Cũng vào khoảng lúc ấy, cách năm cây số đường thảo nguyên, đội công binh của Xtrenbixki gồm sáu người, đã đổ ra đường sắt Ôđetxa-Razđenaia. Bão tuyết vẫn tiếp tục thổi mạnh. Những cơn lốc nhầy nhựa bùn bay trên thảo nguyên. Trời đen và đất đen, chưa kịp bị tuyết bay gấp phủ kín, hòa lẫn với nhau làm một. Cách hai mươi mét, khó mà trông thấy gì khác ngoài một đám mờ mờ, xám như bùn nhão. Ở vùng này, thảo nguyên bằng phẳng và nhẵn như một cái mặt bàn, với độc một dải dạ hợp lùn và thông non chắn gió. Đội của Xtrenbixki đã tới cái dải ấy và bố trí giữa những cành gai góc, trên những đám lá rụng, lắc rắc bông tuyết. Hai bọc thuốc nổ khá to, trên có ngụy trang khoai tây để phòng bất trắc, đặt bên một cột điện thoại. Gió rít rập rình trên dây thép và kêu vo vo trong thân cột, nghe ảm đạm, thê thảm và rợn nguời.
— Chà, cho mày cứ rít! — Tarax Xêrêđa, cây nhộn của đơn vị Tulyakôp, tay đêm giao thừa đã đánh đàn măng-đô-lin rất hay, nói — Cứ như chó sói sủa ấy.
— Đúng là điềm gở! — Một giọng khàn khàn từ trong bóng đêm đáp vọng lại.
— Rú lên, cứ rú lên đi..., chờ đấy ông cho biết tay.
— Vừa vừa cái mồm chứ! — Xtrenbixki nghiêm nghị nói, và quỳ xuống nghe ngóng tiếng dông tố gầm rú.
— Thèm thuốc quá! — Tarax Xêrêđa thì thào và thở dài.
— Không lâu nữa đâu, anh em ạ, sắp được hút rồi... — Cái giọng khàn khàn trong đêm tối đáp lại.
— Được biết trước sẽ diễn ra như thế nào thì cũng khoái đấy nhỉ.
— Cái mồm!
Im lặng trở lại. Phía bên kia đường sắt lóe lên ánh sáng một cây đèn bấm, và trong bụi tuyết, ba cái bóng thuôn thuôn theo nhau lướt nhanh. Chúng lướt qua và biến mất hút.
— Tuần tra!
Một lần nữa cây đèn bấm nhỏ lại khoa lên, nhưng đã xa và trông không rõ nữa.
— Chúng đi rồi.
Họ chờ một lát nữa.
Phương pháp mới phá hoại đường sắt trên một đoạn đài, do Đrujinin vạch ra, như sau: chuẩn bị sẵn từ trước những kíp điểm hỏa có ngòi cháy chậm dài từ hai mươi đến ba mươi phân, như thế thuốc sẽ nổ chậm từ hai mươi đến ba mươi phút. Một đội sáu người mang các bọc thuốc nổ đi dọc đường sắt. Họ chia làm hai tổ ba người, một tổ đi xuôi, một tổ đi ngược, chạy trên tà-vẹt. Trong mỗi tổ, hai người vừa chạy vừa đặt ở những quãng nối, cách một hoặc hai khúc đường sắt, một gói bốn lạng thuốc nổ, và người thứ ba, chạy sau ba mươi mét, tay cầm một nắm năm mươi đến bảy mươi kíp điểm hỏa, ngòi đã châm sẵn. Trong khi tiến, anh ta kiểm tra lại thuốc nổ và gài thêm vào một chiếc kíp. Như vậy, nửa giờ sau, nghĩa là khi mỗi tổ ba người đã chạy được khoảng bốn cây số, cộng lại là tám cây số đường sắt, thì ở đằng sau bắt đầu nổ những quả đầu tiên. Hai tổ chạy cho đến khi gài hết thuốc nổ, rồi mỗi tổ một đường, theo hướng đã định sẵn, bình yên rút sâu vào thảo nguyên, để lại phía sau họ mười cây số đường sắt bị phá hoại.
Cho tới lúc đó, người ta chưa bao giờ dùng phương pháp ấy và anh em công binh nóng lòng đợi đến lúc được bắt đầu công việc để xem nó ra sao. Cuối cùng, Xtrenbixki từ từ đứng dậy, và nói:
— Nào, anh em ta bắt đầu thôi!
To, cứng, cái lưng rộng khom khom, một tay giữ khẩu Môde đeo bên trong lần áo bông ngắn, tay kia gỡ những cành dạ hợp gai móc vào tay áo, anh nhảy ra khỏi lùm cây và bò về phía nền đường sắt. Anh em khác bắt đầu bò theo. Anh nhắc lại lần chót mệnh lệnh chiến đấu:
— Tổ thứ nhất: Xviriđôp, Xêrêđa, Rakitnikôp.
— Có! — Nhiều tiếng người đáp lại.
— Rakitnikôp mang bọc thuốc nổ. Xêrêđa gài thuốc nổ vào đường; theo sau, Xviriđôp mang kíp đi cách ba mươi mét. Tổ thứ hai: Đubôvôi Xtêpan mang bọc thuốc, Đubôvôi Payen gài; theo sau là tôi, cũng khoảng cách ấy, ba mươi mét. Xviriđôp cùng với tổ, đi sang trái. Tôi và tổ tôi, sang phải. Bắt đầu, khẩn trương lên, không được chậm trễ; đặt thuốc cho khéo, cẩn thận, chắc chắn; giữa các khoảng cách thì chạy; càng nhanh càng tốt.
Xtrenbixki mau lẹ rút ở trong bọc ra hai nắm kíp đã chuẩn bị sẵn và giao một cho Xviriđôp.
— Này, cầm lấy, Trifôn Zakharovich! Và ủng hộ anh em một tý, cho xin tý lửa.
Ngồi quay lưng ra gió, Xêrêđa bật lửa và đặt đầu thổi phù phù vào một cuộn bùi nhùi. Một làn khói trắng tỏa ra, rồi bùi nhùi bắt lửa. Một mùi khét bốc lên. Xtrenbixki cầm lấy bùi nhùi, và bắt đầu đưa cái đầu cháy quét lên ngòi kíp, vội vàng, và cố để châm được thật nhiều ngòi một lúc. Muốn thế anh thổi và những tia lửa lép bép bắn ra tứ phía.
— Nào, bây giờ nhân danh Cha và Con và Thánh thần, tiến lên, anh em! Hoàn thành nhiệm vụ!
... Xviriđôp chạy trên tà-vẹt, tay trái ôm vào ngực một túm kíp. Ba mươi mét đằng trước, Tarax Xêrêđa mang bọc thuốc và Rakitnikôp chạy, trông lờ mờ không rõ trong làn khói bão tuyết mờ đục. Chốc chốc họ lại dừng lại, ngồi thụp xuống, rút mau trong túi ra một gói thuốc nổ, đặt xuống dưới chỗ nối, rồi lại chạy xa hơn. Chạy tới chỗ đặt thuốc, Xviriđôp rút trong túm kíp ra một chiếc với cái ngòi chỉ cháy leo lét, đưa bàn tay giá buốt đặt nó xuống dưới chỗ nối, vào cái lỗ để thuốc nổ, kiểm tra lại xem gói thuốc có gài đúng dưới đoạn nối hay không, rồi lại ba chân bốn cẳng chạy xa hơn. Chạy trên tà-vẹt thật khó, vì khoảng cách giữa hai tà-vẹt chẳng thích hợp tý nào với chiều dài bước chân: bước từng tà-vẹt một thì ngắn quá, bước hai tà-vẹt một lại dài quá. Luôn luôn chân cứ trượt ra khỏi thanh tà-vẹt trơn nhẫy và vấp vào những hòn đá rải đường băng giá còn trơn hơn cả tà-vẹt.
Xviriđôp bắt đầu thấy bức, mồ hôi toát ra, nhưng gió lạnh buốt quất vào mặt, làm anh tắc thở và tức ngực. Xviriđôp vừa chạy vừa ho sù sụ không dứt, và thở rất khó khăn. Toàn bộ tâm lực của anh căng đến tột độ. Anh không nghe, không nhìn thấy gì quanh mình, ngoài tiếng gió rít và hai bóng người phía trước. Nhưng, sự thực, anh vẫn chạy ba chân bốn cẳng, một tay ôm vào ngực bọc kíp mìn, tay kia rút ra để gài thật nhanh vào gói thuốc nổ. Anh đã mất hết cảm giác về thời gian, chỉ tính theo số lượng kíp nổ còn lại trong bọc. Nhiều lần trượt chân trên chiếc tà-vẹt đóng băng, anh ngã sóng soài. Một lần anh bập vào đường ray, đau xuýt ngất đi. Nhưng ngay cả khi ngã, anh vẫn ôm khư khư đống kíp nổ với toàn lực của mình. Máu từ đôi môi hé chảy ra, anh cứ đưa lưỡi khô khốc liếm như một cái máy, nhưng không thấy đau nữa. Anh cứ chạy, như mê man và chỉ tỉnh lại khi nhìn thấy trên đường sắt cái bọc rỗng. Đến lúc ấy, anh mới thấy mình còn bốn cái kíp. Anh đặt một cái vào gói thuốc cuối cùng. Còn ba cái, anh quẳng đi trước khi rút khỏi đường sắt.
Cùng lúc đó, nghe thấy xa xa đâu đó tiếng nổ của gói thuốc nổ đầu tiên, rồi tiếng thứ hai, thứ ba... Các tiếng nổ liên tiếp nối nhau. Có những tiếng như xa ra, có tiếng như gần lại. Cuối cùng, chúng hòa thành một tiếng sấm rền đinh tai váng óc, và dưới ánh lửa bốc rực lên, Xviriđôp trông thấy con đường sắt dài như quằn quại trên suốt chiều dài của nó với những khúc đường sắt đứt dựng lên cong veo, và những thanh tà-vẹt đóng băng, trông như những phím đàn dương cầm, bị bật ra khỏi đường trên một quãng dài nhiều cây số. Xviriđôp nhảy vào một cái hố. Gần đó, gói thuốc cuối cùng nổ tung, và một khúc ray rít lên bay lộn qua đầu Xviridôp. Rồi một cảnh im lặng kỳ dị. Và lúc ấy, xa xa đâu đó, về phía đông bắc, giữa những cơn lốc tuyết trắng, nhóm lên một ảnh lửa như đám cháy. Xviriđôp chắc đó lá những quả mìn do Đrujinin gài dưới đoàn tàu quân sự Đức ở quãng cây số mười bốn, đường Ôđetxa-Bakhmat, đã hoàn thành nhiệm vụ.