt. Giản dị và tin cậy, chị ngước đôi mắt ướt nhìn thẳng vào mặt Secnôivanenkô — Xưa kia chúng tôi sống như thế đấy! Vậy các bác thử xem, cái quân chó má ấy, nó làm cho gia đình chúng tôi tan nát như thế nào! Ấy chết, xin lỗi, tôi đã quá lời... — Chị nói thêm — Các bác bỏ quá cho, các bác ngả lưng một tý, nghỉ đi. Trông rõ ràng là các bác mệt phờ phạc cả rồi. Cứ ngủ bình tĩnh. Tôi sẽ khóa trái cửa. Chả có ai ra vào đây đâu. Hai mẹ con tôi sẽ gác bên ngoài.