Đây đã là ngày thứ sáu Trương Liêu giảng bài tại quân trường. Vốn dĩ ông định mỗi tháng chỉ giảng một bài, không ngờ các mưu thần và tướng lĩnh đồng loạt dâng thư thỉnh cầu, nhất quyết muốn ông giảng một mạch hết ba mươi sáu kế.
Trương Liêu bất đắc dĩ, đành tốn mất sáu ngày mới giảng xong. Thở phào nhẹ nhõm, nhìn thấy các tướng lĩnh và học trò vẫn còn đang trầm tư ghi chép, ông ra hiệu cho Tuân Úc rồi cùng bước ra khỏi giảng đường.
Tuân Úc theo sau, hai người đi đến phía sau võ trường. Trương Liêu hỏi: "Văn Nhược, chính lệnh "biên hộ nhập phường" (đăng ký hộ tịch vào phường) thực thi thế nào rồi? Có gặp trở ngại gì không?"
"Sứ quân." Tuân Úc vận bạch y, bước đi nho nhã, giọng nói thanh tao: "Bốn quận Thượng Đảng, Thái Nguyên, Nhạn Môn, Vân Trung vẫn ổn, các quận huyện còn lại thì trở lực trùng trùng. Không ít bộ lạc người Hồ hoặc là chạy trốn vào thung lũng, hoặc là khởi loạn. Chẳng phải do quận thú, huyện lệnh vô năng, mà là vì người Hồ và người Hán vốn có mối thù sâu sắc, việc đồng hóa người Hồ thật sự không dễ dàng. Nếu không phải nhờ tướng quân đại bại Hưu Đồ Các, chính lệnh vốn dĩ không thể thi hành. Nay chỉ có thể chậm rãi mưu tính, ân cần vỗ về những người quy thuận, khiến họ an cư lạc nghiệp, những người khác tự nhiên sẽ đến theo."
Trương Liêu từng trấn áp các thủ lĩnh người Hồ tại thành Mã Ấp, lúc đó họ không dám phản kháng, đều răm rắp tuân lệnh. Nhưng khi trở về, hoặc do chịu ảnh hưởng của thế lực khác, hoặc do không thể kiểm soát bộ lạc của mình, đã dẫn đến việc nhiều bộ lạc chống đối chính lệnh biên hộ nhập phường. Hơn nữa, không chỉ người Hồ chống đối, ngay cả nhiều người Hán có thù với người Hồ cũng không muốn tiếp nhận họ, việc dung hợp hai dân tộc vốn chẳng phải chuyện dễ dàng.
Tình trạng này Trương Liêu đã sớm dự liệu, nhưng việc Tuân Úc nhắc đến chỉ bốn quận Thái Nguyên, Thượng Đảng, Nhạn Môn, Vân Trung là thuận lợi khiến Trương Liêu có chút muộn phiền. Thực tế cũng nhờ nhân tài do ông phái đi đắc lực, nếu không Tinh Châu đã sớm đại loạn rồi, suy cho cùng thế lực người Hồ ở Tinh Châu quá mạnh.
Ông không khỏi thở dài: "An cư lạc nghiệp, khiến người khác đến theo, việc này cần thời gian nhỉ."
Tuân Úc nghiêm sắc mặt: "Vốn là như vậy. Đại Hán mấy trăm năm nay chưa từng đồng hóa được chư Hồ, nếu sứ quân làm được, đây là phúc trạch muôn đời, công thành sau mấy thế hệ cũng đủ để vui mừng, sao có thể một bước mà thành."
Trương Liêu cười nói: "Văn Nhược nói rất phải, nhưng không biết còn khó khăn gì cần ta đích thân xuất mã?"
Tuân Úc do dự một lát rồi nói: "Tướng quân tuy đã bại Hưu Đồ Các, nhưng còn phải bình ổn Nam Đình, nếu không chính lệnh khó mà thi hành."
"Nam Đình..." Trương Liêu gật đầu, vẻ trầm tư.
---❊ ❖ ❊---
Ngoài võ đường, Trương Liêu vội vã trở về phủ Châu mục, Quách Gia theo sát phía sau.
"Chủ công," Quách Gia tán thưởng: "Ba mươi sáu kế bao hàm toàn bộ thuật ứng biến cơ mưu trên chiến trường, chủ công xứng đáng là một bậc đại gia binh pháp. Gia thân là mưu sĩ mà cảm thấy hổ thẹn."
Trương Liêu lắc đầu: "Ta biết ba mươi sáu kế, nhưng dùng kế thế nào? Khi nào dùng kế? Dùng kế sách gì? Vẫn phải dựa vào Phụng Hiếu và chư vị. Thuận theo thế mà dẫn dắt, tùy thời mà chế kế, tùy người mà định mưu, đó là thiên phú. Người thường dù biết cũng khó mà dùng được."
Quách Gia vuốt cằm, ông khâm phục năng lực và tấm lòng của Trương Liêu. Đổi lại là người khác, có thể giảng ra những kế sách tinh yếu như ba mươi sáu kế, ắt đã tự cao tự đại, còn Trương Liêu thì luôn giữ được cái đầu tỉnh táo để nhìn thấu bản chất sự việc. Một chủ công như vậy mới đáng để họ phò tá.
"Phụng Hiếu." Trương Liêu nhớ lại cuộc trò chuyện với Tuân Úc vừa rồi, hỏi: "Hưu Đồ Các tuy bại, thế lực người Hồ ở Tinh Châu vẫn mạnh hơn người Hán, không ít bộ lạc khởi loạn. Ta muốn triệt để thực thi chính lệnh thì còn phải làm gì?"
Tuân Úc vốn luôn cầu ổn, Trương Liêu còn muốn biết kiến nghị của Quách Gia.
Quách Gia trầm ngâm: "Chủ công nên phòng ngừa Nam Đình làm loạn. Nam Hung Nô quy thuận đã một trăm năm mươi năm, thống ngự chư Hồ ở Tinh Châu, nay tuy thế yếu nhưng danh nghĩa và uy vọng vẫn còn. Chủ công muốn nắm giữ Tinh Châu, thực thi chính lệnh thì không thể coi thường Nam Đình."
"Nam Đình..." Trương Liêu đột nhiên hỏi một câu: "Nếu bãi bỏ Nam Đình thì sao?"
"Bãi bỏ Nam Đình..." Quách Gia dường như không ngạc nhiên trước ý nghĩ của Trương Liêu. Họ muốn kiểm soát Tinh Châu, sớm muộn gì cũng phải xung đột với Nam Đình. Với tính cách của Trương Liêu, tự nhiên sẽ không thỏa hiệp.
Nhưng Nam Đình là do triều đình Đại Hán thiết lập, là vương đình của một quốc gia, xét về danh nghĩa thì địa vị cao hơn hẳn Trương Liêu – một vị Tinh Châu mục. Muốn bãi bỏ Nam Đình, bắt buộc phải thận trọng, không chỉ phải đối mặt với sự phản loạn mà còn phải đối mặt với sự trách cứ và chất vấn từ triều đình.
Quách Gia suy nghĩ một chút rồi cười nói: "Chủ công, có lẽ có thể dùng kế "dục cầm cố túng" (muốn bắt thì phải thả)."
Trương Liêu lộ vẻ tươi cười: "Đúng ý ta."
Kế sách này Tuân Úc cũng có thể nghĩ ra, nhưng ông sẽ không đề xuất, bởi đây là việc làm trái ý triều đình, không hợp với lý niệm của Tuân Úc.
---❊ ❖ ❊---
Quận Tây Hà, huyện Mỹ Tắc, vương đình Nam Hung Nô. Trong chiếc lều da hình vòm của Thiền vu, Nam Hung Nô đang mở "Quý nhân đình hội".
Quý nhân đình hội là đại hội do Thiền vu Nam Hung Nô triệu tập các vương, trọng thần, đại nhân các bộ lạc trong tộc để cùng bàn việc nước, tương đương với triều hội của Hán đình.
Hiện nay Thiền vu Nam Hung Nô là Vu Phu La đang ở Trung Nguyên, trong vương đình vốn do Lão Vương nhiếp chính, nhưng Lão Vương lâm bệnh nên Hữu Hiền Vương Ô Lợi đứng ra triệu tập các quý nhân.
Trong lều da, ngoài Hữu Hiền Vương, còn có Hữu Cốc Lãi Vương, Tả Hữu Ôn Ngu Đê Vương, Tả Hữu Tiệm Tương Vương, Tả Hữu Đại Tướng, Tả Hữu Đại Đô Úy, Tả Hữu Nhật Trục, Tả Hữu Chử Cừ, Tả Hữu Đại Đương Hộ, Tả Hữu Cốt Đô Hầu và một đám vạn kỵ trưởng.
Cơ cấu thống trị của chính quyền Hung Nô lấy dòng họ Loan Đề làm cốt lõi, nhưng thực chất là phân chia tài sản, quyền lực và địa vị dựa trên sự thân sơ của quan hệ huyết thống. Tả Hữu Hiền Vương, Tả Hữu Cốc Lãi Vương, Tả Hữu Ôn Ngu Đê Vương, Tả Hữu Tiệm Tương Vương, Tả Hữu Đại Tướng, Tả Hữu Đại Đô Úy đều là con cháu dòng họ Loan Đề của hoàng tộc Hung Nô.
Số còn lại là quan lại và tướng lĩnh ngoại tộc của Hung Nô.
Khác với Hán đình, quan chức của Hung Nô là thế tập. Trong số ngoại quan, Nhật Trục có địa vị cao nhất. Khác với Nhật Trục Vương, Nhật Trục là quan hiệu, nằm dưới vương hầu nhưng vẫn ở trên Tả Hữu Đại Tướng và Đại Đô Úy, tương đương với phụ tướng của Hung Nô, do quý tộc họ Hô Diễn thế tập đảm nhiệm. Họ Hô Diễn thường liên hôn với họ Loan Đề, là quý tộc ngoại họ bậc nhất của Hung Nô.
Ngoài ra còn có quý tộc họ Khâu Lâm thế tập Tả Hữu Cốt Đô Hầu, họ Tu Bốc thế tập Tả Hữu Chử Cừ, họ Ô Lạc Lan thế tập Tả Hữu Đại Đương Hộ. Tuy nhiên, Tả Đại Đương Hộ Hô Vu đã bị Điển Vi chém chết, hiện nay chỉ còn lại Hữu Đại Đương Hộ, cũng là thủ lĩnh một bộ phận của họ Ô Lạc Lan.
Thời Tiền Hán, Hung Nô chia thành hai bộ Tả Hữu. Vương đình Thiền vu nằm ở phía bắc vùng Đại Quận, Vân Trung. Tả Vương, Tả Tướng, Tả Nhật Trục, Tả Cốt Đô Hầu, Tả Đại Đương Hộ, Tả Chử Cừ đều cư ngụ ở phía đông vương đình Thiền vu, vùng đất phía đông Thượng Cốc, kết nối với Uế Mạch, Triều Tiên. Hữu Vương, Hữu Tướng, Hữu Nhật Trục, Hữu Cốt Đô Hầu, Hữu Đại Đương Hộ, Hữu Chử Cừ cư ngụ ở phía tây Thượng Quận, giáp giới với Đê, Khương.
Họ di chuyển theo sự tốt xấu của nguồn nước và đồng cỏ. Trong đó, bộ lạc do Tả Hữu Hiền Vương, Tả Hữu Cốc Lãi Vương dẫn dắt là lớn nhất, các thủ lĩnh khác cũng đều có bộ lạc riêng, sở hữu vô số kỵ binh cùng ngựa, bò, cừu, thực lực mỗi bên lớn nhỏ không đều.
Đến thời Hậu Hán, Hung Nô phân liệt, vương đình Nam Hung Nô vẫn chia làm hai bộ Tả Hữu nhưng địa vực đã nhỏ hơn rất nhiều. Trương Liêu đánh bại Hưu Đồ Các, trong đó có một phần là thế lực của chính Hưu Đồ Các, một phần lại pha tạp với Nam Hung Nô, còn có Hữu bộ Hê Lạc của Nam Hung Nô bị tiêu diệt tại Thái Nguyên, có thể coi là binh mã Hữu bộ thực thụ.
Tổn thất nặng nề của Hữu bộ Hê Lạc khiến nhiều quý tộc Nam Đình vô cùng bất mãn với vị Tinh Châu mục mới nhậm chức.
Chính lệnh do Tinh Châu mục thực thi càng đe dọa đến chính quyền Nam Đình. Chỉ trong vòng ba tháng, Nam Đình đã triệu tập năm lần Quý nhân đình hội để bàn bạc đối sách với chính lệnh của Tinh Châu mục.