Kôletnisuc được phân công đi thăm dò lối ra thảo nguyên. Một giờ rưỡi sau trở về, ông báo cáo lối ra ấy đã bị lấp đá và đổ bê-tông kín mít. Rõ ràng là bọn Đức đã làm như vậy ở tất cả các cửa ra vào hoặc các kẽ hở. Secnôivanenkô thấy mình hoàn toàn bị nhốt, mà chỉ còn rất ít lương thực và không có một tí nước nào.
Thỉnh thoảng ông nghe thấy những tiếng ầm ì từ trên vọng xuống như có người dùng một quả đấm sắt nện xuống đất. Đôi lúc những tiếng kêu ấy mạnh đến nỗi đất rung lên. Bọn Đức hoàn toàn phát cuồng, đang pháo kích mặt đất trên những hầm mộ Uxatôvô để vít các hành lang lại và tiêu diệt tất cả những người trong lòng đất.
Nhiều chỗ, đường ngầm sâu đến bốn mươi mét nhưng tuyết mới tan ít lâu nên đất sũng nước và có nguy cơ lở sụp.
Trong một phút điểm qua toàn bộ tình hình, Secnôivanenkô chọn lấy cái quyết định duy nhất là rời bỏ lập tức trụ sở bộ chỉ huy, nơi ông và các đồng chí đã ở trên hai năm, phải dùng những đường hầm chưa hề đặt chân tới để đi đến một nơi an toàn hơn, phải tìm những con đường mới thông lên mặt đất, phải bắt liên lạc với đơn vị thống nhất của đồng chí Vaxili ở Krivaia Banka. Dù Secnôivanenkô có tiếc mấy khi phải rời bỏ cái vị trí cũ đã quen thuộc, và dù có nguy hiểm mấy khi phải tiến hành một cuộc thám hiểm trong lòng đất với quá ít dự trữ về ét-xăng, lương thực và vũ khí, nhưng đó vẫn là lối thoát duy nhất của tình huống. Thậm chí không phải một lối thoát nữa. Chẳng qua chỉ là một dự định mơ hồ để tìm ra một lối thoát. Việc chuẩn bị được hoàn thành nhanh gọn.
Ét-xăng và lương thực được chia thành từng phần đều nhau, người nào lấy phần của người ấy. Làm như vậy để đề phòng có người trong bọn bị rớt lại và bị lạc, điều rất có thể xảy ra do nhiều vụ đất vòm hầm bị lở sập, Secnôivanenkô quấn quanh ngực một chiếc khăn tắm chứa đựng những bản ghi bằng mật mã, những địa chỉ cơ sở bí mật, những danh sách cán bộ và tất cả những tài liệu quan trọng nhất. Những thứ còn lại, không quý bằng, ông để lại trong két sắt. Mỗi người cầm một cái xẻng hoặc kìm, một khẩu súng trường hoặc súng lục. Về đèn, họ mang theo ba chiếc, hai đèn bão và chiếc bật lửa của Xiniskin do Secnôivanenkô giữ. Mỗi người cầm một chiếc gậy chống nhỏ và không bỏ phí một giây, họ rời khỏi “góc đỏ”.
Thoạt đầu, người nọ theo sau người kia đi theo đường hầm chính, hai bên tường ghi đầy những biệt hiệu của họ. Sau đó, họ sang cái hang thấp rộng nơi có thời kỳ họ đã tập bắn, tại đây những tảng đá dùng làm bia bị cát bụi phủ gần kín, vẫn còn lưu lại những vết đạn, những vỏ đạn bằng sắt đen sì nằm lăn lóc. Một đường hầm chật hẹp chạy từ hang tập bắn đến cái hang nhỏ nơi chôn Xiniskin Jêleznư. Họ dừng lại một lúc bên tấm đá vôi thủ công, trên đó họ đã dùng gươm khắc thô sơ lên mặt đá mềm, một lưỡi liềm, một chiếc búa và một ngôi sao năm cánh. Dưới huy hiệu tượng trưng chính quyền xô-viết và Hồng quân đó, họ đã khắc những dòng sau đây bằng kiểu chữ đứng!
“Nơi đây, yên nghỉ một người con trung thành của Tổ quốc chúng ta, người bônsêvich kiên cường Nikôlai Vaxiliêvick Xiniskin (Jêleznư), đảng viên từ 1908, đã cống hiến cả đời mình cho chính quyền xô-viết”.
Trên tấm đá, có đặt một vòng hoa cúc vạn thọ nhỏ với giải băng hẹp cắt ở một tấm khăn trải giường, trên có ghi bằng bút chì tím dòng chừ: “Đảng ủy bí mật khu Ôđetxa kính viếng“.
Ngôi mộ Xiniskin làm bằng đá, dài, đơn giản, trang nghiêm, chỉ được trang hoàng bằng vòng hoa cúc vạn thọ nhỏ bé, hái ở nghĩa địa Uxatôvô và một ngọn đuốc đã tắt trong cái ống đen xạm, bị bỏ quên trên ngôi mộ sau khi an táng.
Họ bỏ mũ ra đứng một lúc trước ngôi mộ. Những cái bóng của họ được phóng to, từ tường hắt lên vòm hầm như cúi thật thấp trước mộ Xiniskin để vĩnh biệt bác lần cuối cùng.
Nhưng thời gian không chờ đợi. Họ phải đi xa nữa. Họ ra khỏi hang và đến một chỗ đường ngầm rẽ thành hai ngả. Cho đến nay họ chỉ đi theo những con đường quen thuộc. Bên kia, bắt đầu cái thế giới xa lạ. Phải quyết định chọn một trong hai con đường. Nói cho đúng, đoán mò chứ không phải quyết định. Vì hai con dường đều dẫn đến một nơi nào đó. Nhưng nơi nào? Có thể là một cái mê hồn cũng còn mù mịt hơn nữa. Có thể đến một lối ra nào đó chưa ai biết, chưa ai nhìn thấy, cũng có thể đến một chỗ bế tắc, mà cũng có thể đến khu hầm mộ ở Krivaia Banka. Nếu vậy thì quả là hay nhất rồi, Những hầm mộ ở Krivaia Banka lúc này, tự chúng là cả một thành phố ngầm có tới một vạn dân cư của những khu công nhân và các làng lân cận, họ đã tìm được nơi che giấu sinh mạng và của cải của họ.
Sau khi suy nghĩ một lát, Secnôivanenkhô nói:
— Rẽ bên trái!
Ông thấy đường hầm bên trái hình như rộng hơn bên phải một chút. Người nọ theo sau người kia, họ chống chiếc gậy ngắn thong thả bước sang bên trái. Đi đầu Secnôivanenkô cầm chiếc bật lửa của Xiniskin. Sau ông, bà Matriôna Têrenchiepna xách một chiếc đèn bão. Sau bà là Batsây. Sau Piôt Vaxiliêvich, Pêchya xách chiếc va-li mây nhỏ của chú. Sau Pêchya, Lêonit Ximban xách một cái đèn. Sau anh là Raitxa Lvôpna. Và sau cùng, Kôletnisuc cầm đèn với tư cách hậu vệ,
Secnôivanenkô ra lệnh cho họ luôn luôn phải giữ một cự ly ít nhất là năm mét giữa người nọ với người kia. Họ tạo nên một đường dây cách quãng. Mấy chiếc đèn bấc vặn thấp để tiết kiệm dầu, cháy leo lét, soi sáng lờ mờ những bức tường phủ một lớp bụi lâu đời. Không khí vẩn đục thật ẩm thấp, nặng nề. Nhiều chỗ trên tường nước rỉ ra và lớp đá vôi sáng lên yếu ớt.
Tất cả đi trong một bầu im lặng căng thẳng. Bất thình lình Secnôivanenkô khẽ đằng hắng và cất tiếng hát bằng một giọng trầm nhỏ hơi khàn nhưng chắc nịch:
Niềm tin cho chúng ta hy vọng,
Niềm tin cho sức sống ngoan cường...
— Kia, hay chửa, sao các đồng chí không hưởng ứng? Bắt cả vào nào. Bắt vào cho đều nhé! Tất cả mọi người cùng bắt vào nhé! Nhưng khẽ thôi... Nào!
Niềm tin cho chúng ta hy vọng,
Niềm tin cho sức sống ngoan cường...
Mọi người cùng hát. Không hát to, hát rì rầm nhưng chắc nịch, có phấn phấn khởi nữa, nhất là khi họ hát đến đoạn ưa thích:
Người tin tưởng là người thắng
Người vững tin, quyết chẳng đầu hàng.
Bất thình lình Secnôivanenkô dừng lại và cúi xuống.
— Dừng lại! — ông vừa nói vừa đưa chiếc bật lửa soi chung quanh.
Đường hầm thắt hẹp lại đến mức họ phải bò mới tiến lên được.
— Môchya, đưa mượn cái đèn tí! Tôi bò vào xem thử phía trước ra sao. Có chuyện gì, các đồng chí kéo hộ chân mình ra nhé.
Secnôivanenkô vừa lầu bầu vừa co bốn vó trườn vào trong hốc. Sau đó, hai chân ông duỗi dài, thế là ông đã phải nằm áp bụng xuống đất. Ông bò, đẩy ngọn đèn bão đi trước. Mươi phút sau ông trở ra, nhưng mọi người tưởng như đến một thế kỷ. Người ông phủ đầy hụi, từ đầu đến chân, nhưng ông có vẻ rất vui mừng.
— Phía bên kia, cách một quãng, có một cái hang lớn và một đường hầm tuyệt diệu — ông vừa nói vừa lấy lại hơi thở. Đường hầm ấy chắc sẽ dẫn chúng mình đến một nơi nào đó. Các đồng chí thân mến ạ, bọn ta có lẽ sắp gỡ được thế bí đây! Phải bò sát bụng một quãng độ mươi mười hai mét. Có một chỗ trần chỉ dính một tí. Phải bò rất thận trọng, hết sức tránh chạm vào tường. Người nọ cách người kia tám mét. Tất cả theo tôi.
Ông lại chui vào cái hốc và biến mất. Sau ông, một lát sau, Matriôna Têrenchiepna trườn theo, một tay giữ váy. Tiếp đó, Piôt Vaxiliêvich tiến lên và biến vào cái hốc.
— Giờ đến lượt Pêchya.
— Bò bằng khuỷu tay như công binh ấy — Lêônit Ximban nghiêm nghị nói với chú — Đừng có huých vai vào tường, nếu không chú sẽ làm bọn mình nát nhừ ra như cám. Liệu có bò được thế không nào?
Pêchya, lúc ấy đã co bốn vó, bắt đầu chui vào cái hốc, liền quay lại nhìn Liônya Ximban bằng con mắt bực tức. Thật là bực khi người ta vẫn coi chú là một đứa trẻ con.
— Thôi đừng lắm điều nữa — Chú lẩm bẩm bắt chước kiểu Lêônit Ximban, rồi chú nằm dài ra, chống khuỷu tay xuống đất rắn, vừa trườn tới vừa đẩy cái va-li mây nhỏ đi trước.
Tiếng đất rào rào rơi xuống, như một tiếng thở dài của lòng đất. Liônva Ximban chờ một lát và sắp sửa chui vào hốc thì đột nhiên đôi chân đi giày rách của Pêchya thò ra, và ngay sau. đó cả người Pêchya chui ra, mặt đen nhẻm vì bụi bậm và đồi mắt trắng dã hoảng hốt.
— Không tài nào... — Chú bé vừa nói một cách mệt nhọc vừa lấy lại hơi thở.
— Chuyện gì thể?
— Không tài nào bò xa hơn được.
— Tại sao?
— Cháu cũng không biết. Không thể đi xa hơn nữa. Đất sụt xuống. Điện đài đã đi trước rồi.
— Không đi được là thế nào nhỉ? — Liônya choáng người nói — Tại sao không đi được? Phải có đường đi chứ. Chà chú bé, chú phó chủ tịch của tôi ơi!...
— Cháu đang bò, đang bò, thế rồi bất thình lình, một cái tường... Hầm sụt.
— Hầm sụt à? Cháu muốn đùa chắc? — Liônya kêu lên — Thôi để chú đi xem sao!
Anh gạt Pêchya sang một bên và bò nhanh bằng khuỷu tay vào trong hốc nhưng chỉ một lát sau đã tuồn ra và nói:
— Sụt thật mất rồi...
Anh vớ lấy xẻng, đèn, rồi lại trườn vào trong hốc. Một lúc sau, anh trở lại, cho biết là ở chỗ hẹp nhất, vòm đá đã sụt xuống đường hầm.
Họ còn lại bốn người. Liônya Ximban, Pêchya, Raitxa Lvôpna và Kôletnisuc, trong tình trạng phân vân cực độ, không biết phải làm gì: nên khai phá một lối đi xuyên qua tảng đá sụt lở, hay quay lại tìm một lối khác?
— Muốn khoét một con đường đi tới phải đục xuyên qua tảng đá rơi xuống hoặc ít ra cùng phải đào một con đường vòng quanh tảng đá. Việc này cần nhiều ngày, thế mà họ chỉ còn đủ dầu cho một ngày một đêm, chưa nói đến chuyện phải hết sức tiết kiệm. Lại tuyệt đối không có một giọt nước nào.
— Nếu họ không nằm dưới tảng đá ấy — Liônya vừa nói vừa cân nhắc từng tiếng — thì tôi tin rằng hoàn cảnh họ khá hơn chúng ta. Các đồng chí ấy sẽ tới được ánh sáng của Chúa trước chúng ta... — Anh im lặng một lát — Thôi được, nhưng nếu...
Pêchya nín thở nhìn Lêônit Ximban, như muốn đoán ra tất cả sự thực.
— Nhưng nếu sao ạ? — Chú bé nói ngập ngừng,,.
— Nếu, nếu... — Liônya bực tức vừa nói vừa vùng vằng xốc thắt lưng — Liệu chúng ta có chơi cái trò đoán mò như bói hoa cúc không: “Chàng yêu ta, một chút, rất nhiều, say đắm...” Nếu... — đôi mắt anh sa sầm lại — Nếu, nếu... vậy thì, xin vĩnh biệt Tổ quốc, vĩnh biệt! — Anh nói gần như thô lỗ với vẻ gay gắt của một người lính có quyền tỏ ra gay gắt, vì chính bản thân người ấy bất cứ lúc nào cũng có thể hy sinh tính mạng và vì đã quá quen thuộc với cái chết nên nói đến nó hết sức thản nhiên y như người không có tình cảm. Rồi thoáng nhận thấy một nét xúc động trên mặt Pêchya và Raitxa Lvôpna, anh liền nói tiếp với giọng chỉ huy: — Tôi là người chỉ huy, các đồng chí sẽ theo lệnh tôi! Những ai có mặt. Gọi đến tên, các đồng chí hãy trả lời: Lêônit Ximban — Anh tự gọi tên mình đầu tiên, rồi tự trả lời ngay:
— Có! Kôletnisuc, Ghêorghi?
— Có — Kôletnisuc đáp.
— Kôletnisuc, Raitxa?
— Có!
— Thiếu niên tiên phong Batsâỵ?
— Có!
— Vậy là có bốn người.
Lêônit Ximban đi đi lại lại mấy bước trong đường hầm, đầu cúi xuống y như Secnôivanenkô trong những trường hợp tương tự, rồi anh đứng sững lại.
Cái tính vui nhộn và nụ cười quấy tếu, ranh mãnh của anh đâu rồi? Lúc này, cả con người anh là một vị chỉ huy nghiêm khắc, trầm tĩnh với cặp lông mày nhíu lại cương quyết.
— Các đồng chí! — Anh nói, giọng ngắt quãng — Tình huống chiến đấu đòi hỏi chúng ta phải khẩn trương và kiên quyết. Tôi ra lệnh phải lùi lại chỗ ngã ba, người nọ cách người kia năm mét. Tôi sẽ cầm đèn đi đầu, sau tôi là thiếu niên tiền phong Batsây, sau thiếu niên tiền phong Batsây là Kôletnisuc Raitxa, hậu vệ là đồng chí Kôletnisuc Ghêorghi xách đèn,
Anh nhìn bao quát cả đơn vị của anh bằng con mắt chậm rãi và sắc sảo, như muốn đi sâu vào tâm hồn từng chiến sĩ.
— Các đồng chí rõ cả chứ?
— Rõ! — Kôletnisuc Ghêorghi trả lời thay tất cả.
— Tiến lên! — Lêônit Ximban ra lệnh.
Những ánh sáng lờ mờ yếu ớt nối tiếp nhau chuyển động thong thả trên quãng đường trở về xuyên qua đường hầm tối om.