Trẫm

Lượt đọc: 9239 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1033
Tư Tông Cương hoàng đế (2)

❊ ❊ ❊

Chỉ hai tháng, Trương Phổ đã cai nghiện ra tù, vị tiên sinh này thật đúng là kiên nghị. Hơn nữa, học vấn của ông từ chuyên nghiên cứu lý học sửa thành kết hợp tâm học và lý học, đến tuổi già mà còn làm một đợt chuyển biến tư tưởng lớn.

Hơn một nghìn kẻ nghiện lục tục thành công cai nghiện.

Không thành công thì hoặc là còn bị nhốt, hoặc là đã chết!

Có bảy người bởi vì lên cơn nghiện đã đột tử trong đại lao Hình bộ, người nhà chỉ có thể tổ chức lễ tang, không ai dám chạy tới bắt đền Triệu Hãn.

Tiền Khiêm Ích ôm tâm trạng xem trò cười chuyên môn tổ chức hội văn, đón gió tẩy trần cho Trương Phổ ra tù.

Trương Phổ vui vẻ đến dự, chờ người tới đông đủ bỗng cười hỏi: “Hội văn nhã trí như vậy sao không chuẩn bị Phúc Thọ cao?"

Mọi người hoảng sợ.

Một học sĩ Hàn Lâm viện nói: “Không dám giữ thứ hại người đó, nếu bị quan phủ biết, chẳng những đường làm quan cắt đứt, con cháu cũng không được làm quan."

"Ha ha ha ha!" Trương Phổ cười sang sảng.

Tiền Khiêm Ích chế nhạo nói: “Tây Minh ngồi tù hai tháng không ngờ tinh thần tốt hơn, bệnh trầm kha trước kia cũng khỏe.”

Trương Phổ xua tay: “Bệnh thì vẫn còn, chờ lúc sang mùa đông chắc chắn phát bệnh.”

Tiền Khiêm Ích cảm thấy cụt hứng, Trương Phổ thản nhiên như thường thì không thể lấy chuyện này ra trêu ghẹo ông.

Trương Phổ lại nói: “Nha phiến là kịch độc, độc thấm vào nội tạng đầu óc mà không tự biết, độc tính phát tác tựa như sắp chết vậy, chư vị tuyệt đối đừng thử thứ độc đó nữa. Ngược lại luân phiên chết sống nhiều lần khiến lão hủ cảm ngộ đến 'Tịch', trong hư tịch có điều hiểu ra.”

“Tịch” có nguồn gốc từ “Dịch truyền”: Dịch vô tư dã, vô vi dã, tịch nhiên bất động, cảm mà toại thông thiên hạ*.

(*) Nghĩa đại khái là: Bản thân là không suy nghĩ, không làm gì, là an tường bất động, nếu từ đó hiểu được và vận dụng là có thể biết tất cả đạo lý trên đời.

Dương Minh Tâm Học phát triển từ thời Tần Hán đã sản sinh ra “Phái Quy Tịch”, trung tâm tư tưởng của bọn họ là “Lương tri bản tịch”.

Tuy đến nhà Thanh thì tâm học cắt đứt, nhưng pháp môn tu luyện của phái Quy Tịch Tâm Học bị đặt vào hệ thống tu thân của lý học nhà Thanh. Không bao nhiêu người tu thân đến mức độ hiểu ra, chỉ tu ra một đống lý học gia, tựa như Tăng Quốc Phiên là nhân vật đại biểu.

Kế tiếp, Trương Phổ bắt đầu nói cảm ngộ của mình trong ngục, nói một tràng về hư tịch thông cảm của mình.

Tiền Khiêm Ích càng nghe càng cảm thấy nhạt nhẽo, xem Trương Phổ như thần côn, lập tức chuyển đề tài: Chúng ta đều là quan Hàn Lâm, đã biên “Đại Đồng sửa phát tâm”, “Đại Đồng tự điển”. Lại hiệp trợ Lễ bộ biên “Đại Đồng sách giáo khoa ngữ văn tiểu học”, “Đại Đồng sách giáo khoa ngữ văn trung học”. Giờ không có việc gì để làm, chỉ có thể tự sửa lại sách sử, hay là liên danh thỉnh cầu bệ hạ biên sửa “Minh sử” đi?”

Trương Phổ tức giận nói: “Bắc Kinh nằm trong tay sấm tặc Lý Tự Thành, các đời hoàng đế Đại Minh thực lục* đều ở trong Bắc Kinh Tử Cấm Thành. Không có thực lục và bản thảo sử, chúng ta đơm đặt nói bừa sao?”

(*) Thực lục là ghi chép lại đúng với sự thực, như dạng biên niên thể.

Tiền Khiêm Ích nói: "Thỉnh cầu bệ hạ sang năm xuất binh thu phục Bắc Kinh. Cho dù bệ hạ không đồng ý thì lùi một bước, có thể xác định miếu hiệu và thụy hào cho Tiền Minh Sùng Trinh đế.”

“Việc này có thể làm.” Trương Phổ gật đầu, nói: “Chưa thu phục Bắc Kinh, mãi chưa quyết định miếu hiệu và thụy hào của Sùng Trình đế, cứ kéo dài như vậy thì không ra thể thống gì."

Hầu Tuân cũng bị ném vào Hàn Lâm viện làm học sĩ, đưa ra đề nghị: “Chúng ta có thể trước tiên đưa một ít miếu hiệu, thụy hào giao cho bệ hạ định đoạt là được.”

Mọi người thảo luận một phen, lấy ra hơn mười miếu hiệu, thụy hào, từ Tiền Khiêm Ích và Trương Phổ mang đi xin ý kiến của hoàng đế.

Đương nhiên, đầu tiên là xin biên sửa “Minh sử”, nhưng vì tư liệu lịch sử không đầy đủ nên đành gác lại, tiếp đó xin hoàng đế ân chuẩn định ra thụy hào cho quân chủ tiền triều.

Triệu Hãn lật đống tên kia, hỏi: “Ngụy Thanh và Ngụy Thuận cũng có lập hiệu cho Súng Trình phải không? Bọn họ lập tên gì?”

Tiền Khiêm Ích trả lời: “Ngụy Thanh lập là Hoài Tông Đoan hoàng đế, Ngụy Thuận lập từ Tư Tông Thận hoàng đế, ngụy triều Vân Nam lập là Uy Tông Liệt hoàng đế.”

Hoài Tông, Tư Tông đều là miếu hiệu của vua mất nước.

Đoan hoàng đế, Thạn hoàng đế mang hàm nghĩa biết lễ nghiêm với bản thân.

Không bao không biếm, bình thường, Đa Nhĩ Cổn và Lý Tự Thành không cần khiến người khó chịu về việc này.

Triệu Hãn lật xem thứ bọn họ dâng lên, cẩn thận tìm đọc, ngẫm nghĩ nói: “Chọn Tư Tông Cương hoàng đế đi.”

Cương có nghĩa bù đắp lỗi cũ, không ngừng vươn lên, hoặc chính hình* phán đoán sáng suốt, hoặc cường nghĩa quả cảm . . . Tuy chỉ là một bình thụy, nhưng Triệu Hãn mỹ hóa Sùng Trinh rất nhiều.

(*) Chính lệnh và hình phạt, nghĩa là lấy chính để trị dân, lấy hình để xử tà.

Bây giờ Triệu Hãn định ra miếu hiệu, thụy hào cho Sùng Trinh, Đại Minh ở phương nam mới xem như chính thức bỏ qua, tên này là đặt dấu chấm mọi việc.

Tiền Khiêm Ích, Trương Phổ khom người lui ra, trên mặt đều có chút nét vui mừng.

Trước kia bọn họ rất chán ghét Sùng Trinh, hiện giờ lại hơi nhớ. Có thể cầu thụy hào tốt cho Sùng Trinh cũng coi như xong một mối tâm sự, hơn nữa nhận được cảm kích của sĩ tử tiền triều.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »