Pêchya tiến vào Ôđetxa trên một chiếc xe tăng, cùng với Lêônit Ximban mà chú gặp trên đường Hatji-Bây, sau trận đánh mở đường cho xe tăng tiến vào thành phố. Đoàn xe tăng dừng lại cạnh chỗ cầu chui của đường xe lửa phía dưới dốc Nông dân, cả Lêônit Ximban và Pêchya đều xuống tiếp tục đi bộ. Trời đã gần trưa. Thành phố còn mang nhiều dấu vết mới mẻ của những trận đánh trong phố kéo dài suốt đêm qua. Sáng sớm, quân đội xô-viết đã hoàn toàn chiếm lĩnh thành phố, và lúc này thành phố có vẻ như vừa trải qua một cơn bão hoặc một trận cháy.
Mặt trời rực rỡ và gió lạnh ào ào thổi tung khắp các đường phố những núi giấy tờ bị thiêu hủy trong các công sở Rumani và Đức, trong những sở cảnh sát bị nhân dân phá tan, khiến ta nhớ lại những buổi tổng vệ sinh trước ngày hội: người ta mở toang các cửa sổ, mát-tít cũ rạn vỡ tanh tách, người ta kê dọn lại đồ đạc và gió thổi tung trên sàn nhà những rác rưởi tích lũy khắp mọi xó xỉnh trong mùa đông.
Trên đường phố, còn ngổn ngang xác bọn Đức chưa dọn kịp cùng những xe cam-nhông đổ, chất đầy của cải xô-viết bị cướp bóc, khắp nơi khói những đám cháy đang bốc lên nghi ngút, từ các hầm hào còn lôi ra được những tên Đức cuối cùng bắn súng phun lửa và những tên ác ôn chậm chân. Người ta còn đang giật khỏi các góc nhà những tấm biển phố mới; và trong khí thế sục sôi căm hờn thiêng liêng, đáng sợ, nhân dân đang áp giải bọn S.S. Đức bị bắt làm tù binh, những tên Đức bẩn thỉu, nhung nhúc chấy rận, với bộ mặt nhem nhuốc đất cát và cặp mắt hoảng loạn, giống tù khổ sai vượt ngục hơn là những chiến binh; và trong thành phố, các cơ quan xô-viết đã lần lượt dọn đồ đạc đến nhà mới, những cơ quan bấy lâu đã đóng ở tuyến thứ hai thuộc Mặt trận thứ ba của Ukren.
Lêonit Ximban và Pêchya đi tìm khu ủy, hy vọng gặp được Secnôivanenkô, Piôt Vaxiliêvich và bà Matriôna Têrenchiepna; họ đoán là mấy người này đã ra khỏi hầm mộ rồi và đã có mặt trong thành phố.
Có những toán lính Xlôvăc và Rumani đứng rải rác ở các đầu phố. Có những anh đính trên mũ ca-lô một dải băng đỏ nhỏ. Họ vẫy tay và réo to phía sau Ximban và Pêchya:
— Chào anh bạn người Nga! Chào đồng chí bôn-sê-vích! Hura!
Lêônit Ximban, đôi mắt sáng ngời, đưa tay lên mũ hét to đáp lại:
— Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại! Hành động đi, các bạn! Hura!
Pêchya cảm thấy phấn khởi lạ thường. Chú đi với Lêônit Ximban, không phải trên vỉa hè, mà ở giữa lòng đường, cho ra vẻ một đơn vị quân đội dù ít người. Họ vẫn tự coi mình là một đơn vị quân đội, đại loại như một tổ hoặc một tốp gì đó thuộc đội hoạt động bí mật của Secnôivanenkô. Họ chưa thể quen với ý nghĩ nhiệm vụ của đội họ đã hoàn thành và họ không còn là những người hoạt động bí mật nữa.
Pêchya tự nhìn mình với con mắt của người khác: chính chú đang hành quân hùng dũng, trang nghiêm, sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự đối với Tổ quốc, mặt mũi nhem nhuốc bụi hầm, ngạt thở vì gió mát và mặt trời rực rỡ, với chiếc mũ bằng vải lều lật ra sau lưng, một tấm huân chương trên ngực và một khẩu súng lục bên sườn, chính chú, thiếu niên tiền phong Pêchya Batsây, cách đây không lâu lắm là phó chủ nhiệm câu lạc bộ những nhà sinh vật trẻ tuổi và bây giờ là một chiến sĩ du kích, một người chiến đấu vì nhân dân.
Mà đúng thế, ở Lêônit Ximban và Pêchya có một cái gì khiến bà con đi chật đường phố phải dừng lại. Trông hình dạng hai người thật không còn hồ nghi gì nữa. Đúng là những chiến sĩ bí mật, những con người truyền thuyết của hầm mộ.
Đám trẻ con chạy theo la hét ầm ĩ:
— Chú ơi, chú ở dưới hầm mộ Ôđetxa phải không?
Câu hỏi ấy dĩ nhiên hướng về Ximban, nhưng Pêchya không bao giờ quên trả lời với một nụ cười kẻ cả:
— Thế nào, trông biết ngay à?
— Còn phải hỏi! — Đám trẻ tươi cười nói. Những đứa trẻ của thành phố Ôđetxa, gầy guộc, trông rõ vẻ đói ăn, đi chân không, những đứa trẻ đã chịu đói khổ trong hai năm rưỡi trời chiếm đóng — Thế các đồng chí ở đội nào đấy?
— Đội Secnôivanenkô,
— Đồng chí Gayrick ấy à?
— Đúng — Pêchya thản nhiên trả lời.
— Jorka, Lionka, Kacpukha, ê các cậu, chạy nhanh lên, lại đây! Hai tay trong đội Sechôivanenkô đây này!
— Người của đồng chí Gayrick đây này!
Thế là lũ trẻ chạy trên hè theo Lêônit Ximban và Pêchya, với một vẻ phấn khởi, thậm chí kinh ngạc nữa khiến mọi người tưởng như một trung đoàn đang diễu binh có quân nhạc dẫn đầu.
Nhưng sự đắc thắng của Pêchya lên đến tột đỉnh khi một cậu bé tí xíu đầu to, mặc cái áo sĩ quan Rumani rách mướp, quét xuống tận mắt cả đen nhẻm của đôi bàn chân bé nhỏ đi đất, cắm cổ chạy trên đường rồi, đi giật lùi trước mặt Pêchya, cất tiếng hỏi với đôi mắt thán phục nhìn xoắn lấy chú:
— Chú ơi, chú có cái huân chương gì thế?
— Huân chương “chiến công” đấy thôi em ạ.
— Ồ, sao mà đẹp thế! — Chú bé kêu lên bằng cái giọng Pêretxip trước toàn thể bà con hàng phố, nhưng đúng lúc ấy chú lại vướng chân vào cái áo Rumani ngã phệt xuống mặt đường, làm mọi người cười ồ, phá rối trong giây lát cái trật tự quân sự đẹp đẽ của cuộc diễu binh của Ximban và Pêchya.
Tóm lại, tất cả đều tuyệt diệu, phi thường trong ngày Chiến thắng tươi đẹp này.
— Người của Secnôivanenkô đây! Dân Uxatôvô đây! — Người ta nói với nhau trong đám đông đi theo Pêchya và Ximban.
Hai người hỏi cơ quan khu ủy ở đâu, nhưng chẳng ai trả lời được câu hỏi đó một cách chính xác. Ngôi nhà cũ đã bị phá, còn ngôi nhà mới ở đầu, chưa ai hay biết gì cả.
Cứ như thế, họ đi qua ngôi nhà còn nguyên vẹn của Rạp hát thành phố, những lá cờ đỏ cắm đầy mặt trước ngôi nhà đang tưng bừng rung rinh trước gió, họ tạt ra chỗ trước kia là đại lộ Duyên hải, tiến về phía tượng Puskin và khẩu pháo nổi tiếng. Khẩu pháo vẫn như xưa, chĩa nòng về phía biển khơi xanh biếc, phóng khoáng và mênh mông, bên ngoài cảng.
Lêônit Ximban trèo nhanh lên lan can và đưa mắt say sưa ngắm những đường nét thân thuộc của cảng... Đôi mắt anh lim dim, đầu anh quay từ từ,., anh siết chặt khuỷu tay Pêchya mỗi lúc một mạnh. Pêchya không hiểu đầu đuôi ra sao chỉ thấy đau quá. Chú toan rút nhẹ tay ra, nhưng ngón tay Lêônit Ximban cứng như sắt khiến Pêchya hoảng sợ nhìn lên bộ mặt của anh đang in một nụ cười đắc thắng lạ lùng.
— Chú làm sao thế, chú Liônya?
— Thế nào... cháu có thích không? — Ximban lắp bắp trả lời — Thật đẹp tuyệt vời! Ôi những con người kỳ diệu! Những con chim ưng!
— Chú nhìn thấy cái gì ở ngoài ấy thế? — Pêchya rên rỉ thảm hại.
— Nhìn thấy cái gì ở ngoài ấy à? — Ximban thốt lên, bất giác tỉnh lại và buông khuỷu tay Pêchya ra — Chú nhìn thấy cái gì ở ngoài ấy à? — Giọng anh vang lên hùng dũng, đắc thắng — Chú nhìn thấy những người của ta vẫn cứu thoát được hải cảng. Trước đây chú hết sức lo họ không cứu nổi. Thế mà họ cứu được đấy. Nhìn kìa, những công trình chính vẫn đứng vững. Tay Xtrenbixki anh dũng thật! Một con chim ưng! Cảm ơn anh ấy! Ôi, vì đồng chí!
Pêchya nhìn hải cảng và chẳng hiểu gì cả. Chú chỉ thấy những tàn phá. Nhưng Lêônit Ximban bằng con mắt lão luyện của người dân Ôđetxa kỳ cựu đã nhìn thấy chính xác, những máy móc và những công trình nguyên vẹn nằm giữa đống điêu tàn. Những vật nguyên vẹn ấy còn rất nhiều hơn ta tưởng khi mới nhìn qua lần đầu.
— Máy trục! Những nhà ướp lạnh! Bến Dầu! Cái đê Bốn mươi! Cái đê Platônôpxki! Kho lúa mì! Tất cả vẫn nguyên! Thử nhìn xem! Chúng nó hầu như chẳng phá được gì cả! — Thậm chí Lêônit Ximban còn reo ầm lên, tay vẫy mũ như để chào hải cảng quê hương yêu dấu của anh, vẻ đẹp và niềm kiêu hãnh của Hắc-hải.
Nhân dân xúm quanh Ximban, từ trên cao nhìn xuống cảng, lớn tiếng kiểm lại những công trình mà bọn phát-xit không phá hủy được, và họ cũng vẫy mũ.
Và trên một quảng trường nhỏ hẹp, dưới hàng cột đẹp cổ điển của Nghị viện cũ Ôđetxa, nhìn cũng biết là một cuộc mít-tinh bất ngờ vừa mới chấm dứt. Diễn giả bước xuống cầu thang và được quần chúng xúm quanh. Đó là một cụ già tóc bạc như tuyết, mặc quân phục lính thủy của hạm đội Nga hồi trước cách mạng. Gió thổi phần phật cái cổ áo khoác xanh và những dải băng thánh Jorjơ trên chiếc mũ nồi của ông cụ có ghi hàng chữ vàng “Pôtemkin Tayrisexki”.
— Pôtemkin, Pôtemkin — Có tiếng nói trong đám đông — Một thủy binh của chiến hạm Pôtemkin. Người ta vừa chở ông cụ trên phóng ngư lôi hạm từ Nikôiaiep về đấy.
— Suốt thời gian chiếm đóng, ông cụ vẫn sống trong vùng Ôđetxa đấy.
— Một tay hoạt động bí mật kỳ cựu mà lị.
— Nghe nói ông đã quen chính Lênin đấy.
— Trong nội chiến, ông cụ phục vụ Hạm đội trên sông ở Xaritxin đấy.
— Đầu bạc phơ y như ngọn bồ công anh. Nhưng lông mày còn đen đấy chứ. Già mà vẫn hăng gớm!
— Chuyện! Ông cụ chiến đấu cho chính quyền xô-viết từ 1905 mà lại.
— Người ta bảo hồi đó, ông cụ ở trong tổ chức chiến đấu thành phố Ôđetxa chúng mình đấy.
— Cô bé đi với ông cụ là thế nào nhỉ?
— Con ông cụ đấy.
— Không phải con đâu, cháu đấy.
— Ừ phải, có lẽ cháu thực.
— Cô ấy đi theo ông cụ khắp nơi.
— Dạo ông cụ đóng vai người quay phong cầm Bacbari thì cô ấy hát, múa theo nhịp trống. Ai cũng tưởng họ là một ông già Rumani và một cô bé Rumani.
— Đúng thế, nước da cô ta nâu gớm đi ấy.
— Cô ta nói tiếng Rumani cứ liến đi thôi! cả ông cụ cũng thế.
— Ông cụ thì có gì lạ. Ông cụ ở tàu Pôtemkin, đã từng sang Rumani, ở đấy một thời gian và học nói tiếng bên ấy.
— Thành ra bây giờ lại có ích đấy.
— Cậu nói về cô bé Ida ấy à?
— Về cả ông cụ và cô cháu gái.
— Con gái Đrujinin đấy.
— Đrujinin nào nhỉ?
— Đồng chí Đrujinin rất anh hùng đã bị bọn Đức xử bắn mà không thèm ký giấy xin ân xá ấy mà.
— Thế thì tên thật của đồng chí ấy không phải là Đrujinin. Đrujinin chỉ là bí danh để hoạt động bí mật thôi. Đồng chí ấy là trinh sát xô-viết, người vùng ta đấy.
— Khi bọn chúng xích đồng chí ấy dẫn qua thành phố thì ông cụ và cô bé...
Lúc ấy, Pêchya và Lêônit Ximban rẽ được đám đông. Mọi người đều tỏ vẻ trọng vọng để họ đi qua và đột nhiên đứng cạnh ông cụ thủy binh. Một tay ông cụ chống gậy, một tay vịn vào cô bé. Cô bé đi bốt ngắn, mặc váy xanh, áo trắng, đeo khăn quàng thiếu niên tiền phong đỏ quanh cái cổ rám nắng. Dáng đi của cô bé thẳng như một cây sậy nhỏ, cô nhìn bằng đôi mắt nâu thâm trong có hai điểm ngời sáng rung rinh dưới hàng mi ngắn nhưng rất đen và cong cong nom tuyệt đẹp.
Trước khi Pêchya nhận ra cô, cô đã nhận ra Pêchya; cô dừng lại và chìa tay ra cho chú. Bộ mặt hơi mỏi mệt, bình thản và nhất là già hơn tuổi của cô không hề biểu lộ một chút ngạc nhiên hoặc mừng rỡ nào.
— Chào Pêchya — Cô nói đơn giản có thế — Thế là chúng mình lại gặp nhau! — Đôi môi cô mấp máy có vẻ chua chát — Mình nhận ra cậu ngay, mặc dù cậu nhớn lên nhiều đấy. Thế cậu không nhận ra mình ngay à?
— Không — Pêchya trả lời — Không nhận ra ngay.
— Có lẽ cậu quên tên mình rồi đấy nhỉ? — Cô mỉm cười gắng gượng — Mình tên là Galina.
— Mình biết rồi. Mình có quên đâu — Pêchya cảm thấy lòng tràn ngập một tình yêu mến và thương xót đến nỗi khó thở. Chú nhìn chằm chằm vào đôi mắt trẻ thơ rất xinh của Galina và trong mỗi con ngươi, sau hàng mi nhỏ, chú thấy một hình ảnh nhỏ tí của bản thân chú, của cái đầu bù xù, cái bóng nhỏ của mặt trời mùa xuân một màu trắng lóa, và cả một lá cờ đỏ trên bao lơn của khách sạn.
Cô bắt tay chú, giữ chặt lấy và khẽ lắc lắc:
— Cậu còn nhớ bố mình không? Quân địch đã bắn chết mất rồi.
— Mình có biết — Pêchya nói — Đại úy Đrujinin. Chúng tôi đã cùng ở hầm mộ với nhau.
— Thế à? — Cô bé nói, không hề tỏ vẻ ngạc nhiên, và có phần nào thản nhiên nữa là khác, nhưng rất nghiêm trang — Cậu đã ở dưới hầm mộ như thế là tốt lắm. Hai ông cháu mình cũng hoạt động đấy. Còn bố cậu thì sao?
— Bố mình làm phó cho chú Đrujinin.
— Ông ơi, cháu giới thiệu nhé — Galina nói — Đây là Pêchya mà hồi trước cháu đã cùng đi máy bay đến Ôđetxa. Cậu ấy đã ở dưới hầm mộ cùng với bố cháu đấy.
Ông già chăm chú nhìn Pêchya bằng đôi mắt nhỏ âm thầm và rất sâu, ẩn dưới cặp lông mày đốm bạc, mấp máy đôi môi rồi chìa tay ra cho chú bé; trên bàn tay ấy, Pêchya nhộn thấy một vết xăm, một chiếc mỏ neo nhỏ màu xanh.
— Chào kỵ sĩ — Người thủy thủ già nói; trong lúc đó Pêchya cảm thấy bàn tay già nua của cụ như bằng gỗ với lần da thuộc cứng siết chặt lấy tay chú. Khi gọi bằng kỵ sĩ, cụ nghĩ đến tấm huân chương, nhưng chú bé lại hiểu theo nghĩa Đrujinin đã dùng một lần — kỵ sĩ của cô con gái — nên chú xấu hổ đỏ cả mặt.
— Đi với chúng tôi nhé — Galina vừa nói vừa khoác tay Pêchya.
— Đi đâu?
— Đọc thư của bố mình.
Pêchya không hiểu.
— Cậu không biết à? — Cô nói — Trước khi chết, bố mình có viết một lá thư. Đi nhé.
Cũng chưa hiểu rõ phải đi đâu, nhưng chiều theo giọng nói giản dị lạ lùng và đầy sức thuyết phục của Galina, Pêchya nhìn Lêônit Ximban có vẻ dò hỏi. Ximban gật đầu tán thành với vẻ trang trọng, nghiêm nghị. Rõ ràng là anh biết sắp đi đâu rồi. Họ qua phố Puskin về mạn nhà ga đông nghịt; dân chúng Ôđetxa và Hồng quân kéo đến mỗi lúc một nhiều, ông cụ thủy binh một tay chống gậy, một tay vịn vai cháu gái, đi cạnh cô là Pêchya với chiếc mũ bằng vải lều hất ra sau lưng, sau họ là Lêônit Ximban khoác khẩu súng trường như thường lệ và còn vô số những người không quen biết.
Trông chẳng khác gì một cuộc đưa đám long trọng. Thỉnh thoảng, ở những ngã tư, đám đông dừng lại, và người thủy thủ của chiến hạm Pôtemkin bỏ chiếc mũ nồi cũ ra với những dải băng Thánh Jorjơ bay phấp phới, vẫy vẫy trên cái đầu bạc phơ và nói to hằng một giọng người già, nhưng vẫn còn khỏe:
— Đồng bào thành phố Ôđetxa vinh quang, nhân ngày vĩ đại hôm nay tôi chúc mừng các bạn thoát khỏi ách của bọn phát-xít xâm lược! Chính quyền xô-viết muôn năm!
Đến một chỗ gần đó, một toán kỵ binh phi nước đại đuổi kịp họ; mặt đường bằng đá hoa cương kêu vang dưới tấm màn thưa của những cây dạ hợp mọc ngả ra đường. Đi đầu là Xêrafim Ivanôvich Tulyakôp cưỡi ngựa, mặc áo khoác ngắn da bê, thắt thắt lưng rộng bản của sĩ quan, với một thanh gươm kôkazơ, một cái mũ lông cừu nông thôn có dải đỏ nhỏ phía trước. Trông anh thật lịch sự, gọn gàng, râu mới cạo, bộ ria bàn chải tỉa rất khéo, lông mày thẳng tắp. Con ngựa của anh đang thở phì phì văng bọt ra tứ phía, mình đẫm mồ hôi, và vẩy bùn khô. Sau anh, những bộ mặt rạng rỡ quen thuộc của những chàng trai trong đội, trên lưng súng trường nhảy nhót, và trên mũ đó rực những mảnh vải nhỏ. Trên dường, một chiếc tasanka[14] màu xanh với khẩu súng máy chạy ầm ầm như sấm, anh chàng Tarat Xêrêđa vui tính ngồi cạnh khẩu súng, mặc áo va-rơ lính thủy, đội mũ lưỡi trai không vành, tay ôm trên đầu gối chiếc đàn phong cầm to tướng màu vàng và trắng.
— Này, chào các tướng! — Lêônit Ximban gào to — Tulyakôp! Xêrafim Ivanôvich!
Nhưng Tulyakôp không nghe thấy, và toán quân vẫn đi, không dừng lại.
Sau cùng, họ rẽ sang một phố khác và bước qua chiếc cổng mở rộng của một ngôi nhà xám, cửa sổ vỡ toác, qua đó gió thổi tung những tàn giấy cháy đen.
Ngôi nhà này không gây được chút cảm tình nào với Pêchya, mặc dù tường mới sửa lại và những nắm đấm bằng đồng đánh thật bóng. Nhưng khi họ bước vào cái sàn âm u, vắng lặng, nơi rõ ràng không bao giờ có ánh mặt trời, nơi toát ra một cách khả nghi cái mùi than gầy và mùi ẩm thấp giá lạnh, chú bé bỗng cảm thấy tim mình đập rộn lên.
Galina bồn chồn siết chặt tay chú bé và cũng bước xuống tầng dưới đất tối om đang bốc lên cái mùi hầm sâu.
Có người bấm đèn.
— Đây rồi — Một giọng trầm trầm cất lên trong bóng tối.
Họ trông thấy một cảnh cửa mở có song sắt to; họ bước vào, lòng xúc động trước cảnh trống rỗng nặng nề của căn phòng. Mặt sàn nhà đen sì lát sắt tấm và những bức tường quét trắng nham nhở, thế là hết. Không một tia sáng nào từ bên ngoài vào. Và cái mùi mới ghê làm sao! Cái mùi ẩm ướt, tù hãm của khí clo, của thuốc ngâm gỗ, và bao trùm tất cả là một cái gì ngột ngạt, cái mùi sắt gỉ làm phát điên lên được.
Trên tường chi chít những dòng chữ ghi của tử tù, tên họ, lời vĩnh biệt, những câu chửi rủa, những lời cầu nguyện khắc vào tường hoặc viết vội bằng bút chì. Ta có cảm tưởng là căn phòng đầy những tiếng kêu thét, rên rỉ, thầm lặng của hàng trăm con người bị sát hại.
— Đây này — Một người nói và vệt sáng ngọn đèn dừng lại, run rẩy trên những chữ vạch bằng bút chì tím ở tầm cao của một người cao lớn.
“Vĩnh biệt Tổ Quốc! Quân phát-xít chó má sắp giết tôi. Chúng hứa tha chết cho tôi nếu tôi làm đơn xin ân xá. Không! Không bao giờ! Quyền lực của bọn chúng trên đời này đã chấm dứt. Tôi là người Nga! Tôi không có ý định xin quân thù ân xá. Tôi chỉ công nhận có một quyền lực trên đời này, đó là chính quyền Xô viết.
Galôska yêu quí, con gái bé bỏng, nguồn vui sướng của bố! Vĩnh biệt ánh mặt trời xinh xắn của bố! Cám ơn con đã đến thăm bố lần cuối cùng. Bố đã được gặp con và cả ông nữa. Đừng khóc bố, đừng buồn con nhé. Trên đời này con sẽ còn được hưởng hạnh phúc, con sẽ được trông thấy ánh mặt trời của chủ nghĩa cộng sản. Trong xã hội có biết bao nhiêu người tốt. Họ sẽ không bỏ rơi con đâu. Con đừng quên bố, con nhé. Bố đã làm tất cả những gì bố có thể làm được, đáng tiếc là còn ít ỏi quá. Muôn năm chủ nghĩa cộng sản, muôn năm... ”Dòng chữ chưa viết hết. Tiếp theo là một nét gạch xanh, rất thẳng, và sâu của một chiếc bút chì gẫy.