Đường Hầm Ôđetxa

Lượt đọc: 358 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
LỜI GIỚI THIỆU TẬP I - Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương 31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Chương 38 Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương 46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53 Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương 61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chương 67 Chương 68 Chương 69 Chương 70 Chương 71 Chương 72 Chương 73 Chương 74 Chương 75 Chương 76 Chương 77 Chương 78 Chương 79 Chương 80 TẬP II - Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương 31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Chương 38 Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương 46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53 Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương 61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chú thích
Tiến »
Chương 23

❊ ❊ ❊

Tàu Fecdinang bỏ neo gần bức tường Cảng, trước mặt kho lúa. Bên ngoài, kho lúa trông có vẻ nguyên vẹn. Nhưng bên trong, chỉ là một đống hỗn độn những máy móc hư hỏng, gẫy nát, băng chuyền, xe đẩy bị loại ra, cân bàn gẫy, máy sàng, máy dằn vân vân. Thóc lúa cướp được ở các nông trang lân cận, mang vội về kho, không được lựa chọn cứ để bừa bãi khắp nơi và gặp chăng hay chớ. Thóc vẫn nằm trong bao tải, gây trở ngại cho các dây chuyền ở tàng dưới, đầy ắp các boong-ke và các máy bơm nước, chất thành đống lớn, ngay trên mặt sàn các tầng; những con chuột kho kếch xù màu đỏ sẫm và gan lì, đuôi có vẩy và trụi lông, chạy rầm rập.

Thóc lúa chưa cân, nhưng bọn quân nhu Rumani cho là ở đấy có mấy nghìn tấn.

Khi Lêônit Ximban, kèm theo “đomnul cai thầu” và hai tên quân nhu Rumani, đi vào kho lúa, anh cảm thấy lòng mình đau nhói như bị dao đâm vào tim. Luôn luôn vấp phải những mảnh máy vỡ, họ lặng lẽ đi vòng quanh kho, từ trên xuống dưới, và tên cai thầu hỏi:

— Thế nào Kukharenkô, bảo đảm được chứ?

— Chắc chắn — Ximban đáp cương quyết, hai má hóp vào như bị ghê răng.

— Đừng có quên là mười nghìn bạc hàng đấy! Nếu anh chơi xỏ tôi, tôi sẽ sạt nghiệp, nhưng anh cũng bị phạt. Mà anh còn bị nặng hơn tôi nhiều! Các anh sẽ bị đưa ra Cortea Marziale, tất cả sẽ bị xử đến người cuối cùng và các anh sẽ không sống được để mà ra đâu. Không có gì cản trở được tôi cả!

— Vâng, vâng...

Bọn quân nhu gật gật đầu có vẻ trịnh trọng; trong cả câu chuyện, chúng chỉ hiểu được mấy tiếng Cortea Marziale mà chúng biết rất rõ, rồi chúng vỗ vào bao súng ngắn màu vàng mới tinh, đầy ẩn ý.

— Nhất định xong! — Lêônit Ximban nói to — Mà còn có thể nhanh hơn nữa! Nhanh như thổi!

Cố nhiên, anh biết rất rõ nếu không có phương tiện cơ giới, chất xếp bằng tay không hai nghìn tấn trong ba ngày là điều hoàn toàn không thể làm được. Nhưng tên domnul đã bị món lợi dễ dàng hoàn toàn chinh phục và bọn quân nhu cũng đã được hứa hẹn một phần lợi nên chúng không còn biết gì nữa, chỉ sốt ruột giậm chân tại chỗ, mong việc bốc xếp sớm được bắt đầu ngay. Còn Ximban, tất cả nhiệm vụ là phải tổ chức cho được trong khi bốc xếp, “cái ô” và cứu thật nhiều lúa mì khỏi bị đưa lên tàu.

Thế rồi, không để mất thì giờ, họ leo lên tàu Fecdinăng. Trong khi tên cai thầu và bọn quân nhu đo hầm tàu bằng một cái thước vải và ghi thể tích vào tờ giao kèo, Ximban tranh thủ chạy về phía người của mình đang ngồi sưởi dưới chân bức tường kho chờ bắt đầu bốc xếp. Tại đây, anh tổ chức chớp nhoáng một cuộc hội ý sản xuất cấp tốc. Anh chia số người ra thành hai nhóm. Một nhóm phải làm việc ở trong kho, đổ lúa mì xuống hầm tàu qua các đường ống dẫn, nhóm kia phải ở trong hầm tàu và trông cho hàng hóa được chất xếp thích đáng. Trong nhóm thứ nhất, Ximban bố trí những người mà anh chưa hoàn toàn tin cậy, nhóm thứ hai chỉ dành riêng cho những người “của mình”, nghĩa là đúng những người làm “ô”.

Để công việc bốc xếp có vẻ cơ giới hóa chút ít, Ximban ra lệnh đặt giữa cửa kho và tàu vài đường băng chuyền áp dụng cho lối làm tay và để mấy công nhân bốc vác khỏe mạnh nhất kéo. Các người khác thì đổ lúa mì lên băng chuyền bằng các đường ống hay chỉ bằng bao tải, thùng múc nước, xẻng.

Từ lâu không thấy ở cảng Ôđetxa có chuyến hàng nào được bốc xếp nhộn nhịp như vậy. Trong những đám mây bụi của các kho chứa hàng, có những tia sáng mặt trời từ những cửa sổ tầng trên chiếu xiên xuống, những công nhân bốc vác chạy đi chạy lại, đổ lúa mì rác bẩn và bắt đầu mục xuống hầm tàu. Lúa mì chảy trên những tấm băng chuyền rồi đổ xuống cửa hầm tàu để mở, sâu hoắm, dưới ánh sáng yếu ớt của một cây đèn xách có lưới sắt. Dưới đáy hầm tàu, trong dòng lúa mì, có mấy người đang đứng. Ximban, Tulyakôp, Xviriđôp và hai công nhân bốc vác chắc chắn nhất trong số những người được Secnôivanenkô tổ chức. Hầm tàu sâu và nhìn từ trên xuống, những người ở dưới đáy có vẻ nhỏ tí. Họ nhận lúa mì và rải lên đáy hầm tàu bằng những cái xẻng gỗ lớn. ít nhất họ cũng làm ra vẻ như vậy. Nhưng hầu như không ai nhìn vào hầm tàu cả. Hai lần, tên trợ lý thứ ba của tay thuyền trưởng có trách nhiệm phải trông coi công việc có lướt mắt qua. Rồi ở cửa bầm tàu hình vuông, trên nền trời xanh biếc hiện ra cái mũ cát-két đại úy bẹp của “đomnul cai thầu”, và nghe có tiếng nói say rượu ồm ồm của hắn ra lệnh từ trên cao xuống.

— Này! Tụi ở dưới hầm tàu! Kukharenkô, công việc thế nào rồi?

— Công việc chạy rất đều — Ximban nhanh nhẩu đáp.

— Bốc xếp đến mức nào rồi? Một mét chứ?

— Ông tham quá, đomnul cai thầu ạ. Ba mươi phân!

— Ít thế — tên cai thầu hét lên ở bên trên.

— Không ít đâu. Không ít tí nào với một diện tích rộng như thế — Ximban đáp.

— Coi chừng đấy, Kukharencô ạ, anh mà giết tôi...

— Nhanh như thổi ấy! — Ximban hét lên, không nghe nữa và lại cầm lấy xẻng.

Tên cai thầu phẩy tay rồi khua nhanh đôi giày bị lún, chạy qua cầu tàu lên bến để đôn đốc bộ phận trong kho. Bụi kho bám đầy người, một cọng rạ mắc trong râu, mặt phấn khởi đỏ bừng, hắn luôn tay lau cái mũi giống như miếng bọt biển đen đen, vỗ lưng anh em bốc vác và nói một cách mơn trớn:

— Anh em đừng phản tôi đấy. Nhanh lên, anh em ơi! Làm cố lên, tôi sẽ thưởng anh em một chai vang!

Hắn tháo cái bao tải ra và đôi khi tự mình cũng nắm lấy xẻng, hay giúp quay các tấm băng chuyền.

Trong khi đó, bộ phận ở hầm tàu bắt đầu công trình chủ yếu của mình: sắp xếp chỗ cho “ô”. Trong hầm mỗi hạm tàu, trong chiến tranh khi chuyển thành tàu chở hàng, đều có thiết bị để chở binh lính. Đó là những tấm ván và những cái trụ đặc biệt có thế xếp thành hai ba dãy giường ván như ở các toa chở hàng. Trong khi hai người đứng ở cửa hầm, chỗ lúa mì chảy vào, làm bộ san lúa, những người khác lo sắp xếp tầng trên của các giường ván. Xong đâu đấy, họ lấy những tấm ván dùng cho hàng thứ nhất lấp đầy khoảng trống và căng một mảnh vải bạt lên trên cái sàn thật. Bây giờ những người làm việc ở dưới hầm tàu đã đứng trên cái sàn thứ hai. Lúa mì tiếp tục phủ kín. Họ đứng trong lúa mì ngập đến tận mắt cá và không ai có thể ngờ là dưới chân họ có một khoảng trống ba mét. Người ta tưởng lúa mì đã lên đến nửa hầm tàu. Khi tên cai thầu trở lại kiểm tra công việc lần thứ hai, hẳn không ngờ hai phần ba hầm tàu đã đầy, còn Ximban, lúa mì ngập tới đầu gối, thì đang đứng gần cửa hầm, kiêu hãnh, tựa vào cái xẻng. Mồ hôi ròng ròng trên gương mặt phấn khởi và bẩn thỉu.

— Này, bây giờ ông thấy thế nào, cai thầu?

— Kukharenkô, anh là một bậc thiên tài! — tên cai thầu nói to.

— Chúng ta không bàn đến cái đó — Ximban nói, có vẻ khiêm tốn. Anh thở hổn hển. Lồng ngực phập phồng, nặng nề, tay chân run lẩy bẩy. Tulyakôp và Xviriđôp, quần xắn quá đầu gối, mình trần đến tận thắt lưng, sơ-mi cuộn trên đầu làm khăn, ngồi trên lúa mì, mắt nhắm nghiền, tựa lưng vào bức vách gỗ hầm tàu. Hai người khác nằm sóng sượt, mặt úp sấp như người chết. Họ chưa hết mệt, chưa hết căng thẳng, vì chỉ trong vài phút họ đã xây đựng nên cái sàn thứ hai với những tấm ván rất nặng.

Sự nhanh chóng quyết định thắng lợi. Họ đã bới rất nhanh những tấm ván dày ba phân lấp dưới lúa mì, kéo ra, nâng lên, dùng đầu và vai đỡ lấy. Trong ánh sáng mờ mờ, trong những đám mây bụi, những tấm ván tuột khỏi trụ, đụng vào nhau, rơi xuống. Phải nâng lên ngay và đặt lại vào những lỗ mộng đầy rác rưởi... Các tấm ván đã được đánh số nhưng không thể nhìn thấy số trong tối. Nhiều tấm đặt không đúng chỗ. Trụ đổ xuống. Không có đinh đóng cho nhanh. Xviriđôp bị kẹt tay và phải cố hết sức nén đau mới khỏi kêu lên. Một cái trụ đổ phải Tulyakôp và làm anh bị xây xát một bên người. Luôn luôn, họ bị va vấp nhưng không thấy đau, y như những người lúc mới bị thương. Như một trận chiến đấu ban đêm khi tuyến thứ nhất bị chọc thủng và phải ổn định lại ngay bằng cách đặt những thanh gỗ mới lên mái hầm trú ẩn đã bị phá hủy và đóng trụ mới.

Thực thế, họ đang đánh một trận nhỏ để cứu lấy vài trăm tấn lúa mì xô-viết. Nếu có kẻ địch nhìn từ trên xuống hầm tàu, phát hiện thấy việc họ làm, họ sẽ bị giết hết không ai thoát. Bởi vậy họ phải dốc toàn lực ra, không cảm thấy mệt mỏi, đau đớn, như trong khói lửa một trận chiến đấu. Bây giờ, mọi việc đã xong xuôi, họ nghỉ ngơi và vì làm việc quá sức, họ đã kiệt cả về thế xác lẫn tinh thần. Từ trên, lúa mì như những dòng suối nhỏ đổ xuống đầu họ, nhưng dưới chân họ có “ô”. Nghĩa là một số lượng bằng hàng trăm tấn lúa cướp lại được của địch.

Bây giờ họ có thể yên tâm nghỉ ngơi, đi ăn cơm. Theo một cái cầu hẹp, người trước người sau, họ ra khỏi hầm tàu.

Trời đã bắt đầu tối hẳn. Ở bên trên, giữa nền trời đỏ của mặt trời lặn, trải ra, như một cái bóng đen dài, bức tranh toàn cảnh của thành phố: cây cối ở đại lộ Hàng hải, hàng cột vòng cung của điện Vôrônxôp cũ, mái nhà tròn của Nhà hát Ôđetxa, đài kỷ niệm nhỏ công tước Risơliơ, phía trên cầu thang Pôtemkin chan hòa ánh lửa rực rỡ, giữa hai tòa lâu đài cổ ở góc đường với những mặt ngoài hình vòng cung.

Từ phương đông, từ mặt biển, bóng đêm dần tới, một đêm màu xanh tro, quang đãng, với một đám mây to màu hồng nhạt phản chiếu yếu ớt ánh lửa lờ mờ của mặt trời lặn trên thảo nguyên, rồi lại phản chiếu yếu ớt hơn nữa lên mặt biển phẳng lặng như tờ.

Ximban vào trong kho lúa và ra lệnh nghỉ. Đomnul cai thầu đi lon ton sau lưng, vỗ tay vào tấm lưng ướt đẫm và nóng bỏng:

— Khukharenkô, anh là một dũng sĩ! Tôi rất hài lòng về anh. Tôi sẽ báo cáo tốt về anh với ban khai thác... và với chính quyền cảng — hắn nói thêm, rướn đôi lông mày ra vẻ ăn ý. — Có điều, Kukharenkỏ ạ, tôi khẩn khoản yêu cầu anh đừng để nhịp độ chậm lại. Đừng để nhịp độ chậm lại ở chỗ tôi nhé! Đừng quên là ta mới xếp được ba phần tư hầm thứ nhất và trước mắt, còn hầm thứ hai nữa. Vậy đừng nên lề mề quá! Đừng chơi xỏ, nhé!

— Nhưng cũng phải để cho anh em ăn uống nghỉ ngơi một tí chứ.

— Tôi có bảo sao đâu? Cứ ăn uống nghỉ ngơi đi. Ăn uống một tí, nghỉ ngơi một tí... rồi lại làm!

— Ông đừng lo, đomnul cai thầu! Mọi việc sẽ xong xuôi cả.

— Này Kukharenkô, làm sao không lo được khi số bồi thường treo trên đầu tôi?

— Thế cái biệt thự ở Ackađi? — Ximban hỏi và nheo mắt lại.

— Thế số bồi thường?— Tên cai thầu nói và cũng nheo mắt lại.

— Sẽ không có bồi thường.

— Nhưng nếu có?

— Tôi nói không có bồi thường, là sẽ không có bồi thường. Chúng ta đừng cãi nhau nữa!

Nhưng đomnul cai thầu không thôi.

— Này Kukharenkô, vậy anh chắc chắn sáng mai hầm thứ nhất sẽ xếp xong chứ?

— Như thổi vậy!

— Và anh bắt đầu ngay hầm thứ hai chứ?

— Và chúng tôi bắt đầu ngay hầm thứ hai.

— Thế bao giờ xong hầm thứ hai?

— Sáng ngày kia.

— Chắc chắn không?

— Như thổi vậy!

— Tốt, tốt... — tên cai thầu nói, người nhẹ nhõm, và vuốt ve lưng Ximban Kukharenkô, Chúa sẽ phù hộ cho anh! Anh sẽ không có gì ân hận đâu. — Và hắn nháy nháy mắt. — Anh còn chưa rõ tôi. Tôi biết đối xử lắm! Nhưng cố gắng lên. Chúng ta sẽ kiếm được, cả anh lẫn tôi. Nhưng nếu anh chơi xỏ tôi, cả hai chúng ta đều mất cả. Hiểu chưa?

— Tôi hiểu rồi — Ximban nói, bực dọc. — Tôi hiểu ông lắm rồi.

Anh cố nén giận. Ôi, sao anh ghẻ tởm cái thằng tham lam điên cuồng, cái tên ăn bám sống trên lưng người khác thế! Nếu không cảm thấy một sự toại nguyên, một niềm vui sướng thầm kín làm dịu bớt cơn tức giận chứa chất trong lòng mình, chắc Lêônit Ximban đã không thể không quai cho tên kia một cái vào gáy để hắn thôi khỏi làm phiền mình nữa. Nhưng, đáng lẽ làm như vậy, anh đã đứng dừng lại, nhìn chòng chọc vào tên cai thầu một cách bình tĩnh lạ thường, rồi lễ phép nghiến răng nói:

— Đomnul cai thầu, ông đừng nóng ruột nữa, ông mệt rồi, mời ông đi nghỉ đi.

Chắc trong giọng nói của Ximban có một cái gì làm cho lên cai thầu thấy lành lạnh ở phía bụng dưới. Nhưng hắn làm bộ không hay biết gì hết. Vả lại, không nên gây gổ với người mà toàn bộ của cải của mình còn tùy thuộc. Bảy nghìn mác ở trên trái đất này đầu phải từ trên trời rơi xuống. Cái đó đáng để cho người ta phải nhẫn nhục. Hãy cứ để xếp cho xong thời hạn đã. Hắn sẽ đổi giọng sau. Rồi đomnul cai thầu đi lên phố, vào tiệm cà-phê “Rumani”, hy vọng tìm thấy ở đấy bọn môi giới để thăm dò về việc mua một cái biệt thự.

Đến nửa đêm, Lêônit Ximban đánh thức anh em đang ngủ trên đống bao tải trong kho dậy và họ lại bắt đầu bốc xếp. Tảng sáng, khi tên cai thầu ở phố trở về, hầm thứ nhất đã xếp xong. Họ bắt đầu xếp hầm thứ hai.

— Xin lỗi, tôi đã bắt đầu xếp hầm thứ hai trong khi không có mặt ông — Ximban nói rất lễ phép. — Tôi không muốn bỏ phí thì giờ quý báu. Ông không có gì phản đối chứ?

Tên cai thầu liếc nhìn vào nắp hầm và reo lên: một phần ba hầm đã gần đầy.

— Chà, Kukharenkô, được đấy, anh phải biết, nói thế nào đây...

Hắn không tìm ra chữ, chỉ vẽ lên trời một con số tám bằng điếu xì-gà cầm ở tỉnh về. Người hắn xông lên một mùi duzik khá nặng — đây là một thứ rượu hồi Hy-lạp — dưới hai con mắt xệ xuống hai cái bướu thâm, nhưng bộ râu dê bẩn thì lại vênh lên kiêu hãnh, và trên nét mặt hắn hẳn lên một vẻ hách dịch mà theo hắn nghĩ thì đó là dấu hiệu đặc biệt của một nhà buôn đang phất và của một người chủ một cái biệt thự tại một tỉnh Rumani thuộc xứ Trannixtri.

Từ mặt biển xanh sẫm, gần như đen, mặt trời mọc lên, ném ra những tia nắng sắc lạnh. Một cơn gió mạnh buổi sáng nổi lên. Ngày hôm đó bắt đầu và sẽ mang lại cho đomnul cai thầu một món lợi kếch xù.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026

« Lùi
LỜI GIỚI THIỆU TẬP I - Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương 31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Chương 38 Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương 46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53 Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương 61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chương 67 Chương 68 Chương 69 Chương 70 Chương 71 Chương 72 Chương 73 Chương 74 Chương 75 Chương 76 Chương 77 Chương 78 Chương 79 Chương 80 TẬP II - Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương 31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Chương 38 Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương 46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53 Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương 61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chú thích
Tiến »