Cơn đau dữ dội ở gò má bên phải đánh thức cô. Cô từ từ mở mắt, trong cảm giác lo sợ gần như không dám nhìn. Cô đang nằm dài trên giường. Bên dưới là một tấm ga chần êm ái màu đỏ. Xung quanh là những đồ nội thất vô cùng bình thường của IKEA và một chiếc cửa sổ với cánh chớp đóng kín. Có lẽ vẫn là ban ngày, vì vẫn có chút ánh sáng lọt qua.
Cô không bị trói như đã hình dung. Cô vẫn mặc chiếc quần jean và áo nỉ, nhưng ai đó đã tháo đôi giày thể thao cho cô.
Cô nhìn thấy một cánh cửa ở cuối phòng. Nó chỉ khép hờ. Cô cảm nhận thấy rõ đó là một cử chỉ lịch thiệp. Người ta để thế vì không muốn làm phiền cô.
Việc đầu tiên cô làm là lần bên hông tìm khẩu súng. Nhưng cái bao trống rỗng.
Cô cố dựng người dậy nhưng chợt thấy đầu óc quay cuồng. Cô ngã vật xuống và nằm nguyên như vậy nhìn chằm chằm lên trần nhà cho đến khi những đồ vật ngừng quay.
Mình phải ra khỏi đây.
Cô nhích chân tới mép giường, thả từng chân và chạm xuống sàn nhà. Khi chắc chắn đã chống được cả hai chân xuống đất, cô thử dùng tay làm đòn bẩy để nâng thẳng người lên. Cô phải mở mắt để không mất thăng bằng. Gắng sức, cuối cùng cô cũng ngồi dậy được. Cô vươn tay tựa vào tường, rồi dùng cái tủ đầu giường để tạo cú bật cần thiết. Cô đứng lên. Nhưng không cầm cự được lâu. Cô thấy hai đầu gối chùn xuống dưới lực đẩy của một loại sóng vô hình đang tấn công, làm cô lảo đảo. Cô cố chống chọi nhưng vô ích. Cô nhắm mắt và đúng lúc sắp ngã thì ai đó túm lấy cô từ phía sau, đỡ cô xuống giường.
“Chưa được,” người đàn ông nói.
Sandra tóm lấy cánh tay rắn chắc. Dù là ai thì người ông ta cũng tỏa ra một mùi thơm. Cô lại nằm ngửa, đầu lún xuống gối. “Để tôi đi,” cô thều thào.
“Cô vẫn chưa khỏe. Đã bao lâu rồi cô không ăn uống gì?”
Sandra quay mặt lại. Đôi mắt chỉ he hé nhưng cô vẫn nhìn thấy hình dáng người đàn ông trong bóng tối. Tóc màu vàng khói, dài tới cổ. Nét mặt thanh tú nhưng vẫn mang vẻ nam tính. Cô chắc chắn ông ta có đồng tử màu xanh lá cây vì nó phát sáng, hệt như mắt mèo. Cô đang định hỏi xem ông ta có phải là một thiên thần, nhưng rất tiếc có vẻ như cô đã nhận ra cái giọng nói trẻ con khó chịu và âm sắc của người Đức.
“Shalber,” cô thất vọng thốt lên trước nụ cười bình an của ông ta.
“Xin lỗi, tôi không kịp đỡ cô và cô đã bị ngã.”
“Chết tiệt, vậy ông chính là kẻ ở nhà thờ!”
“Tôi định nói cho cô biết, nhưng cô đã đá hậu.”
“Tôi đá hậu ư?” Cơn giận làm cô quên mất đau đớn.
“Tay súng sẽ bắn trúng cô nếu tôi không can thiệp. Cô đang chuẩn bị băng qua đúng trước mặt hắn, cô hẳn sẽ là một mục tiêu tuyệt vời.”
“Hắn là ai?”
“Tôi không biết. May là tôi đi theo cô.”
Giờ thì cô thực sự phát khùng. “Ông làm gì cơ? Từ khi nào vậy?”
“Tôi vào thành phố tối qua. Sáng nay tôi tới khách sạn nơi David vẫn thường ở, vì chắc chắn sẽ tìm thấy cô ở đó. Tôi đã nhìn thấy cô đi ra ngoài và bắt taxi.”
“Vậy là cuộc hẹn hôm nay ở Milan để uống cà phê…”
“Chỉ để đánh lừa thôi. Tôi đã biết cô tới Roma.”
“Ra là thế, những cuộc gọi liên tục, yêu cầu được kiểm tra túi đồ của David… Suốt thời gian qua ông đã lừa tôi.”
Shalber ngồi xuống giường trước mặt cô và thở dài. “Tôi buộc phải làm vậy.”
Sandra nhận ra mình đã bị gã cảnh sát Interpol lợi dụng. “Đằng sau màn kịch này là cái gì vậy?”
“Trước khi giải thích cho cô, tôi cần hỏi cô vài câu.”
“Không. Giờ ông nói cho tôi biết chuyện gì đang diễn ra.”
“Tôi thề là tôi sẽ nói, nhưng tôi cần biết liệu chúng ta có còn gặp nguy hiểm không.”
Sandra ngó xung quanh, nhìn thấy một thứ xem ra là áo lót – dĩ nhiên không phải của ông ta, nó đang được vắt trên tay của một chiếc ghế tựa. “Khoan đã, tôi đang ở đâu? Chỗ này là chỗ nào?”
Shalber đoán được ánh mắt của cô và đi ra cất chiếc áo lót. “Xin lỗi vì sự lộn xộn. Đây là chỗ của Interpol, chúng tôi dùng nó làm nhà khách. Ở đây người vào người ra thường xuyên. Nhưng cô đừng lo, chúng ta đã an toàn.”
“Làm thế nào chúng ta tới được đây?”
“Tôi đã phải bắn vài phát, không chắc là đã trúng tên đó, nhưng chúng ta rời khỏi nhà thờ mà không hề hấn gì. Cõng cô ra trên vai quả là không dễ chút nào. Rất may trời mưa như trút nước, tôi mới có thể cho cô lên xe mà không ai hay biết gì. Sẽ rất phức tạp nếu phải giải thích cho một tay cảnh sát giao thông hay cảnh sát tuần tra.”
“Vậy ra đây là điều duy nhất làm ông lo lắng ư?” Rồi cô nghĩ lại: “Khoan đã, tại sao chúng ta có thể vẫn còn gặp nguy hiểm?”
“Vì kẻ muốn giết cô chắc chắn sẽ lại tấn công chúng ta.”
“Ai đó đã để lại dưới cửa phòng khách sạn cho tôi tấm ảnh thánh với một lời nhắn. Có cái gì quan trọng ở gian thờ Thánh Raimondo di Peñafort vậy?.”
“Chẳng có gì cả, đó chỉ là một cái bẫy.”
“Sao ông biết được?”
“Nếu không David sẽ phải nhắc tới nó trong những manh mối để lại cho cô.”
Lời khẳng định đó có sức mạnh ngăn chặn bất cứ sự phản đối nào của Sandra. Cô ngạc nhiên. “Ông biết vụ điều tra của David?”
“Tôi biết nhiều chuyện, nhưng tất cả phải đợi thời gian thích hợp.”
Shalber đứng dậy và đi sang phòng bên cạnh. Sandra nghe thấy tiếng bát đĩa. Lát sau ông ta quay lại với một cái khay trên đó có trứng chưng, mứt, bánh mì nướng cùng một bình cà phê đang bốc khói.
“Cô phải cho thứ gì đó vào bụng nếu không khó có thể bình phục.”
Đúng là đã hơn hai mươi tư tiếng qua cô chưa ăn uống gì. Trông thấy khay thức ăn cô bỗng thấy thèm. Shalber giúp cô ngồi dựa lưng vào vài cái gối, rồi đặt vào lòng cô khay thức ăn. Trong lúc cô ăn, ông ta ngồi bên cạnh, duỗi chân trên giường và khoanh tay. Cho đến vài giờ trước, mối quan hệ của họ còn khách sáo, nhưng giờ có vẻ như đã thân mật hơn. Sự tọc mạch của người đàn ông đó làm cô khó chịu nhưng cũng chẳng nói lên gì cả.
“Sáng nay cô quá mạo hiểm. Cô thoát chết vì tiếng chuông điện thoại của tôi làm tay súng căng thẳng.”
“Vậy ông là…” Cô nói với miệng đầy thức ăn.
“Làm sao cô có được số điện thoại này? Tôi thường dùng số khác để gọi cho cô.”
“Tôi phát hiện ra nó vì David đã gọi cho ông từ khách sạn.”
“Chồng cô là loại cứng đầu và tôi chẳng thích anh ta chút nào,” ông ta phán xét.
Sandra cáu tiết khi nghe ông ta nói về anh theo kiểu đó. “Ông không thể biết anh ấy là người như thế nào.”
“Anh ta là loại thích gây phiền nhiễu,” ông ta tiếp tục. “Nếu tin tôi hẳn anh ta đã còn sống.”
Giận dữ, Sandra dịch cái khay sang một bên và định đứng dậy. Nỗi tức giận làm cô quên mất cơn chóng mặt.
“Cô đi đâu vậy?”
“Tôi không thể chịu nổi việc một kẻ xa lạ phát ngôn ra những lời lẽ đó.” Vẫn còn lảo đảo, cô đi xung quanh chiếc giường để tìm đôi giày thể thao.
“Thôi được, cô có thể tự do ra khỏi đây,” ông ta chỉ cho cô lối ra. “Nhưng hãy đưa tôi những manh mối mà David để lại cho cô.”
Sandra nhìn ông ta ngỡ ngàng. “Tôi không cho ông thứ gì hết!”
“David bị sát hại vì anh ta đã phát hiện ra một người.”
“Tôi nghĩ là mình đã gặp hắn ta.”
Shalber đứng dậy và lại gần cô, buộc cô phải nhìn ông ta. “Cô đã gặp hắn ta là sao?”
Sandra đang buộc dây giày, nhưng cô dừng lại. “Tối qua.”
“Ở đâu?”
“Ông hỏi gì lạ vậy! Nơi dễ chạm mặt nhất với một linh mục chỉ có thể là nhà thờ.”
“Người đàn ông đó không phải là một linh mục bình thường.” Với lời khẳng định đó, Shalber đã thu hút toàn bộ sự chú ý của cô. "Hắn ta là linh mục ân giải."
Shalber lại gần cửa chớp. Ông ta mở toang chúng ra và ngắm những đám mây đen đang có ý định tái chiếm Roma. “Đâu là kho dữ liệu tội phạm lớn nhất thế giới?” Ông ta hỏi cô.
Sandra bối rối. “Tôi không biết nữa… Tôi đoán là của Interpol.”
“Sai rồi.” Shalber phản đối, ông ta quay lại với nụ cười thỏa mãn.
“FBI?”
“Cũng chẳng phải. Nó nằm ở Italia. Chính xác hơn là ở Vatican.”
Sandra vẫn chưa hiểu. Nhưng cô có cảm giác rằng nó phụ thuộc vào cô. “Giáo hội thì cần một kho dữ liệu tội phạm để làm gì?”
Shalber mời cô ngồi lại trong khi đi tìm lời giải thích cho cô. “Thiên Chúa giáo là tôn giáo duy nhất thực hiện nghi lễ xưng tội: Giáo dân kể lại tội lỗi của chính mình với một vị đại sứ của Chúa trời, đổi lại sẽ nhận được sự tha tội. Tuy nhiên, đôi khi tội lỗi trầm trọng đến mức một thầy tu bình thường không thể rửa hết tội. Những trường hợp đó được gọi là tội trọng, nghĩa là cố tình phạm một lỗi nặng với đầy đủ ý thức.”
“Như giết người chẳng hạn.”
“Chính xác. Trong những trường hợp này thầy tu sẽ chép lại lời xưng tội và chuyển lên cấp cao hơn: một hội đồng giám mục cao cấp sẽ được triệu họp ở Roma để xét xử những vấn đề này.”
Sandra ngạc nhiên. “Một cơ quan phán xét những tội lỗi của con người.”
“Tòa án linh hồn.”
Chỉ nghe qua cái tên đã thấy mức độ nghiêm trọng của nhiệm vụ, Sandra thầm nghĩ. Ai biết được những bí mật nào đã được chuyển qua cơ quan đó. Cuối cùng cô cũng hiểu mối quan tâm của David và điều đã thúc đẩy anh điều tra.
Shalber nói tiếp: “Nó được thành lập vào thế kỷ thứ mười hai, mang tên Tòa Ân Giải Tối Cao với một mục đích đơn giản hơn: Vào thời đó có một lượng người hành hương đột biến tới Thành phố Vĩnh hằng* để viếng thăm những Vương cung thánh đường nhưng đồng thời cũng để được ban ơn xá giải tội lỗi của họ.”
“Sự kiện mở màn cho giai đoạn lịch sử nổi tiếng của những Ơn Xá.”
“Đúng vậy. Có những kiểm duyệt dành riêng cho Đức Giáo hoàng, cũng như những miễn trừ và ân huệ mà chỉ có người lãnh đạo tối cao của Giáo hội mới có thể ban tặng. Nhưng với Giáo hoàng, đó là một nhiệm vụ quá lớn. Vì thế ngài bắt đầu ủy thác cho một vài hồng y, những người này sau đó đã lập nên giáo đoàn ân giải.”
“Tôi không hiểu việc này thì liên quan thế nào tới thời đại của chúng ta…”
“Thoạt tiên, một khi tòa án ra phán quyết, những bản ghi lời xưng tội sẽ bị đem đốt. Nhưng chỉ vài năm sau, các linh mục ân giải quyết định xây dựng một kho dữ liệu bí mật… Và công trình của họ không bao giờ ngưng nghỉ.”
Sandra bắt đầu hiểu ra tầm quan trọng của công việc đó.
Shalber tiếp tục: “Gần một nghìn năm nay, nơi đó lưu trữ những tội lỗi tồi tệ nhất của nhân loại. Đôi lúc đó là những tội ác mà không ai có thể biết được. Đến đây cũng cần nói thêm rằng xưng tội là một hành vi không do xúi giục mà là tự phát của người phạm tội, vì thế nó luôn chân thành. Và như vậy, Tòa Ân Giải Tối Cao không chỉ là một kho dữ liệu đơn thuần lưu trữ những trường hợp điển hình như bất kỳ kho dữ liệu nào của cảnh sát trên thế giới.”
“Vậy thì nó là cái gì?”
Đôi mắt xanh lá cây của Shalber lấp lánh. “Nó là kho lưu trữ rộng lớn và cập nhật nhất hiện có về tội ác.”
Sandra vẫn muốn hiểu cặn kẽ hơn. “Là thứ có liên quan đến quỷ sứ? Những linh mục đó là ai, là những thầy phù thủy chăng?”
“Không, cô nhầm rồi,” ông vội vã chỉnh cô. “Những linh mục ân giải không quan tâm đến sự tồn tại của quỷ. Họ sử dụng hướng tiếp cận khoa học: họ là những profiler thực thụ. Kinh nghiệm của họ được tích lũy qua từng năm tháng nhờ vào kho lưu trữ. Cùng với thời gian, ngoài những lời xưng tội của kẻ sám hối, họ đã bắt đầu thu thập những điển cứu chi tiết của tất cả những vụ phạm tội. Họ nghiên cứu, phân tích và tìm cách giải mã chúng như một nhà tội phạm học hiện đại thường làm.”
“Ông muốn nói rằng họ cũng phá án?”
“Đôi khi cũng xảy ra.”
“Và cảnh sát không biết tí gì về tất cả chuyện này.”
“Họ rất giỏi giữ bí mật của mình, xét cho cùng họ làm được việc đó đã hàng thế kỷ nay.”
Sandra lại gần khay thức ăn và rót một tách đầy cà phê. “Họ hoạt động như thế nào?”
“Ngay khi họ tìm ra lời giải cho một bí ẩn, họ tìm cách truyền thông tin đó một cách nặc danh cho những người có thẩm quyền. Đôi khi họ sẽ can thiệp.”
Shalber đi ra lấy một chiếc ca-táp ở góc nhà và mở nó ra để tìm kiếm thứ gì đó. Sandra nghĩ ngay đến những địa chỉ trong quyển sổ của David mà anh có được nhờ việc bắt tần số của cảnh sát: Vì thế mà chồng cô tìm kiếm vị linh mục đó tại hiện trường những vụ án.
“Đây rồi,” tay nhân viên Interpol thốt lên, trong tay ông ta là một tập hồ sơ. “Vụ án của cậu bé Matteo Ginestra ở Torino. Đứa trẻ bị mất tích, người mẹ nghĩ rằng bố đứa bé đã bắt cóc con: Họ đã ly dị và người chồng không đồng ý với phán quyết của tòa án về quyền nuôi con. Người đàn ông thoạt đầu không khai gì nhưng sau đó đã phủ nhận việc giấu đứa con để buộc nó xa mẹ.”
“Vậy thì kẻ nào đã làm việc ấy?”
“Trong lúc cảnh sát cương quyết đi theo hướng đó, đứa trẻ đã xuất hiện mà không hề hấn gì. Người ta phát hiện ra rằng bắt cóc cậu bé là một đám trẻ lớn hơn, đều xuất thân trong gia đình tử tế. Chúng giam cậu bé trong một căn nhà bỏ hoang với ý định giết cậu. Chỉ để cho vui, hay thỏa chí tò mò. Đứa trẻ đã kể lại rằng ai đó đã cứu cậu bằng cách đột nhập vào ngôi nhà và mang cậu đi.”
“Có thể là bất kỳ ai, sao cứ phải là một linh mục?”
“Cách chỗ đó không xa, họ tìm thấy các tờ giấy có viết chi tiết về những gì đã diễn ra. Một trong những thiếu niên có liên quan thấy cắn rứt lương tâm và thú tội với một cha cố trong xứ đạo của mình. Trên những tờ giấy đó có lời xưng tội và ai đó đã làm thất lạc chúng”. Shalber đưa cho cô tài liệu.“Cô hãy đọc chữ viết ở bên mép.”
Sandra đọc: “Đó là một mã số: c.g.764-9-44. Cái gì vậy?”
“Đó là cách ghi số hồ sơ của những linh mục ân giải. Theo tôi những con số là ký hiệu thông thường, nhưng những chữ cái có dấu chấm đó nghĩa là culpa gravis*. ”
“Tôi không hiểu: Vụ điều tra của David về họ bắt nguồn từ nguyên do nào?”
“Reuters đã phái anh ấy đến Torino để lấy tin về vụ việc xảy ra. Chính anh ấy đã tìm thấy những tập hồ sơ đó trong lúc chụp ảnh. Tất cả bắt đầu từ đó.”
“Thế Interpol thì có liên quan gì?”
“Ngay cả khi cô thấy đó là việc tốt, điều mà những linh mục ân giải làm là bất hợp pháp. Hoạt động của họ không có biên giới cũng chẳng có luật lệ”
Sandra đi ra rót tách cà phê thứ hai và dừng lại nhâm nhi, quan sát Shalber. Có lẽ ông ta đang chờ đợi cô nói tiếp điều gì đó. “Chính David đã phát hiện ra các ông, phải không?”
“Chúng tôi biết nhau nhiều năm trước ở Vienne. Anh ấy làm một phóng sự, tôi đã chuyển thông tin mật cho anh ấy. Khi bắt đầu điều tra về những linh mục ân giải, anh ấy nhận ra rằng hoạt động của họ mở rộng ra cả bên ngoài lãnh thổ của Ý, vì thế có thể cả Interpol cũng quan tâm. Anh ấy đã gọi cho tôi vài lần từ Roma, giải thích với tôi về những gì mình đã phát hiện được cho đến thời điểm đó. Rồi anh ấy chết. Nhưng nếu anh ấy chỉ cách cho cô có thể tìm được số điện thoại của tôi, có nghĩa là anh ấy muốn cô gặp tôi. Tôi có thể làm nốt công việc của anh ấy. Vậy thì, những manh mối đang ở đâu?”
Sandra chắc chắn rằng Shalber đã lục soát người cô khi cô bất tỉnh, như việc ông ta lột súng của cô, và vì vậy ông ta đã biết cô không hề mang chúng theo. Nhưng cô không muốn trao chúng cho ông ta một cách dễ dàng như vậy. “Chúng ta phải tiến hành cùng nhau.”
“Không được, hãy quên điều đó đi. Cô hãy bắt chuyến tàu đầu tiên và trở về Milan. Ai đó muốn giết cô và cô sẽ không an toàn khi còn ở thành phố này.”
“Tôi là một sĩ quan cảnh sát. Tôi biết bảo vệ bản thân và tôi biết tiếp tục một cuộc điều tra như thế nào, nếu điều này làm ông bận tâm”
Shalber bắt đầu bước đi căng thẳng trong phòng. “Tôi làm việc một mình sẽ dễ hơn.”
“Thế thì lần này ông phải xem xét lại phương pháp của mình.”
“Đồ ngang bướng.” Ông ta đứng thù lù trước mặt cô và giơ một ngón trỏ. “Với một điều kiện duy nhất.”
Sandra ngước mắt nhìn trời. “Phải, tôi biết rồi. Ông là sếp và tôi sẽ chỉ được làm những việc ông bảo.”
Shalber sửng sốt. “Làm thế nào mà cô…”
“Tôi thừa biết những tác động của chất testosterone lên bản ngã của đàn ông. Thế nào, chúng ta bắt đầu từ đâu đây?”
Shalber lại gần một cái ngăn kéo, lấy ra khẩu súng đã tịch thu của cô và trả lại nó cho cô. “Họ quan tâm tới những hiện trường vụ án, phải không? Tối qua khi tôi tới thành phố, tôi đã đi đến chỗ ngôi biệt thự mà cảnh sát đang tiến hành khám xét. Tôi đã đặt một vài máy nghe lén nhỏ với hy vọng những linh mục ân giải sẽ xuất hiện ngay khi đội Khoa học hình sự bỏ lại hiện trường. Trước lúc bình minh, tôi đã ghi âm được một cuộc nói chuyện. Họ có hai người, tôi không biết là ai. Trong cuộc đối thoại, họ có nhắc tới vụ án của một tên tấn công hàng loạt có tên là Figaro.”
“Được rồi, tôi sẽ cho ông xem những manh mối của David. Rồi chúng ta sẽ tìm cách khám phá ra điều gì đó về tên Figaro này.”
“Tôi thấy đó là một kế hoạch tuyệt vời.”
Sandra nhìn thẳng vào Shalber, cô không còn trong tư thế phòng vệ. “Kẻ nào đó đã sát hại chồng tôi và chúng đã cố làm thế với tôi sáng nay. Tôi không biết chúng có phải là cùng hội không và tất cả chuyện này có liên quan gì đến những linh mục ân giải. Có lẽ David đã đi quá xa với cuộc điều tra của anh ấy.”
“Nếu tìm thấy chúng, chúng sẽ nói cho ta biết điều đó.”
← Thành phố Roma.
← Tiếng Latin: tội trọng.