Đúng như tính khí của mình, Liônya Ximban luôn luôn hành động tùy hứng, không có kế hoạch nghiên cứu trước.
— Này, domnul, xin lỗi ông — anh nói, đủng đỉnh lại gần tên cai thầu vận tải đang theo dõi bằng con mắt xoi mói công việc bốc dỡ đường ray tàu điện và đà gỗ chuyển bằng ô-tô từ thành phố ra cảng.
Đây là một nhân vật rất nhếch nhác, đội mũ cát-két đại úy, bẹp dúm như một cái bánh kẹp, râu rối bù, một cái kính kẹp mũi khập khiễng cũ trên một cái mũi ướt, đôi giày trắng thấm mồ hôi, chắc chắn là một người Ôđetxa, thậm chí có thể là một tên địa chủ, sau Cách mạng đã chạy trốn sang Betxarabi và bây giờ, với tư cách là người am hiểu đời sống Nga, đã xin được một chỗ làm nhỏ ở ngành khai thác cảng Ôđetxa trong chính quyền Trannixtri. Trên bộ mặt già bủng beo, lòng căm hờn vì bị khinh miệt từ hơn hai mươi lăm năm nay, đã khắc thành những nét sâu. Ximban đến cạnh hắn. Bất chợt thấy trước mặt mình một cái áo lót thủy thủ, hai cánh tay cuồn cuộn bắp thịt, một gương mặt mồ hôi bóng loáng, tên cai lùi lại, lấy tay che mặt như sợ bị tát. Nhưng hắn nhớ ra người đi tới là anh công nhân bốc vác Kukharenkô. Đó là tên của Ximban lúc xin vào làm việc. Tên cai lại bình thản như cũ và làm bộ sửa cái kính kẹp mũi, chằm chằm nhìn người thủy thủ có vẻ dò hỏi.
— Tôi có một điều muốn nói với ông — Ximban nói, có vẻ bí mật. Rồi, với một thái độ nhanh nhẹn, lễ phép, anh nằm lấy cùi tay tên cai vận tài và, thận trọng, không buông tha, lôi hắn ra sau nhà kho. Như thế có thể coi như quá sỗ sàng đối với một người công nhân bốc vác trước mặt người cai. Nhưng đó lại là thói thường trong cảng từ ngày tạm chiếm. Hơn nữa, Ximban, thực ra, không phải chỉ là một công nhân bốc vác đơn thuần: anh đã gây được uy tín, tỏ ra hơn hẳn một công nhân bốc vác khác thường, tự tạo cho mình cái tiếng là một người nhiều sáng kiến và được chính quyền Rumani che chở. Vừa đặt chân tới đất cảng, anh đã thấy mọi công việc đều do những công nhân cơ hội đảm nhiệm; họ là những người bị bắt buộc, không có kinh nghiệm, một số bị cảnh sát động viên, một số phải kiếm việc làm công nhân phụ để khỏi chết đói, cũng có một số là tù binh, thân hình tiều tụy vì bị đói thường xuyên, đau ốm, rách rưới, mất sức, không thể nào làm được việc, chỉ biết sắp hàng, đi đi lại lại, với một hai tên lính Rumani áp giải, mặt đen thui, râu không cạo, đồng phục lôi thôi lếch thếch. Không có một tổ chức nào chủ trì công việc ở cảng, mặc dù tất cả mọi người lao động đã được phân chia thành từng ac-ten.
Các ac-ten này lại thường chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, từ cai này sang cai khác. Mà cai thì rất đông. Có ban giám đốc cảng và ngành khai thác, phái viên quân đội Rumani về vận tải, đại diện bộ chỉ huy quân Đức, bọn đại lý các hãng buôn và kỹ nghệ, bọn đại diện các nhà máy, xí nghiệp với vô số những người được ủy nhiệm và công chức Nhà nước. Tất cả đám đông này đều quan tâm đến việc vận chuyển thật nhanh các tài sản xô-viết cướp được. Ngoài ra còn có “bộ phận lặn” lo việc vớt các loại tàu bè, ô-tô, đồ đạc giá trị, đủ mọi thứ bị đánh đắm trong thời kỳ tản cư. Tất cả các thứ tạp nham kéo từ đáy biển lên này được đem bán ngay tại chỗ cho những bọn ưa ăn xổi, từng đoàn từng lũ từ Rumani kéo sang như châu chấu và vội vã lên tàu biển và xe lửa. Do hầu hết máy móc ở cảng đều bị đứng và công việc lại tiến hành theo lối tiền sử, bằng tay, nên yêu cầu về lao động, đặc biệt là công nhân bốc vác lành nghề, rất lớn. Loại công nhân này được người ta giành giật nhau trên các công trường, hoặc đổi chác, buôn đi bán lại trao tay nhau.
Các ac-ten công nhân bốc vác là đối tượng tranh chấp giữa các bộ, các sở, các giám đốc và một số tư nhân vận tải đầu cơ. Bởi vậy tình trạng hối lộ rất thịnh hành. Tất cả cái đó hoàn toàn xa lạ với công việc của một hải cảng lớn, như cảng Ôđetxa, hay đúng hơn nó giống như một cái chợ giời kỳ lạ. Lêônit Ximban biết ngay là có thể lợi dụng những điều kiện đó để tiến hành có kết quả các mục tiêu chiến đấu mà Xtrenbixki đã chỉ thị cho anh.
Ximban quyết định phải mạnh dạn và tỏ ra mình là một công nhân bốc vác kinh nghiệm và có tài. Điều này không có gì khó đối với anh. Thiên nhiên không hề mặc cả với anh về thể chất và sức mạnh. Anh vác trên lưng những cái thùng nặng tám pút không biết mệt; cùng với Xviriđôp và Tulyakôp, anh tì đầu và hai tay vào thành xe, đầy cả những toa hàng, anh dùng đòn bẩy lật rất dễ dàng những kiện hàng và thùng gỗ to tướng. Hơn nữa, tất cả những việc đó, anh làm nhanh chóng, vui vẻ, mặt nhễ nhại mồ hôi, luôn mồm pha trò, nhiều khi rất hóm hỉnh. Anh khác hẳn mọi công nhân bốc vác khác, chậm chạp, yếu ớt và ỉu xìu, nên được người ta chú ý đến ngay.
Ban chỉ huy cảng không những đối xử tốt với Ximban mà còn tìm cách tranh thủ anh vì đến một mức nào đó, anh còn là một nguồn lợi bổ sung cho chúng nữa: nhờ anh, bọn chúng thường nhận được tiền hối lộ của cánh vận tải vì đã chia cho họ cái ac-ten có khả năng, chăm chỉ, mà trong đó, ngoài bản thân Ximban ra còn có cả Tulyakôp và Xviriđôp, cũng là những người rất khỏe và nhiệt tình.
Ximban — Kukharenkô đã nhanh chóng trở thành đại biểu và dần dần đã chuyển từ các ac-ten khác về ac-ten mình những công nhân bốc vác đã được Secnôivanenkô tổ chức, Trong việc này, anh được sự giúp đỡ có hiệu quả của chị thư ký đánh máy của ban giám đốc cảng là Marya Trôfinôva Xayitxkaia, người đã già, không nổi bật lắm, nhưng đặc biệt có khả năng làm việc không biết mệt. Chị đánh máy danh sách các ac-ten lao động ở cảng, và không để ai để ý, đã thay đổi tên những công nhân bốc vác theo lệnh của Xtrenbixki. Bằng cách ấy, ac-ten của Ximban gồm phần lớn là những người của mình.
Tiếp tục phát triển khéo léo “sáng kiến cá nhân”, Lêônit Ximban đã tổ chức được ac-ten của mình theo đúng luật lệ ban hành trước Cách mạng. Anh đã tuyển cả một chị cấp dưỡng cho ac-ten. Chân cấp dưỡng này của ac-ten, với sự giúp đỡ của Xayitxkaia, đã được ủy thác cho Liđya Ivanôpna, đến nay vẫn làm việc quét dọn trong cảng. Chị có quyền tự do đi ra thành phố đi chợ, nên rất dễ liên lạc với hầm mộ.
Đồng thời, Ximban cũng đã lợi dụng mọi hoàn cảnh thuận lợi để “làm cho kẻ địch mất ăn mất ngủ”. Không bao giờ anh quên mục đích chủ yếu đó của đời anh.
Được tiếng là một người có “sáng kiến cá nhân”, trung thành với chính quyền chiếm đóng, Lêônit Ximban, và cả những công nhân bốc vác khác theo gương anh, có thể đi lại tương đối tự do trên bến cảng, trên các đường sắt, giữa các đoàn tàu đã lập thành. Nhờ vậy họ có khả năng, mỗi khi gặp cơ hội thuận tiện, phá hoại các phương tiện vận tải. Họ rắc những chông sắt không ai trông thấy được, cắt gẫy tay phanh trên các đoàn tàu hàng, đục lỗ trên sàn toa cho thóc vãi từ từ dọc đường. Họ rải và dán lên tường kho những bản thông cáo của Thông tấn xã xô-viết và những truyền đơn gửi cho những người làm việc ở cảng mà Liđya Ivanôpna đã mang từ hầm mộ về, xếp trong một cái thúng dưới những bao bột và cà chua.
Người ta luôn luôn có thể trông thấy đây đó, trên bến cảng, một chiếc xe tải bị kích lên và một người lái xe bực dọc, đã ba lần trong ngày phải thay lốp vì bị một cái chông sắt không biết ở đâu ra đâm thủng. Người ta nghe thấy những tiếng gào thét của công nhân đường sắt phát hiện ra các tay phanh bị cắt đứt. Đôi khi, không có lý do gì rõ ràng cả, những đầu máy bị trật bánh làm cho sự đi lại trên đường sắt của cảng bị ngừng trệ hàng giờ. Các hộp trục xe rất hay bị cháy. Hàng hóa không đi tới nơi tiếp nhận, hết dỡ xuống lại xếp lên để sau đó lại dỡ xuống... Bọn nhân viên Xiguranta và Capitania không còn đủ sức vì phải chạy suốt ngày trên các ngả đường, phải khám xét hết các ngõ ngách trong khu cảng rộng lớn. Nhưng cũng phí công vô ích thôi. Chúng gặp phải những đối thủ dày kinh nghiệm và được tổ chức hết sức hoàn hảo.
Đồng thời, Lêônit Ximban “con người nhiều sáng kiến cá nhân” ấy, mắt luôn luôn sáng ngời phấn khởi vẫn cố tranh thủ cảm tình của chính quyền Rumani và gây uy tín. Thậm chí anh còn tổ chức được những buổi đọc tập thể các tờ báo địa phương Rumani phát hành bằng tiếng Nga. Bọn chức trách coi anh như một kẻ tuyên truyền không công cho “chế độ mới” ở “Trannixtri”. Nhưng công việc tuyên truyền của anh bao giờ cũng mang tính chất buôn lậu.
Liônya Ximban đọc thật hùng hồn các bản thông cáo chiến thắng của đại bản doanh Quốc trưởng, hét rất to, thể hiện rất tài tình bằng nét mặt tất cả cái ngu xuẩn kênh kiệu và sự dối trả vô liêm sĩ, làm cho các bản thông cáo Đức phản hẳn lại những lời tuyên bố chiến thắng của chúng mà không ai có thể nhận thấy. Đọc những bản tin nước ngoài, anh đã chọn hết sức khéo léo và đã nhấn mạnh chỉ bằng âm điệu vào những tin trong đó có những đoạn bất lợi cho nước Đức Hitle. Trong tờ báo địa phương, anh đọc chủ yếu những tin nói về hoạt động bí mật, về tòa án, về các vụ hành hình, các vụ phạt tiền và thuế má.
Đôi khi đang bình luận bài báo của một nhà lý luận chính trị nói về số lượng bọn bạch vệ lưu vong ở Ôđetxa, Liônya Ximban bỗng nhảy sang ca ngợi chủ nghĩa tư bản, giọng đầy tin tưởng, cảm động một cách giả dối, của một nhà thuyết pháp. Để minh họa ích lợi của quyền tư hữu, anh dẫn ra những ví dụ chứng minh ngược lại. Anh lúng túng, xấu hổ rồi thật bất ngờ lắp bắp đôi môi dày, kết thúc bài nói bằng những câu châm ngôn hai nghĩa: “Nói tóm lại, ta đừng nói tới chuyện đó nữa. Không thể nói vì không có gì để mà nói cả”. Thế là anh em công nhân bốc vác lăn ra cười và gãi nách.
Và đôi khi, nếu không có phần tử khả nghi, anh giơ tờ Mônua lên trước mặt rồi liều lĩnh phi thường, đọc to và rất nhanh các bản thông cáo của Thông tấn xã xô-viết mà Liđya Ivanôpna mang ở hầm mộ về, hay đọc thuộc lòng bản thông cáo số 55.
Sau khi đạn dược đã bốc dỡ xong, tàu Fecdinang được đưa tới bến đập chắn sóng Pôtapôpxki ở Cảng Bốn mươi để xếp lúa mì. Ac-ten của Ximban Kukharenkô chuẩn bị một hành động quan trọng. Cần làm thế nào để việc bốc xếp lên tàu Fecdinang được giao cho ac-ten của Ximban.